Xu Hướng 12/2022 # Ung Thư Vòm Họng: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị Tai Mũi Họng / 2023 # Top 17 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Ung Thư Vòm Họng: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị Tai Mũi Họng / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Ung Thư Vòm Họng: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị Tai Mũi Họng / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bệnh ung thư vòm họng (NPC – Nasopharyngeal Carcinoma) ở nước ta có tỷ lệ cao, đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư đầu cổ, đứng hàng thứ 5 trong các bệnh ung thư nói chung. Nhưng các triệu chứng lại không điển hình hầu hết là các triệu chứng “mượn” của các cơ quan lân cận như: tai, mũi, thần kinh, hạch…do đó việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn. Cần phát hiện sớm, điều trị kịp thời để cứu sống bệnh nhân.

Giải phẫu vòm họng

Cấu tạo giải phẫu: vòm họng còn gọi là họng mũi, thuộc lá thai trong có cấu trúc là một hình hộp có sáu mặt.

Mặt trước là cửa mũi sau.

Hai bên là loa vòi nhĩ cách đuôi cuốn mũi dưới khoảng 1 cm, xung quanh loa vòi có tổ chức bạch huyết gọi là amiđan Gerlach. Phía trên gờ vòi nhĩ hai bên có hố Rosenmuler.

Mặt trên là bờ dưới của thân xương bướm và mảnh nền của xương chẩm. Ở mặt này tổ chức bạch huyết tập trung thành đám gọi là amiđan Luschka. Khi tổ chức này quá phát được gọi là viêm V.A.

Mặt dưới thông với họng miệng.

Mạch máu nuôi dưỡng: là động mạch bướm khẩu cái, xuất phát từ động mạch hàm trong (là 1 trong 2 ngành cùng của động mạch cảnh ngoài).

Tổ chức học: phần trên được cấu tạo bởi biểu mô trụ đơn có lông chuyển thuộc niêm mạc đường hô hấp. Phía dưới là lớp biểu mô lát tầng thuộc niêm mạc đường tiêu hoá.

Lịch sử nghiên cứu về ung thư vòm họng

Trong nghiên cứu các xác ướp ở Ai Cập, Elliot Smith đã phát hiện được hai sọ người có tổn thương ở nền sọ như thương tổn của bệnh ung thư vòm họng.

Theo Fardel năm 1837 ở châu Âu đã có những bệnh án đầu tiên của bệnh nhân có bệnh cảnh giống ung thư vòm họng.

Tại Việt Nam cố giáo sư Trần Hữu Tước đã nghiên cứu trên 612 bệnh nhân ung thư vòm họng tại Bệnh viện Bạch Mai (1955 – 1964).

Dịch tễ học

Thế giới: ung thư vòm mũi họng xuất hiện nhiều ở Trung Quốc, Châu Phi và một số nước Đông nam Á, rất hiếm gặp ở Châu Âu, Châu Mỹ. Đặc biệt là vùng Quảng Đông (Trung Quốc) gặp nhiều với tỷ lệ: 30-45 bệnh nhân/100.000 dân/năm. Người ta còn gọi ung thư vòm họng là “U Quảng Đông”.

Việt Nam: vẫn chưa có một thống kê đầy đủ, chính xác. Nhưng theo thống kê của Bệnh viện K-Hà Nội (1998) thì ung thư vòm họng đứng hàng thứ 4, 5 sau ung thư phổi, tử cung buồng trứng, vú, ung thư gan và là bệnh đứng đầu trong các ung thư vùng đầu, cổ với tỷ lệ: 9-11 bệnh nhân/100.000 dân/năm.

Giới tính hay gặp ở nam giới, tỷ lệ nam/nữ: 2-3/1.

Tuổi: bệnh thường xuất hiện từ 20 tới 65 tuổi, sau 65 tuổi tỷ lệ bệnh giảm dần.

Yếu tố môi trường: bao gồm điều kiện vi khí hậu, bụi khói, tình trạng ô nhiễm và tập quán ăn uống (ăn cá muối, tương, cà và những chất mốc… do những thứ này chứa Nitrosamine chất gây ung thư).

Yếu tố gen di truyền: gần đây có một số tác giả cho rằng những người cùng huyết thống có khả năng cùng mắc bệnh ung thư vòm họng. Ngành di truyền học đã tìm thấy khoảng 30 gen ung thư nội sinh. Những gen này bình thường ở trạng thái tự động đóng lại và nằm im nhưng nếu có một cơ chế cảm ứng nào đó, gen ung thư sẽ thức dậy và gây nên hiện tượng phát triển vô tổ chức tạo ra ung thư.

Tuy nhiên nhiều tác giả cho rằng căn nguyên của ung thư vòm họng không phải là đơn độc mà do nhiều yếu tố cùng tác động gây nên. Vì vậy công tác phòng chống ung thư vòm họng phải làm ở nhiều khâu, nhiều lĩnh vực khác nhau mới mang lại kết quả.

Mô bệnh học

Theo phân loại của (WHO – 1978):

Hay gặp nhất là ung thư biểu mô không biệt hoá (UCNT-Undifferenciated carcinoma nasopharynngeal type) chiếm 75% – 85%.

Loại ung thư biểu mô biệt hoá (CS-Carcinoma spinocellulaire) chiếm 10% – 15%.

Ung thư liên kết (Sarcoma) hiếm gặp khoảng: 5%.

Hạch cổ khi sinh thiết làm giải phẫu bệnh lý: đồng nhất với kết quả giải phẫu bệnh lý của vòm họng (nguyên phát).

Giai đoạn đầu

Các triệu chứng âm thầm nên rất khó phát hiện. Đau đầu là triệu chứng sớm, thường đau nửa đầu, từng cơn hoặc âm ỉ. Dùng các thuốc giảm đau ít có tác dụng.

Giai đoạn khu trú

Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng thần kinh: hay gặp nhất là đau đầu, đau nửa đầu hoặc đau sâu trong hốc mắt, vùng thái dương và xuất hiện tổn thương các dây thần kinh sọ não trong trường hợp bệnh nhân đến muộn như: có cảm giác tê bì ở miệng và vùng mặt cùng với bên đau đầu do dây thần kinh tam thoa bị chèn ép.

Triệu chứng mũi xoang: ngạt mũi một bên, cùng với bên đau đầu, lúc đầu ngạt không thường xuyên sau ngạt liên tục. Hay gặp nhất là chảy mũi nhầy, có thể chảy mũi mủ do viêm xoang phối hợp, thỉnh thoảng có xì ra nhầy lẫn máu.

Triệu chứng tai (khối u xuất phát từ thành bên họng mũi, loa vòi): có cảm giác tức như bị nút ráy tai cùng bên với đau đầu. Ù tai, nghe kém thể dẫn truyền đơn thuần (do bị tắc vòi Eustachi). Có thể gặp viêm tai giữa cùng bên do bội nhiễm.

Triệu chứng hạch cổ và hạch dưới hàm: phần lớn bệnh nhân đến khám vì xuất hiện hạch cổ, thường hạch cổ cùng bên với khối u. Dễ chẩn đoán nhầm là ung thư hạch tiên phát. Hạch điển hình hay nhìn thấy ở sau góc hàm, dãy hạch cảnh trên, hạch lúc đầu nhỏ sau to dần, hạch cứng, ấn không đau, không có viêm quanh hạch, di động hạn chế dần. Sau cố định dính vào cơ, da.

Triệu chứng thực thể

Soi mũi trước không có gì đặc biệt.

Soi mũi sau có thể thấy khối u sùi hoặc thâm nhiễm ở nóc vòm hay thành bên vòm, ở gờ loa vòi Eustachi.

Sờ vòm bằng tay hay thăm bằng que bông có rớm máu.

Giai đoạn lan tràn

Triệu chứng toàn thân: thể trạng đã suy giảm, kém ăn, mất ngủ, gầy sút, thiếu máu, da màu rơm, hay bị sốt do bội nhiễm.

Triệu chứng cơ năng và thực thể: tùy theo hướng lan của khối u sẽ xuất hiện các triệu chứng khác nhau.

Lan ra phía trước

Thường gặp khối u ở nóc vòm, cửa mũi sau.

U lan vào hốc mũi gây nên ngạt tắc mũi. Lúc đầu ngạt một bên về sau khối u phát triển lấp kín cửa mũi sau gây ngạt tắc hai bên mũi, nói giọng mũi. Chảy mũi mủ có mùi hôi rõ, thường lẫn tia máu, có khi chảy máu cam.

Khám mũi: thấy khối u sùi, ở sâu sát cửa mũi sau, thường có loét hoại tử, dễ chảy máu.

Lan ra hai bên: khối u ở loa vòi, lan theo vòi Eustachi ra tai giữa.

Ù tai, nghe kém một bên rõ rệt.

Đau trong tai lan ra vùng xương chũm.

Chảy mủ tai lẫn máu, có mùi thối, có khi lẫn mảnh tổ chức hoại tử.

Soi tai: màng nhĩ thủng, có u sùi, hoại tử, dễ chảy máu, u có thể qua hòm nhĩ và lan ra ống tai ngoài.

Lan xuống dưới

U lan xuống dưới đẩy phồng màn hầu là ảnh hưởng đến giọng nói (giọng mũi hở), nuốt hay bị sặc.

U có thể tới miệng, thường ở sau trụ sau của amiđan.

Có thể gặp hội chứng Trotter: điếc, khít hàm, liệt màn hầu.

Lan lên trên

Ung thư lan lên nền sọ gây các hội chứng nội sọ như: tăng áp lực nội sọ và các hội chứng thần kinh khu trú:

Hội chứng khe bướm: liệt các dây thần kinh III, VI và nhánh mắt của dây V gây liệt các cơ vận nhãn, đau nhức vùng trán và ổ mắt.

Hội chứng mỏm đá: liệt các dây thần kinh V, VI gây lác trong, khít hàm, tê bì nửa mặt.

Hội chứng đá-bướm hay hội chứng Zacod: liệt các dây thần kinh II, III, IV,V, VI gây mù mắt, liệt toàn bộ nhãn cầu, liệt cơ nhai, gây tê bì nửa mặt.

Hội chứng lỗ rách sau hay hội chứng Vernet: liệt các dây thần kinh IX, X, XI gây liệt họng, liệt màn hầu, có dấu hiệu vén màn hầu, giọng nói đôi, liệt cơ ức đòn chũm, cơ thang.

Hội chứng lồi cầu-lỗ rách sau hay hội chứng Collet-Sicard: liệt các dây thần kinh IX, X, XI, XII và liệt lưỡi.

Hội chứng Garcin: toàn bộ 12 đôi dây thần kinh sọ não một bên bị liệt.

Chẩn đoán

Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờ và được khám tỉ mỉ vòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thể thấy một tổ chức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu.

Sinh thiết khối u

Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý, là yếu tố chẩn đoán xác định.

Chẩn đoán tế bào học

Có ý nghĩa định hướng (tế bào tại vòm họng hoặc tại hạch cổ).

Chẩn đoán huyết thanh

Chẩn đoán X- quang

Tư thế Hirtz.

C.T.Scan vùng vòm họng, nền sọ: đánh giá sự lan tràn và phá hủy của khối u lên nền sọ.

Chẩn đoán phóng xạ

Có thể chẩn đoán sớm được kích thước khối u, chẩn đoán được tình trạng di căn xa của bệnh.

Chẩn đoán giai đoạn

Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union internationale contre le cancer) – 1987 xếp loại giai đoạn UTVH.

Phân loại T.N.M. T (Tumor): khối u nguyên phát:

Tx: không rõ khối u.

Tis: (insitu) khối u nhỏ khu trú dưới niêm mạc.

To: không có u (soi vòm chưa thấy khối u).

T1: khối u khu trú ở 1 vị trí giải phẫu.

T2: khối u đã lan ra 2 vị trí khác.

T3: khối u lan vào hốc mũi, xuống dưới màn hầu.

T4: khối u đã phá huỷ xương nền sọ hoặc gây tổn tương các dây thần kinh sọ não.

No: không sờ thấy hạch cổ.

N1: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 3 cm.

N2: hạch cổ phân làm 3 mức.

N2a: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT: 3 – 6 cm.

N2b: nhiều hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 6 cm.

N2c: hạch cổ 2 bên hoặc đối bên, di động, KT< 6 cm.

Mo: chưa xuất hiện di căn xa.

M1: đã xuất hiện di căn xa (căn cứ vào X-quang và siêu âm để chẩn đoán).

Phân loại giai đoạn lâm sàng

Giai đoạn I: T1NoMo.

Giai đoạn II: T2NoMo.

Giai đoạn III: T3NoMo, T1-3N1Mo.

Giai đoạn IV: T4No-1Mo, N2-3Mo và các T.

M1 (các T và các N).

Chẩn đoán phân biệt

U xơ vòm mũi họng.

Polyp mũi sau.

Tồn dư tổ chức V.A.

Diễn biến và tiên lượng

Giai đoạn đầu

Khu trú, tiến triển chậm, ít ảnh hưởng tới toàn thân, thường kéo dài 1- 2 năm nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời đúng phác đồ có thể khỏi bệnh.

Giai đoạn lan tràn

Ảnh hưởng tới toàn thân rõ, tiến triển nhanh thường tử vong do khối u lan lên nền sọ, do di căn tới các phủ tạng như phổi, gan, xương.

Do khối u nằm trong hốc sâu, gần nền sọ, nên điều trị khó khăn, kết quả bị hạn chế, tiên lượng xấu.

Co60 là biện pháp điều trị chủ yếu và cho kết quả khả quan nếu bệnh nhân đến sớm, nhất là đối với thể ung thư biểu mô không biệt hoá.

U nguyên phát được tia vào vùng cổ bên, với liều 65-70Gy trong vòng từ 6 đến 7 tuần.

Các hạch cổ hoặc dưới hàm được tia với liều 50Gy trong thời gian 6 đến 7 tuần.

Cắm kim vào u và hạch trong trường hợp xạ ngoài đã đủ liều nhưng khối u chưa hết.

Phẫu thuật

Phẫu thuật nạo vét hạch cổ trước hoặc sau xạ trị.

Hoá trị liệu

Chỉ áp dụng với thể ung thư biểu mô không biệt hoá hoặc hạch cổ đã lan rộng và có di căn xa.

Miễn dịch trị liệu

Tác dụng tăng sức đề kháng và hỗ trợ trong xạ trị.

Phòng bệnh ung thư vòm mũi họng

Hiện nay người ta cho rằng: 70 % nguyên nhân ung thư do yếu tố ngoại lai, còn 30% do yếu tố nội tại và do yếu tố di truyền cho nên: phải có chế độ ăn hợp lý, giảm mỡ động vật, ít ăn thịt thay bằng rau hoa quả có nhiều Vitamin C, E.

Ung Thư Biểu Mô Mũi Họng: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị / 2023

Ung thư biểu mô mũi họng là ung thư xảy ra ở vòm mũi họng, nó nằm ở sau mũi và ở trên phần sau của họng. Vòm họng là phần trên của họng, một hình ống trải rộng từ phía sau mũi tới đỉnh của khí quản và thực quản trong vùng cổ.

Ung thư biểu mô mũi họng xảy ra nhiều ở vùng Đông Nam á và Bắc Phi. ở các nước Âu Mỹ, bệnh chiếm tỷ lệ thấp. Bệnh cũng thường gặp ở Việt nam, và gặp nhiều nhất trong các ung thư vùng đầu cổ. Bệnh cũng là nguyên nhân gây tử vong ở nhiều người. Hàng năm, bệnh viện K Hà nội đã điều trị cho khoảng 500 bệnh nhân mới và đứng hàng thứ 5 trong 10 bệnh ung thư thường gặp.

Ung thư biểu mô mũi họng rất khó để phát hiện sớm. Điều này có thể do mũi họng không dễ dàng để kiểm tra và các triệu chứng của ung thư biểu mô mũi họng giống như nhiều tình trạng bệnh lý phổ biến khác.

Ung thư biểu mô mũi họng có thể gây nên những dấu hiệu và triệu chứng giống với nhiều bệnh. Do vị trí không lộ rõ, ung thư biểu mô vòm họng thường chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã lan tràn. Đáng tiếc vì ung thư biểu mô vòm họng thường được chẩn đoán muộn, nó cũng trở thành khó điều trị.

Ung thư bắt đầu khi một hoặc nhiều đột biến gen làm cho các tế bào bình thường phát triển ngoài tầm kiểm soát, xâm nhập vào cấu trúc xung quanh và cuối cùng lan tràn (di căn) đến các bộ phận khác của cơ thể. Trong ung thư biểu mô mũi họng, quá trình này bắt đầu ở các tế bào hình vảy lót bề mặt của vòm họng.

Nguyên nhân ung thư biểu mô mũi họng chính xác gây ra những đột biến gen dẫn đến ung thư biểu mô mũi họng chưa được biết rõ, mặc dù các yếu tố như virus Epstein-Barr làm tăng nguy cơ ung thư này đã được xác định. Tuy nhiên, chưa giải thích được lý do tại sao một số người có tất cả các yếu tố nguy cơ mà không bao giờ mắc bệnh ung thư, trong khi những người khác không có yếu tố nguy cơ lại mắc bệnh.

Trong nhiều trường hợp không rõ là nguyên nhân gì gây nên những đột biến gen dẫn đến ung thư biểu mô vòm họng, mặc dù những yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ với ung thư này đã được xác định. Tuy nhiên, cũng không rõ tại sao một số người có tất cả các yếu tố nguy cơ không bao giờ bị ung thư trong khi những người khác không có yếu tố nguy cơ rõ rệt lại bị ung thư.

Ung thư biểu mô mũi họng thường được phát hiện muộn do bệnh tiến triển âm thầm, các triệu chứng của bệnh không đặc thù, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác, hơn nữa vùng vòm ở sâu, là khu vực không dễ tiếp cận để thăm khám đối với các bác sỹ không chuyên khoa. Các triệu chứng của bệnh hầu hết là các triệu chứng “mượn” của các cơ quan lân cận và thường biểu hiện ở một bên:

Biểu hiện ở mũi: Ngạt tắc mũi, chảy mủ mũi, chảy máu mũi, nói giọng mũi.

Biểu hiện ở tai: U làm tắc vòi tai gây viêm tai giữa biểu hiện đau tai, ù tai, chóng mặt, nghe kém, có thể chảy mủ tai.

Biểu hiện ở mắt: Khu u lan rộng vào nền sọ, gây liệt các dây thần kinh chi phối hoạt động mắt biểu hiện lác mắt, lồi mắt, sụp mi, giảm thị lực…

Hạch cổ: Là dấu hiệu thường gặp, gặp ở 60-90% các trường hợp.

Ngoài ra còn có các biểu hiện toàn thân khác thường gặp như đau đầu nhiều, gầy sút cân trong thời gian ngắn, sốt kéo dài không rõ nguyên nhân… cũng cần phải được lưu ý.

Giới tính: Ung thư biểu mô mũi họng phổ biến ở nam giới hơn ở nữ giới.

Chủng tộc: Loại ung thư này phổ biến ở người Trung Quốc, Đông Nam Á và Bắc Phi. Tại Hoa Kỳ, những người nhập cư châu Á có nguy cơ mắc ung thư này cao hơn so với những người châu Á sinh ra ở Mỹ.

Tuổi tác: Ung thư mũi họng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng bệnh thường được chẩn đoán ở người trong độ tuổi từ 30 và 50.

Thực phẩm ướp muối để bảo quản: Các hóa chất giải phóng vào hơi nước khi nấu thức ăn ướp muối như cá và rau, có thể thâm nhập vào khoang mũi, làm tăng nguy cơ ung thư biểu mô vòm họng. Tiếp xúc với các hóa chất này từ khi còn nhỏ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn.

Bệnh sử gia đình: Có một thành viên trong gia đình bị ung thư mũi họng làm tăng nguy cơ của bệnh.

Hiện tại các nhà khoa học đang nỗ lực nghiên cứu để phát triển vắc xin phòng virus Epstein-barr, một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu của ung thư vòm. Trong khi chờ đợi các biện pháp phòng bệnh đặc hiệu như trên chúng ta có thể áp dụng các biện pháp khác để nâng cao sức khỏe nói chung, hạn chế các yếu tố nguy cơ khác của ung thư vòm như:

Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, có chế độ làm việc sinh hoạt hợp lý để nâng cao sức khỏe.

Không hút thuốc lá, hạn chế bia rượu chất kích thích, hạn chế ăn các thức ăn lên men như dưa muối, cà muối…

Điều trị sớm những viêm nhiễm ở đường mũi họng.

Khi phát hiện các dấu hiệu bất thường ở vùng tai mũi họng như đau đầu kéo dài, xì máu mũi, ù tai, hạch cổ to… nên đi khám chuyên khoa Tai Mũi Họng sớm để được nội soi vòm, loại trừ bệnh.

Khám sức khỏe và tìm hiểu bệnh sử: khám tổng quát để kiểm tra các dấu hiệu sức khỏe chung bao gồm kiểm tra các dấu hiệu của các hạch bạch huyết sưng ở cổ hoặc bất cứ dấu hiệu không bình thường. Tìm hiểu bệnh sử về những thói quen sức khỏe, bệnh lý trong quá khứ và các phương pháp điều trị đã trải qua.

Khám thần kinh: một loạt các câu hỏi và các xét nghiệm để kiểm tra não, tủy sống và chức năng thần kinh. Kiểm tra đánh giá trạng thái tinh thần, khả năng phối hợp, khả năng đi lại bình thường, đồng thời kiểm tra chức năng của cơ bắp, các giác quan và các phản xạ.

Sinh thiết: lấy mẫu tế bào hoặc mô và kiểm tra mẫu dưới kính hiển vi bởi một nhà nghiên cứu bệnh học nhằm kiểm tra các dấu hiệu của bệnh ung thư. Các mẫu mô được lấy ra từ các thủ thuật sau:

Soi mũi: là thủ thuật quan sát bên trong mũi để tìm ra các khu vực bất thường. Soi mũi là luồn qua mũi một dụng cụ mỏng hình ống có gắn đèn và một ống kính để quan sát. Nó có thể có kèm theo một dụng cụ để lấy mẫu mô. Các mô này được kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu của bệnh ung thư.

Nội soi cao: một thủ thuật giúp quan sát bên trong mũi, họng, thực quản, dạ dày, tá tràng (phần đầu của ruột non, gần dạ dày). Nội soi được đưa qua miệng, vào thực quản, dạ dày và tá tràng. Nội soi là một dụng cụ mỏng, hình ống có gắn đèn và một ống kính. Nó cũng có thể gắn với một dụng cụ để lấy mẫu mô. Các mẫu mô được kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu của bệnh ung thư.

MRI (chụp cộng hưởng từ): một thủ thuật sử dụng từ trường kết hợp với sóng radio và một máy tính để tạo một loạt các hình ảnh chi tiết về khu vực bên trong cơ thể. Thủ thuật này còn được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân (NMRI).

Chụp CT: là phương pháp chụp tạo ra một loạt các hình ảnh chi tiết về khu vực bên trong cơ thể từ các góc độ khác nhau. Những hình ảnh được hiển thị trên một máy tính kết nối với máy chụp X-quang. Một loại thuốc nhuộm có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc uống giúp các cơ quan hoặc mô hiện rõ hơn. Thủ thuật này còn được gọi là chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cắt lớp vi tính trục.

PET scan (Chụp cắt lớp vi tính bức xạ positron): Một thủ thuật để tìm ra các tế bào từ khối u ác tính trong cơ thể. Một lượng nhỏ phóng xạ glucose (đường) được tiêm vào tĩnh mạch. Máy quét PET xoay quanh cơ thể và tạo ra bức tranh toàn thể cách glucose được sử dụng trong cơ thể. Các tế bào ác tính hiển thị sáng hơn trong hình, vì chúng hoạt động mạnh hơn và dùng nhiều glucose hơn các tế bào bình thường. Chụp PET có thể được sử dụng để phát hiện ung thư mũi họng đã lây lan đến xương. Đôi khi, chụp PET và chụp CT được thực hiện cùng một lúc. Cách phối hợp này tăng khả năng phát hiện bệnh ung thư, nếu có.

Các xét nghiệm sinh hóa máu: là các xét nghiệm máu để định lượng một số chất nhất định lưu hành trong máu từ các cơ quan và các mô trong cơ thể. Một nồng độ bất thường (cao hơn hoặc thấp hơn so với bình thường) của một chất có thể là dấu hiệu của bệnh tật.

Xét nghiệm công thức máu (CBC): là thủ thuật rút mẫu máu để kiểm tra: Đếm số lượng tế bào hồng cầu, tế bào bạch cầu và tiểu cầu trong máu. Hàm lượng hemoglobin (các protein vận chuyển oxy) trong các tế bào hồng cầu. Tỷ lệ hồng cầu trong máu.

Kiểm tra virus Epstein-Barr (EBV): xét nghiệm máu để tìm kháng thể chống lại virus và ADN Epstein-Barr – dấu hiệu của virus Epstein-Barr có mặt trong máu. Các kháng thể này được tìm thấy trong máu của bệnh nhân bị nhiễm EBV.

Khám thính lực: kiểm tra khả năng nghe các âm thanh khác nhau từ nhỏ đến to, thấp đến cao. Mỗi tai được kiểm tra riêng.

Điều trị ung thư biểu mô mũi họng thường bắt đầu bằng xạ trị hoặc kết hợp bức xạ và hóa trị.

Xạ trị

Xạ trị là sử dụng chùm tia năng lượng cao như tia X-quang hoặc proton, để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Xạ trị cho ung thư biểu mô mũi họng thường được xử lý bằng thủ thuật gọi là chiếu tia bức xạ bên ngoài. Trong thủ thuật này, khi nằm trên bàn và một máy phân khối lớn chuyển động xung quanh, tia bức xạ được chiếu chính xác vào mục tiêu ung thư.

Đối với các khối u nhỏ ở mũi họng, xạ trị có thể là điều trị duy nhất cần thiết. Trong các trường hợp khác, xạ trị có thể được kết hợp với hóa trị. Tác dụng phụ của xạ trị bao gồm đỏ da tạm thời, giảm thính lực và khô miệng.

Một loại xạ trị khác gọi là bức xạ bên trong (trị liệu gần), đôi khi được sử dụng trong ung thư biểu mô mũi họng tái phát. Với phương pháp này, hạt hoặc dây phóng xạ được định vị trong khối u hoặc rất gần với khối u.

Xạ trị cho đầu và cổ, đặc biệt là khi kết hợp với hóa trị, thường gây lở loét nghiêm trọng ở cổ họng và miệng.

Hóa trị: hóa trị là điều trị bằng thuốc có sử dụng hóa chất để tiêu diệt các tế bào ung thư. Thuốc hóa trị liệu có thể được đưa vào dưới dạng thuốc viên, truyền tĩnh mạch hoặc cả hai. Hóa trị có thể được sử dụng để điều trị ung thư biểu mô mũi họng theo ba cách:

Hóa trị tại cùng thời điểm với xạ trị: khi hai phương pháp điều trị được kết hợp, hóa trị liệu tăng cường tính hiệu quả của xạ trị. Điều trị đồng thời này được gọi là điều trị phối hợp hoặc xạ hóa trị. Tuy nhiên, tác dụng phụ của hóa trị liệu kèm với các tác dụng phụ của xạ trị khiến bệnh nhân vô cùng khó chịu.

Hóa trị sau khi xạ trị: hóa trị được sử dụng để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư còn xót lại trong cơ thể kể cả những tế bào có thể bị vỡ ra từ khối u ban đầu và lây lan ra những nơi khác. Một số tranh cãi về việc hóa trị có thực sự cải thiện sự sống còn ở những người bị ung thư vòm họng hay không. Nhiều người trải qua hóa trị liệu sau khi điều trị đồng thời không thể chịu đựng được các tác dụng phụ và phải ngừng điều trị.

Hóa trị trước khi xạ trị: hóa trị liệu bổ trợ là điều trị hóa trị liệu trước khi xạ trị đơn thuần hoặc trước khi điều trị đồng thời. Cần nghiên cứu thêm để xác định xem hóa trị bổ trợ có thể cải thiện tỷ lệ sống sót ở những người bị ung thư vòm họng hay không.

Phẫu thuật: phẫu thuật không thường được sử dụng để điều trị ung thư vòm họng. Phẫu thuật có thể được sử dụng để loại bỏ ung thư hạch bạch huyết ở cổ.

Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể được sử dụng để loại bỏ một khối u từ vòm họng. Điều này thường đòi hỏi phẫu thuật viên phải thực hiện một vết rạch trong vòm miệng để tiếp cận vào khu vực này và loại bỏ các tế bào ung thư.

Ung Thư Bàng Quang: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị / 2023

Ung thư bàng quang: dấu hiệu triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán điều trị, Dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm máu trong nước tiểu, đi tiểu đau, thường xuyên đi tiểu, đau bụng, đau lưng.

Dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm máu trong nước tiểu, đi tiểu đau, thường xuyên đi tiểu, đau bụng, đau lưng.

Định nghĩa

Ung thư bàng quang là một loại ung thư bắt đầu trong bàng quang, một cơ quan hình cầu ở vùng xương chậu và chứa nước tiểu. Ung thư bàng quang bắt đầu thường xuyên nhất là các tế bào lót mặt trong của bàng quang. Ung thư bàng quang thường ảnh hưởng đến người lớn tuổi, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Phần lớn bệnh ung thư bàng quang được chẩn đoán ở giai đoạn đầu, khả năng điều trị bệnh ung thư bàng quang được là rất cao. Tuy nhiên, ngay cả giai đoạn đầu bệnh ung thư bàng quang có khả năng tái diễn. Vì lý do này, bệnh ung thư bàng quang thường trải qua các kiểm tra theo dõi để tìm tái phát ung thư bàng quang nhiều năm sau khi điều trị.

Các triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng ung thư bàng quang có thể bao gồm:

Tiểu ra máu – nước tiểu có thể xuất hiện màu vàng tối, màu đỏ tươi sáng hoặc màu cola, hay nước tiểu có thể bình thường, nhưng máu có thể được phát hiện trong kiểm tra kính hiển vi.

Thường xuyên đi tiểu.

Đi tiểu đau.

Nhiễm trùng đường tiểu.

Đau bụng.

Đau lưng.

Gặp bác sĩ nếu có bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng lo lắng, chẳng hạn như tiểu ra máu.

Nguyên nhân

Ung thư bàng quang phát triển khi các tế bào khỏe mạnh trong bàng quang, thay vì phát triển và phân chia một cách có trật tự, các tế bào này phát triển đột biến gây phát triển ra khỏi kiểm soát và không chết. Những tế bào này tạo thành một khối u bất thường.

Các loại ung thư bàng quang

Các loại tế bào ung thư bàng quang, xác định loại ung thư. Các loại tế bào khác nhau trong bàng quang có thể trở thành ung thư. Loại bệnh ung thư bàng quang xác định phương pháp điều trị có thể tốt nhất. Các loại ung thư bàng quang bao gồm:

Ung thư tế bào chuyển tiếp. Ung thư tế bào chuyển tiếp xảy ra ở các tế bào lót bên trong bàng quang. Các tế bào chuyển tiếp giãn khi bàng quang đầy đủ và co khi bàng quang trống. Những tế bào này cùng một dòng bên trong niệu quản và niệu đạo và các khối u có thể hình thành. Ung thư tế bào chuyển tiếp là loại phổ biến nhất của ung thư bàng quang.

Ung thư biểu mô tế bào vảy. Tế bào vảy xuất hiện trong bàng quang để phản ứng lại nhiễm trùng và kích thích. Theo thời gian có thể trở thành ung thư. Ung thư bàng quang tế bào vẩy là rất hiếm. Tế bào vẩy phổ biến hơn khi bị nhiễm ký sinh nhất định, một nguyên nhân phổ biến của nhiễm trùng bàng quang.

Ung thư tuyến (adenocarcinoma). Ung thư tuyến bắt đầu trong tế bào tạo nên các tuyến tiết ra chất nhầy trong bàng quang. Ung thư tuyến bàng quang là rất hiếm.

Một số ung thư bàng quang bao gồm nhiều hơn một loại tế bào.

Yếu tố nguy cơ

Không rõ những gì gây ra ung thư bàng quang, nhưng các bác sĩ đã xác định được các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Các yếu tố rủi ro bao gồm:

Lớn tuổi. Có nguy cơ tăng ung thư bàng quang theo độ tuổi. Ung thư bàng quang có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó hiếm khi được tìm thấy ở những người trẻ hơn 40.

Màu da. Người da trắng có nguy cơ ung thư bàng quang hơn là người của các chủng tộc khác.

Giới tính. Đàn ông có nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư bàng quang hơn so với phụ nữ.

Hút thuốc lá. Thuốc lá, xì gà có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang bằng cách gây ra các hóa chất độc hại tích tụ trong nước tiểu. Khi hút thuốc, quá trình các hóa chất trong khói và thải trong nước tiểu. Những hóa chất độc hại có thể gây hại niêm mạc của bàng quang, có thể làm tăng nguy cơ ung thư.

Đã điều trị ung thư. Điều trị với cyclophosphamide, thuốc chống ung thư làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang. Những người nhận được phương pháp điều trị phóng xạ nhằm vào xương chậu cho một bệnh ung thư trước đó có thể có nguy cơ cao mắc ung thư bàng quang.

Viêm bàng quang mạn tính. Nhiễm trùng đường tiểu hoặc viêm kinh niên hoặc lặp lại, chẳng hạn như có thể xảy ra với việc sử dụng lâu dài ống thông đường tiểu, có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang tế bào vảy. Ở một số vùng trên thế giới, ung thư biểu mô tế bào vảy được liên kết với viêm bàng quang mạn tính gây ra bởi nhiễm trùng ký sinh được gọi là bệnh sán máng.

Tiền sử cá nhân hay gia đình mắc bệnh ung thư. Nếu đã bị ung thư bàng quang, có nhiều khả năng có nó một lần nữa. Nếu một hoặc một số thân nhân có lịch sử bệnh ung thư bàng quang, có thể tăng nguy cơ của bệnh, mặc dù hiếm bệnh ung thư bàng quang trong gia đình. Lịch sử gia đình mắc bệnh ung thư đại trực tràng không polyp di truyền (HNPCC), còn gọi là hội chứng Lynch, có thể làm tăng nguy cơ ung thư trong hệ thống tiết niệu, cũng như trong đại tràng, tử cung, buồng trứng và các cơ quan khác.

Các biến chứng

Ung thư bàng quang thường tái phát Bởi vì điều này, người ung thư bàng quang sống sót thường trải qua thử nghiệm tiếp theo cho năm sau khi điều trị thành công. Các xét nghiệm sẽ trải qua và bao lâu sẽ tùy thuộc vào loại ung thư bàng quang và điều trị trong số những yếu tố khác.

Hãy hỏi bác sĩ để tạo ra một kế hoạch tiếp theo. Nhìn chung, các bác sĩ khuyên nên khám sàng lọc thành bên trong niệu đạo và bàng quang (soi bàng quang) mỗi 3 – 6 tháng trong bốn năm đầu tiên sau khi điều trị ung thư bàng quang .Sau đó có thể trải qua soi bàng quang mỗi năm. Bác sĩ có thể khuyên nên kiểm tra khác tại các khoảng khác nhau.

Những người bị bệnh ung thư giai đoạn muộn có thể trải nghiệm thường xuyên hơn.

Kiểm tra và chẩn đoán

Chẩn đoán ung thư bàng quang. Các xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán ung thư bàng quang có thể bao gồm:

Soi bàng quang. Trong soi bàng quang, bác sĩ chèn một ống thông (cystoscope) qua niệu đạo, cho phép bác sĩ nhìn thấy bên trong niệu đạo và bàng quang. Thường nhận được gây mê vùng trong quá trình soi bàng quang để làm cho thoải mái hơn.

Sinh thiết. Trong soi bàng quang, bác sĩ có thể thông qua một công cụ đặc biệt qua niệu đạo và vào bàng quang để thu thập mẫu tế bào nhỏ (sinh thiết) để thử nghiệm. Thủ tục này đôi khi được gọi là cắt bỏ một phần khối u bàng quang (TURBT). TURBT cũng có thể được dùng để điều trị ung thư bàng quang. TURBT thường được thực hiện dưới gây mê.

Tế bào học nước tiểu. Một mẫu nước tiểu được phân tích dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư trong thủ tục gọi là tế bào học nước tiểu.

Kiểm tra hình ảnh. Kiểm tra cho phép bác sĩ kiểm tra cấu trúc của đường tiết niệu. Có thể dùng chất nhuộm màu được tiêm vào tĩnh mạch. Pyelogram tĩnh mạch là một loại thử nghiệm hình ảnh X quang có sử dụng thuốc nhuộm để làm nổi bật thận, niệu quản và bàng quang. Chụp cắt lớp vi tính (CT scan) là một loại thử nghiệm X quang, cho phép bác sĩ xem đường tiết niệu và các mô xung quanh tốt hơn.

Mức độ ung thư bàng quang

Sau khi đã xác nhận bị ung thư bàng quang, bác sĩ có thể thử nghiệm thêm để xác định mức độ hoặc giai đoạn bị ung thư. Các kiểm tra có thể bao gồm:

CT scan.

Chụp cộng hưởng từ ( MRI ).

Chiếu xương.

X quang ngực.

Các giai đoạn của ung thư bàng quang là:

Giai đoạn I. Ung thư ở giai đoạn này xảy ra trong lớp lót bên trong của bàng quang, nhưng không xâm lấn cơ thành bàng quang.

Giai đoạn II. Ở giai đoạn này, ung thư đã xâm nhập vào thành bàng quang, nhưng vẫn còn giới hạn trong bàng quang.

Giai đoạn III. Các tế bào ung thư đã lan qua thành bàng quang để tới mô xung quanh. Nó cũng có thể đã lây lan đến tuyến tiền liệt ở nam giới hoặc tử cung hoặc âm đạo ở phụ nữ.

Giai đoạn IV. Giai đoạn này, tế bào ung thư có thể đã lây lan đến các hạch bạch huyết và các cơ quan khác như phổi, xương hoặc gan.

Phương pháp điều trị và thuốc

Phẫu thuật

Các loại thủ tục phẫu thuật có sẵn có thể dựa trên các yếu tố như giai đoạn của ung thư bàng quang, sức khỏe tổng thể và sở thích.

Phẫu thuật ung thư bàng quang giai đoạn đầu. Nếu ung thư rất nhỏ và không xâm lấn thành của bàng quang, bác sĩ có thể khuyên nên

Phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Sự cắt bỏ khối u bàng quang (TURBT) qua niệu đạo thường được sử dụng để loại bỏ bệnh ung thư bàng quang được giới hạn trong các lớp bên trong của bàng quang. Trong TURBT, bác sĩ qua một vòng dây nhỏ thông qua niệu đạo vào bàng quang. Vòng dây này được dùng để đốt tế bào ung thư với một dòng điện. Trong một số trường hợp, laser năng lượng cao có thể được sử dụng thay vì điện. TURBT có thể gây đi tiểu đau hoặc tiểu máu trong một vài ngày sau thủ thuật.

Phẫu thuật để cắt bỏ khối u và một phần nhỏ của bàng quang. Trong cắt bỏ bán phần bác sĩ phẫu thuật chỉ loại bỏ phần của bàng quang có chứa tế bào ung thư. Cắt bỏ bán phần có thể là một lựa chọn nếu ung thư được giới hạn trong diện tích bàng quang có thể dễ dàng loại bỏ mà không làm tổn hại đến chức năng bàng quang.

Phẫu thuật mang nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng. Có thể gặp đi tiểu thường xuyên hơn sau khi cắt bỏ bán phần, làm giảm kích thước của bàng quang. Theo thời gian có thể cải thiện, mặc dù ở một số người nó vĩnh viễn.

Phẫu thuật ung thư bàng quang xâm hại. Nếu ung thư đã xâm lược các lớp sâu hơn của thành bàng quang, có thể xem xét

Phẫu thuật để loại bỏ toàn bộ bàng quang. Thủ thuật cắt bỏ là một hoạt động để loại bỏ toàn bộ bàng quang, cũng như các hạch bạch huyết xung quanh. Ở nam giới, cắt bỏ thường bao gồm loại bỏ tuyến tiền liệt và túi tinh. Ở phụ nữ, cắt bỏ gồm việc cắt bỏ tử cung, buồng trứng và một phần của âm đạo.

Cắt bỏ mang nguy cơ nhiễm trùng và chảy máu. Ở nam giới, loại bỏ tuyến tiền liệt và túi tinh sẽ gây ra vô sinh. Nhưng trong đa số trường hợp bác sĩ phẫu thuật có thể cố gắng để lại các dây thần kinh cần thiết cho việc cương cứng. Ở phụ nữ, loại bỏ các nguyên nhân gây vô sinh do buồng trứng và mãn kinh sớm ở phụ nữ, chưa có kinh nghiệm trước phẫu thuật này.

Phẫu thuật tạo ra một cách mới cho nước tiểu rời khỏi cơ thể. Ngay sau khi cắt bỏ, bác sĩ phẫu thuật tạo ra cách mới để có thể trục xuất nước tiểu. Những tùy chọn là tốt nhất phụ thuộc vào bệnh ung thư, sức khỏe và sở thích. Bác sĩ phẫu thuật có thể tạo ra một ống dẫn nước tiểu bằng cách sử dụng một đoạn ruột. Ống chạy từ thận ra bên ngoài của cơ thể, nơi nước tiểu chảy vào một cái túi mang trên bụng.

Trong thủ tục khác, bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng một phần ruột để tạo ra một hồ chứa nước tiểu bên trong cơ thể. Có thể tiêu thoát nước tiểu từ hồ chứa thông qua một lỗ ở bụng bằng cách sử dụng một ống thông một vài lần mỗi ngày.

Trong trường hợp lựa chọn, bác sĩ phẫu thuật có thể tạo ra hồ chứa bàng quang giống như túi. Hồ chứa này nằm bên trong cơ thể và được gắn vào niệu đạo, cho phép để đi tiểu bình thường. Có thể cần phải sử dụng một ống thông để rút tất cả các nước tiểu từ bàng quang mới.

Sinh học trị liệu (miễn dịch liệu pháp)

Sinh học trị liệu đôi khi được gọi là miễn dịch liệu pháp, hoạt động bằng cách báo hiệu hệ miễn dịch của cơ thể chống lại các tế bào ung thư. Sinh học trị liệu ung thư bàng quang thường được quản lý thông qua niệu đạo và trực tiếp vào bàng quang.

Thuốc trị liệu sinh học được sử dụng để điều trị ung thư bàng quang bao gồm:

Một loại vi khuẩn miễn dịch. Bacille Calmette – Guerin (BCG) là một loại vi khuẩn sử dụng trong các vắc-xin lao. BCG có thể gây kích thích bàng quang và gây tiểu máu. Một số người cảm thấy như bị cúm sau khi điều trị với BCG.

Phiên bản tổng hợp của một protein hệ miễn dịch. Interferon là một protein mà hệ thống miễn dịch tạo ra để giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Một phiên bản tổng hợp của interferon được gọi là interferon alfa, có thể được dùng để điều trị ung thư bàng quang. Interferon alfa đôi khi được dùng kết hợp với BCG. Interferon alfa có thể gây ra các triệu chứng giống như cúm.

Liệu pháp sinh học có thể được quản lý sau khi TURBT để giảm nguy cơ ung thư sẽ tái diễn.

Hóa trị

Hóa trị có thể được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư có thể vẫn còn sau khi phẫu thuật. Nó cũng có thể được sử dụng trước khi phẫu thuật. Trong trường hợp này, hóa trị có thể teo khối u đủ để cho phép các bác sĩ phẫu thuật để thực hiện phẫu thuật ít xâm lấn. Hóa trị đôi khi kết hợp với xạ trị.

Xạ trị

Xạ trị sử dụng năng lượng cao nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư. Xạ trị có thể đến từ một máy bên ngoài cơ thể (bức xạ tia bên ngoài) hoặc nó có thể đến từ một thiết bị đặt bên trong bàng quang.

Bức xạ trị liệu có thể được sử dụng trước khi phẫu thuật để thu nhỏ khối u để nó có thể dễ dàng được gỡ bỏ. Bức xạ trị liệu cũng có thể được sử dụng sau khi phẫu thuật để diệt tế bào ung thư còn lại. Bức xạ trị liệu đôi khi kết hợp với hóa trị.

Thuốc thay thế

Vitamin. Trái cây và rau là cách an toàn nhất để có được các vitamin. Một số nghiên cứu cho thấy liều lượng lớn các vitamin nhất định, chẳng hạn như vitamin E ở dạng viên thuốc có thể giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang. Nhưng các nghiên cứu khác đã không tìm thấy điều này.

Học hỏi thêm là cần thiết để hiểu những gì là an toàn nhất và hiệu quả nhất. Cho đến lúc đó, tập trung vào việc ăn nhiều trái cây và rau quả giàu vitamin. Nếu đang quan tâm đến việc bổ sung vitamin, hãy hỏi bác sĩ về những gì có thể là hợp lý.

Đối phó và hỗ trợ

Sống với mối quan tâm bệnh ung thư bàng quang có thể tái diễn có thể để lại cảm giác như quyền kiểm soát ít hơn trong tương lai. Nhưng trong khi không có cách nào để đảm bảo không có sự tái phát của ung thư bàng quang, có thể thực hiện các bước để quản lý căng thẳng.

Theo thời gian sẽ tìm thấy những gì được làm, nhưng cho đến khi đó, có thể:

Có lịch trình theo dõi kiểm tra và tái khám. Khi hoàn thành điều trị ung thư bàng quang, hãy hỏi bác sĩ để tạo ra lịch trình cá nhân kiểm tra tiếp theo. Trước khi theo dõi bằng soi bàng quang, hy vọng sẽ có ít lo lắng. Có thể lo sợ rằng bệnh ung thư đã trở lại hay lo lắng về sự khó chịu. Nhưng đừng để điều này dừng buổi đi khám. Thay vào đó, các kế hoạch để đối phó với mối quan tâm.

Chăm sóc bản thân để sẵn sàng chống ung thư nếu nó trở lại. Chăm sóc bản thân bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống bao gồm nhiều trái cây, rau và ngũ cốc. Tập thể dục ít nhất 30 phút hầu hết các ngày trong tuần. Ngủ đủ để đánh thức cảm giác nghỉ ngơi.

Nói chuyện với những người sống sót ung thư bàng quang khác. Kết nối với những người sống sót ung thư bàng quang đang trải qua những nỗi sợ hãi giống như đang cảm thấy.

Phòng chống

Mặc dù không có cách nào bảo đảm ngăn ngừa ung thư bàng quang, có thể thực hiện các bước để giúp giảm nguy cơ. Ví dụ:

Không hút thuốc. Không hút thuốc lá có nghĩa là hóa chất gây ung thư trong khói không thể thu thập trong bàng quang. Nếu không hút thuốc, không bắt đầu. Nếu hút thuốc, hãy nói chuyện với bác sĩ về hoạch để giúp dừng lại. Các nhóm hỗ trợ, thuốc men và các phương pháp khác có thể giúp bỏ thuốc lá.

Hãy thận trọng với hóa chất. Nếu làm việc với hóa chất, hãy làm theo các hướng dẫn an toàn để tránh tiếp xúc.

Uống nước suốt cả ngày. Uống nước, đặc biệt là nước làm loãng chất độc hại có thể sẽ tập trung trong nước tiểu và đào thải nó ra khỏi bàng quang nhanh hơn.

Chọn nhiều trái cây và rau. Chọn chế độ ăn uống một loạt các loại trái cây và rau nhiều màu sắc. Các chất chống oxy hoá trong trái cây và rau quả có thể giúp giảm nguy cơ ung thư.

Nguồn tổng hợp https://linhchigh.com/

Ung Thư Vòm Họng: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị / 2023

Ung thư vòm họng là một trong 10 loại ung thư phổ biến và là ung thư thường gặp nhất trong các bệnh lý ung thư đầu mặt cổ.

Tỷ lệ mắc ung thư vòm mũi họng khác nhau giữa các vùng địa lý, tỷ lệ mắc thấp ở châu Âu và các nước phương Tây, tỷ lệ cao nhất ở vùng Đông Nam Trung Quốc.

Chẩn đoán ung thư vòm họng thường chậm do các triệu chứng giai đoạn đầu mơ hồ, không đặc hiệu dễ nhầm với các bệnh lý lành tính của đường hô hấp trên.

Nguyên nhân ung thư vòm họng hiện nay vẫn chưa được xác định rõ ràng. Một số yếu tố nguy cơ bao gồm:

Yếu tố di truyền: Một số trường hợp ung thư vòm họng xảy ra ở nhiều thành viên trong gia đình. Các bất thường nhiễm sắc thể 3p, 9p, 11q, 13a, 14q và 16q gây đột biến các gen ức chế khối u, dẫn đến hình thành ung thư.

Yếu tố môi trường: Các thức ăn giàu chất Nitrosamine dễ bay hơi là tác nhân gây ung thư đã được biết tới, gây ung thư biểu mô mũi, xoang trên thực nghiệm (cá khô muối, ướp muối…). Một ví dụ chứng minh vai trò của các yếu tố môi trường là tỷ lệ mắc bệnh ung thư vòm họng ở người Trung Quốc di cư tới Mỹ với chế độ ăn khác thì thấp hơn so với người dân sống tại Trung Quốc.

Hút thuốc lá: thuốc lá chứa các chất độc hại như Benzen, hydrocarbon, asen, nicotin.. làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm họng.

Quan hệ tình dục bằng miệng: Quan hệ tình dục bằng miệng không những làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vòm họng mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như lậu, giang mai, sùi mào gà…

Biểu hiện ung thư vòm họng giai đoạn sớm thường nghèo nàn, dễ bỏ qua vì hay nhầm với các triệu chứng viêm nhiễm vùng tai mũi họng.

Các triệu chứng của ung thư vòm họng thường gặp:

Triệu chứng ở tai: Thường biểu hiện ở 1 bên như ù tai, đau tai, chảy dịch ở tai. Bệnh nhân có thể xuất hiện nghe kém, điếc dẫn truyền, nhiều khi đến bệnh viện trong bệnh cảnh của viêm tai giữa thanh dịch do u làm tắc vòi Eustache.

Triệu chứng ở mũi: ngạt, tắc mũi một hoặc hai bên, chảy nước mũi nhầy dính máu dai dẳng, điều trị nội khoa không đỡ.

Triệu chứng thần kinh: đau đầu, các dấu hiệu do xâm lấn nền sọ, xâm lấn các dây thần kinh: nhìn đôi, lác trong, đau nửa mặt, chóng mặt, mất cảm giác vùng hầu họng

Triệu chứng mắt: khi u xâm lấn ổ mắt (hiếm gặp), biểu hiện mắt lồi hoặc liệt vận nhãn.

Nổi hạch cổ: trong trường hợp ung thư vòm họng di căn hạch cổ. Thường là hạch cổ cao (Ví dụ hạch Kuttner), có nhiều hạch xuất hiện ở 1 hoặc 2 bên cổ. Hạch mật độ cứng hoặc chắc, di động hạn chế, không đau. Hạch có thể chèn ép gây khó nuốt, nuốt vướng, nuốt đau.

Ung thư vòm họng có các giai đoạn:

Ung thư vòm họng giai đoạn 1: u còn giới hạn tại vòm, họng miệng hay hốc mũi. Biểu hiện chủ yếu các triệu chứng ở tai và mũi.

Ung thư vòm họng giai đoạn 2: u xâm lấn tới vùng hầu hoặc có hạch cùng bên, hạch có đường kính nhỏ hơn 6 cm. Bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng ở tai, mũi và nổi hạch cổ.

Ung thư vòm họng giai đoạn 3: u xâm lấn tới các xương và các xoang cạnh mũi, hạch cổ xuất hiện cả 2 bên, kích thước hạch nhỏ hơn 6 cm. Bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng ở tai, mũi, nổi hạch cổ với mức độ nặng hơn

Ung thư vòm họng giai đoạn cuối: U xâm lấn nội sọ, xâm lấn các dây thần kinh, hạ họng, hốc mắt kèm theo hạch cổ hai bên hoặc hạch cổ kích thước lớn hơn 6 cm. Bệnh nhân có biểu hiện thêm các triệu chứng ở mắt và triệu chứng thần kinh. Ngoài ra nếu di căn xa bệnh nhân sẽ có các triệu chứng tại cơ quan di căn (phổi, xương..)

Bệnh nhân nam giới, tuổi từ 30-55

Tiền sử hút thuốc lá, uống rượu bia

Có người thân trong gia đình mắc ung thư vòm họng

Người có thói quen ăn uống các đồ ăn như cá muối, dưa khú,….

Bệnh nhân đã từng nhiễm EBV (có kháng thể EBV trong máu)

Ung thư vòm họng là bệnh chưa tìm được nguyên nhân rõ ràng nên chưa có biện pháp phòng ngừa đặc hiệu.

Một số biện pháp phòng ngừa ung thư vòm họng:

Không hút thuốc lá

Không uống rượu bia

Hạn chế ăn các thực phẩm lên men, muối chua,…

Tập luyện thể dục thể thao đều đặn

Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư vòm họng:

Nội soi tai mũi họng: Giúp quan sát, phát hiện và đánh giá khối u đồng thời bấm sinh thiết

Sinh thiết tổn thương: bấm sinh thiết qua đường mũi hoặc họng miệng.

Chọc hút tế bào vào kim nhỏ: được chỉ định nếu có nghi ngờ di căn hạch cổ.

Chụp CT: đánh giá kích thước u, mức độ xâm lấn xung quan và xâm lấn hạch

Chụp Xquang ngực, siêu âm bụng và xạ hình xương: các xét nghiệm cần thiết trong phát hiện di căn xa.

Chụp PET- CT: Phương pháp hiện đại giúp đánh giá di căn xa.

Các phản ứng huyết thanh tìm kháng thể EBV trước, trong và sau điều trị giúp đánh giá tiên lượng bệnh.

Nguyên tắc điều trị:

Xạ trị là phương thức điều trị cơ bản trong ung thư vòm họng do u nhạy cảm với tia xạ.

Hóa chất: thường áp dụng trước xạ trị hoặc trong xạ trị (hóa xạ trị đồng thời).

Phẫu thuật: phẫu thuật lấy hạch cổ được chỉ định trong trường hợp hạch còn lại sau xạ trị 2 tháng.

Chỉ định điều trị theo giai đoạn:

Giai đoạn 1: Xạ trị đơn thuần

Giai đoạn 2: Xạ trị kết hợp hóa chất

Giai đoạn 3: Hóa xạ trị đồng thời

Giai đoạn 4: hóa chất toàn thân.

Theo dõi sau điều trị: Khám định kỳ 3 tháng/lần trong năm đầu tiên, 6 tháng/lần trong 3-5 năm tiếp theo. Từ 5 năm trở đi khám định kỳ 1 năm/lần. Theo dõi bao gồm:

Khám đánh giá tái phát tại chỗ, di căn hạch, phát hiện các biến chứng muộn do xạ trị.

Nội soi tai mũi họng

Siêu âm vùng cổ

Chụp CT sọ mắt 6 tháng/lần

Chọc hút tế bào kim nhỏ nếu có nghi ngờ di căn hạch cổ

Chụp Xquang phổi, siêu âm ổ bụng phát hiện di căn xa.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ung Thư Vòm Họng: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Điều Trị Tai Mũi Họng / 2023 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!