Xu Hướng 12/2022 # Ung Thư Dạ Dày: Cơ Sở Phân Tử Và Điều Trị Đích / 2023 # Top 17 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Ung Thư Dạ Dày: Cơ Sở Phân Tử Và Điều Trị Đích / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Ung Thư Dạ Dày: Cơ Sở Phân Tử Và Điều Trị Đích / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật – Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC

Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong năm 2012, số ca ung thư dạ dày được phát hiện trên thế giới là 950.000 người, chiếm 7% tổng số các loại ung thư và là nguyên nhân tử vong thứ ba do ung thư trên toàn thế giới, với 723.000 ca tử vong (theo ACS 2011). Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày khác nhau giữa các vùng địa lý trên thế giới, Nhật Bản và Hàn Quốc có tỷ lệ mắc cao nhất. Ở Mỹ, năm 2014 ước tính có 22.220 trường hợp mắc ung thư dạ dày mới và 10.990 ca tử vong (theo ACS 2014).

Ung thư dạ dày có thể được coi như là một bệnh đa yếu tố bởi vì nhiều yếu tố di truyền và môi trường đóng một vai trò trong sinh ung thư, bao gồm cả cơ sở di truyền của vật chủ, các tác nhân nhiễm khuẩn như Helicobacter pylori và thói quen ăn uống. Hai vị trí chủ yếu hay gặp của ung thư dạ dày là vùng tâm vị (vùng gần tâm vị, vùng nối dạ dày thực quản) và vùng không tâm vị (các vùng đáy, thân, xa tâm vị và vùng thấp hơn hoặc cao hơn bờ cong nhỏ). Tỷ lệ mắc các khối u không tâm vị hiện đang giảm, có thể do tỷ lệ thấp hơn của nhiễm H. Pylori do chế độ ăn uống, điều kiện lưu trữ thực phẩm và vệ sinh chung được cải thiện (Parsonnet et al. 1991 [8]). Sự nhiễm H. Pylori là một yếu tố gây bệnh quan trọng của ung thư dạ dày thể đường ruột (Parsonnet và cộng sự, 1991 [8]).

Các khối u dạ dày có thể không hoạt động, có thể tiến triển tại chỗ hoặc di căn. Việc chẩn đoán ung thư dạ dày thường chậm trễ vì nhiều bệnh nhân bị bệnh ở giai đoạn đầu triệu chứng không rõ ràng, không đặc hiệu hoặc không có triệu chứng. Khi được phát hiện ở giai đoạn muộn, bệnh thường kháng với hóa trị liệu và thời gian sống sót giảm (Bảng và cộng sự 2010 [2]). Ngay cả số bệnh nhân bị bệnh có thể phẫu thuật cũng chỉ có khoảng 1/3 có cơ hội sống sót sau 5 năm.

1. Sự khuếch đại gen HER2 và sự thể hiện quá mức của protein thụ thể HER2

Về cơ sở phân tử của ung thư dạ dày, có khoảng 7-34% số các ung thư dạ dày thể hiên sự khuếch đại gen gây ung thư của thụ thể HER2 (HER2 amplification) (Bảng và cộng sự 2010 [2]).

Về tầm quan trọng của thụ thể HER2 (HER2 receptor) trong ung thư dạ dày, các nhà khoa học thấy rằng: gia đình thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu mô người EGFR (human epidermal growth factor receptor) gồm 4 thụ thể (ErbB1-4) có thể được hoạt hóa bởi ligand được tạo thành bởi sự polymer hóa của hai chuỗi polymer giống hoặc khác nhau. Trong ung thư vú, người ta biết rằng thụ thể HER2 đóng một vai trò quan trọng bởi vì thụ thể này hoạt động trong quá trình tạo thành đặc biệt của ung thư này. Trong sự thể hiện quá mức (over-expression) của protein thụ thể ErbB2 thường hay gắn vào các thành phần gia đình khác và kích hoạt các con đường tín hiệu ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tế bào, sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis), sự di căn (metastasis) và sự tạo thành mạch máu (angiogenesis) trong ung thư vú. Mặc dù cho đến nay người ta còn biết ít về các con đường phân tử bị cảm ứng bởi thụ thể HER2 trong ung thư dạ dày so với ung thư vú, nhưng các công trình khoa học được công bố gần đây gợi ý rằng thụ thể HER2 cũng đóng một vai trò tương tự như trong ung thư dạ dày.

Cũng cần chú ý thêm là: trong ung thư dạ dày, các tế bào thể hiện của thụ thể HER2 được phân bố ở cặp chuỗi polypeptide khác nhau nhiều hơn so với ở cặp chuỗi giống nhau, điều này giải thích sự khác nhau về vai trò tạo thành ung thư của HER2 giữa hai bệnh này. Sự khuếch đại gen và sự thể hiện quá mức của protein của thụ thể HER2 thường chiếm ưu thể trong ung thư dạ dày thể ruột (intestinal type gastric cancer) so với ung thư dạ dày thể lan tỏa (diffuse gastric cancer). Hơn nữa, tỷ lệ khuếch đại gen và sự thể hiện quá mức của protein của thụ thể HER2 cũng phụ thuộc vị trí của khối u: sự thể hiện của HER2 trong ung thư ở vùng nối dạ dày thực quản (gastroesophageal junction) cao hơn ung thư ở vùng dạ dày và cũng có thể cao hơn ung thư ở vùng thực quản.

Ngoài ra, việc xác định các đột biến của E-cadherin dòng mầm (germline E-cadherin (CDH1) mutations) ở các gia đình có ung thư dạ dày lan tỏa di truyền đã thể hiện một quan điểm mới về những thay đổi ban đầu có khả năng kích hoạt yếu tố sinh ung thư dạ dày (tumorigenesis) và khẳng định CDH1 như là một yếu tố áp chế khối u (tumor suppressor factor) (Nadauld và cộng sự 2013 [7]. Vai trò của sự thay đổi CDH1 trong điều trị đích ung thư dạ dày hiện đang được tiếp tục nghiên cứu (Corso G và cộng sự 2013 [3]).

Vai trò của những thay đổi cách biểu hiện (epigenetic changes) và sự im lặng của các yếu tố áp chế ung thư (tumor-suppressor silencing) qua sự thúc đẩy sự methyl hóa quá mức (hypermethylation) trong các ung thư cũng gợi ý về việc sử dụng các thuốc chống lại sự methyl hóa như 5-azacytadine trong điều trị đích ung thư dạ dày (Zouridis và cộng sự 2012 [10]).

Cũng có bằng chứng gợi ý rằng các thay đổi thể sôm (somatic alterations) như sự khác nhau về số bản copy ở những gen gây ung thư then chốt như FGFR2, EGFR và MET có thể được nghiên cứu cho điều trị đích ung thư dạ dày (Nadauld và cộng sự 2012 [6], Deng và cộng sự 2012 [4], Wadhwa R và cộng sự 2013 [9]).

Những thay đổi về phân tử trong ung thư dạ dày ở các gen p53, PTEN và PIK3CA hiện cũng đang được nghiên cứu để phục vụ cho điều trị đích ung thư dạ dày (Lee J và cộng sự 2012 [5]).

2. Điều trị đích ung thư dạ dày

Dựa trên các phát hiện về sự khuếch đại gen gây ung thư HER2 và sự thể hiện quá mức của protein thụ thể HER2 như là bệnh sinh của ung thư dạ dày, một kháng thể đơn dòng nguồn gốc người trực tiếp chống lại thụ thể HER2 (humanized monoclonal antibody directed against the HER2 receptor) là trastuzumab – một thuốc điều trị đích ung thư dạ dày đầu tiên – được đánh giá trong nghiên cứu giai đoạn III là có hiệu quả điều trị đích cho ung thư dạ dày thể tuyến (gastric adenocarcinoma) và ung thư dạ dày thực quản thể tuyến (gastroesophageal junction GEJ) có HER2 (+) tính (Albarello và cộng sự 2011 [1]). Trong một thử nghiệm lâm sàng (Bảng và cộng sự 2010 [2]), việc kết hợp giữa trastuzumab và hóa trị liệu đã cải thiện đáng kể thời gian sống của bệnh nhân so với hóa trị liệu một mình (Bảng 1).

Bảng 1. Kết quả thử nghiệm lâm sàng kết hợp điều trị đích và hóa trị liệu giai đoạn III ở các bệnh nhân ung thư dạ dày có HER2 (+) tính (Bảng và cộng sự 2010[2])

Ngoài ra, những thay đổi về phân tử khác như sự khuếch đại của các gen FGFR2, EGFR, MET, …, cũng đang được nghiên cứu cho điều trị đích ung thư dạ dày với các thuốc kháng thể đơn dòng (như ramucirumab cho điều trị đích VEGFR; cetuximab, matuzumab, panitumumab và nimotuzumab cho điều trị đích EGFR/HER1) vả các thuốc điều trị đích phân tử nhỏ (như crizotinib, … cho điều trị đích MET) (Wadhwa R và cộng sự, 2013 [9]) (Hình 1).

Hình 1. Sơ đồ các con đường tín hiệu và vị trí tác động của các thuốc trong điều trị đích trong ung thư dạ dày (Wadhwa R và cộng sự 2013 [9]).

1. Về cơ sở phân tử của ung thư dạ dày: sự khuếch đại gen gây ung thư của thụ thể HER2 và sự thể hiện quá mức của protein thụ thể HER2 đóng vai trò chủ yếu trong cơ chế sin hung thư của ung thư dạ dày.

2. Trong điều trị đích ung thư dạ dày, sự khuếch đại gen của thụ thể HER2 và sự thể hiện quá mức của protein thụ thể HER2 đã trở thành đích cho thuốc điều trị đích kháng thể đơn dòng trastuzumab.

3. Trên cơ sở những thay đổi phân tử khác trong ung thư dạ dày như các đột biến trên gen CDH1, sự methyl hóa quá mức, sự khuếch đại của các gen gây ung thư khác FGFR2, EGFR và MET hiện đang được nghiên cứu cho điều trị đích ung thư dạ dày.

1. Albarello L, Pecciarini L, and Doglioni C. HER2 testing in gastric cancer. Adv Anat Pathol 2011 Jan; 18(1): 53-59.

3. Corso G, Carvalho J, Marrelli D, et al. Somatic mutations and deletions of the E-cadherin gene predict poor survival of patients with gastric cancer. J Clin Oncol 2013; 31: 868-875.

4. Deng N, Goh LK, Wang H, et al. A comprehensive survey of genomic alterations in gastric cancer reveals systematic patterns of molecular exclusivity and co-occurrence among distinct therapeutic targets. Gut 61: 673-684.

5. Lee J, van Hummelen P, Go C, et al. High-Throughput Mutation Profiling Identifies Frequent Somatic Mutations in Advanced Gastric Adenocarcinoma. PloS One 7: e38892.

6. Nadauld LD, Regan JF, Miotke L, et al. Quantitative and sensitive detection of cancer genome amplifications from formalin fixed paraffin embedded tumors with droplet digital PCR. Transl Med 2012; 2: 107.

7. Nadauld LD, and Ford JM. Molecular Profiling of Gastric Cancer: Toward Personalized Cancer Medicine. J Clin Oncol 2013 March 1; 31(7): 838-839.

8. Parsonnet J, Friedman GD, Vandersteen DP, et al. Helicobacter pylori infection and the risk of gastric carcinoma. N Engl J Med 1991 Oct 17; 325(16); 1127-1131.

9. Wadhwa R, Song S, Lee JS, et al. Gastric cancer-molecular and clinical dimensions. Nat Rev Clin Oncol 2-13 Nov; 10(11): 643-655.

10. Zouridis H, Deng N, Ivanova T. Methylation subtypes and large-scale epigenetic alterations in gastric cancer. Sci Transl Med 2012 Oct 17; 4(156): 140.

Cách Phân Biệt Ung Thư Dạ Dày Và Viêm Loét Dạ Dày / 2023

Ung thư dạ dày là một trong 5 căn bệnh ung thư phổ biến nhất hiện nay, là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 trong các căn bệnh ung thư trên thế giới (chỉ đứng sau ung thư phổi).

Nguyên nhân gây nên tỷ lệ tử vong cao ở ung thư dạ dày là do các trường hợp mắc bệnh đều được phát hiện quá muộn – khi bệnh đã vào giai đoạn cuối. Ung thư dạ dày xuất hiện vào giai đoạn cuối đồng nghĩa với việc mạng sống của bệnh nhân chỉ được tính từng ngày. Tuy nhiên, tại sao đa số các trường hợp ung thư dạ dày lại chỉ được phát hiện khi đã vào giai đoạn cuối? Nguyên nhân là do chúng ta đều nhầm lẫn giữa ung thư dạ dày và các bệnh lý về dạ dày thông thường khác mà chủ yếu là viêm loét dạ dày.

Viêm dạ dày và ung thư dạ dày là hai bệnh hoàn toàn khác nhau của dạ dày. Một bệnh lành tính, ít nguy hiểm, chữa được và một bệnh ác tính, rất nguy hiểm và khó chữa.

Tuy nhiên, ở giai đoạn sớm việc phân biệt hai căn bệnh này nếu chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng là vô cùng khó khăn, bởi vì các triệu chứng phổ biến như: khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ vùng bụng trên, chướng bụng, đầy bụng sau khi ăn, ợ hơi, ợ chua, mất ngon miệng, buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy hay táo bón cùng các biểu hiện khác như khó nuốt, nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng, nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen đều có thể gặp cả ở bệnh nhân viêm dạ dày hoặc ung thư dạ dày.

Cả hai bệnh đều có triệu chứng đau bụng. Tuy nhiên, người viêm loét dạ dày thường đau có quy luật. Cơn đau bắt đầu do ăn quá nhiều chất, ăn quá no và có thể xuất hiện sau khi ăn khoảng nửa tiếng đến hai tiếng, đau đớn kéo dài đến trước bữa ăn tiếp theo thì biến mất.

Trong khi đó, người mắc ung thư dạ dày có triệu chứng đau xuất hiện nhiều khi yên tĩnh, mất đi khi hoạt động, thần kinh phân tán. Ở giai đoạn bệnh phát triển hơn, người bệnh có thể đau bụng dữ dội, thời gian đau lâu nhưng uống thuốc không có xu hướng thuyên giảm.

Đối với người bệnh dạ dày, kém ăn là một dấu hiệu mang tính chất chủ quan của người bệnh, không có dấu hiệu đặc biệt nào về bệnh lý ở bất kỳ cơ quan nào. Ngược lại, người mắc ung thư dạ dày xuất hiện dấu hiệu kém ăn đi kèm với biểu hiện khó nuốt.

Polyp Dạ Dày Là Gì, Phân Loại Và Cách Điều Trị / 2023

Theo các chuyên gia Tiêu hóa, để có bộ máy tiêu hóa khỏe mạnh cần có chế độ ăn uống hợp lý, lối sống lành mạnh đồng thời thăm khám định kỳ để phát hiện sớm và có biện pháp phù hợp.

Polyp dạ dày là gì?

Polyp dạ dày đó là những khối u lồi có hình dạng khác nhau (dạng elip hoặc hình tròn),có cuống, đôi khi còn được gọi là khối u. Khối u này được hình thành do sự tăng sinh quá mức của niêm mạc dạ dày.

Bệnh thường được phát hiện ở các bệnh nhân khi nội soi dạ dày và chiếm tỷ lệ khá cao – đến 25%.

Triệu chứng polyp dạ dày

Polyp dạ dày thường không gây ra triệu chứng đặc hiệu. Tuy nhiên, polyp dạ dày to ra, loét có thể phát triển trên bề mặt của nó, hoặc hiếm khi, các polyp có thể ngăn chặn đường tiêu hóa giữa dạ dày và ruột non.

Nếu có polyp dạ dày, có thể gặp các triệu chứng:

Người bệnh không nên chủ quan khi có những triệu chứng trên, mà cần đi khám và điều trị sớm. Nếu chưa đi khám được ngay, bạn có thể đăng ký tư vấn từ xa qua Video với bác sĩ để được định hướng điều trị ban đầu.

Hình ảnh các khối polyp nhìn thấy trong nội soi dạ dày – Ảnh: BV Bảo Sơn

Các dạng polyp dạ dày

Polyp dạ dày được chia thành các loại sau:

1. Polyp tăng sản

Polyp tăng sản hầu hết không có khả năng trở thành ung thư dạ dày. Nhưng polyp tăng sản lớn hơn 2 cm đường kính thì có nguy cơ trở thành ung thư.

2. Polyp tuyến

Tạo thành từ các tế bào tuyến trên lớp niêm mạc bên trong của dạ dày. Polyp tuyến xảy ra ở những người bị hội chứng di truyền hiếm được gọi là bệnh polyp u tuyến gia đình, nên cắt bỏ bởi vì những khối u này có thể trở thành ung thư.

Polyp tuyến là phổ biến trong số những người thường xuyên dùng thuốc làm giảm axit trong dạ dày (thuốc ức chế bơm proton).

Polyp tuyến dạ dày không phải là một mối lo ngại cho những người này trừ khi kích thước lớn hơn 1cm đường kính. Nguy cơ ung thư là rất nhỏ, nhưng một số quan điểm khuyên nên có thể ngừng thuốc ức chế bơm proton hay cắt bỏ các polyp hoặc kết hợp cả 2 biện pháp.

3. U tuyến (Adenoma)

Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố tăng cơ hội phát triển của khối polyp dạ dày là:

Nguy cơ khối polyp dạ dày tăng lên theo tuổi. Polyp dạ dày thường gặp hơn ở những người ở tuổi 50 tuổi trở lên.

Polyp dạ dày do vi khuẩn lây nhiễm. HP là nguyên nhân phổ biến của viêm dạ dày góp phần tăng sản và polyp u tuyến. Các chuyên gia không chắc chắn làm thế nào người dân bị nhiễm các vi khuẩn này, nhưng HP có thể trong thực phẩm và nước.

Hội chứng ung thư ruột thừa kế. Bệnh polyp u tuyến gia đình là một hội chứng di truyền làm tăng nguy cơ ung thư ruột kết và các điều kiện khác, chẳng hạn như khối u dạ dày.

Nội soi dạ dày để chẩn đoán

Trong nội soi dạ dày, bác sĩ Tiêu hóa hoặc kỹ thuật viên sẽ đưamột ống mềm có gắn camera vào miệng và xuống cổ họng cho phép bác sĩ xem bên trong dạ dày.

Đây là phương pháp thông dụng cho độ chính xác cao hiện nay để thăm khám, chẩn đoán các bệnh lý về dạ dày và polyp dạ dày như:

Chẩn đoán sớm các tổn thương dạ dày dù nhỏ cũng nhìn thấy được

Nhìn bao quát toàn bộ dạ dày, các vùng bên trong của dạ dày

Rối loạn vận động co thắt, xoắn

Viêm niêm mạc dạ dày teo đét hoặc phì đại

Loét dạ dày tá tràng

Các khối u dạ dày tá tràng (lành tính, ác tính, u mạch máu, ung thư…)

Polyp dạ dày

Tiến hành cắt bỏ polyp dạ dày trong quá trình nội soi

Kết hợp với sinh thiết, xét nghiệm giúp việc chẩn đoán chính xác hơn.

Phương pháp điều trị

Khối polyp nhỏ mà không phải là u tuyến có thể không cần điều trị. Các khối polyp thường không gây ra dấu hiệu và triệu chứng và ít khi trở thành ung thư.

Thay vào đó, bác sĩ Tiêu hóa có thể khuyên nên theo dõi định kỳ của khối polyp dạ dày. Có thể trải qua nội soi để xem liệu khối polyp dạ dày đã trưởng thành. Khối polyp dạ dày mọc hoặc có dấu hiệu và triệu chứng có thể được gỡ bỏ.

Loại bỏ polyp u tuyến và khối polyp dạ dày lớn

Điều trị để loại bỏ khối polyp dạ dày có thể được đề nghị nếu khối polyp dạ dày là u tuyến hoặc nếu chúng lớn hơn 2 /5 inch (1 cm) đường kính. Hầu hết polyp dạ dày có thể được loại bỏ trong nội soi.

Điều trị vi khuẩn H. pylori

Nếu có viêm dạ dày do vi khuẩn HP trong dạ dày, bác sĩ có thể sẽ khuyên nên tiêu diệt các vi khuẩn với kháng sinh có thể làm cho khối polyp tăng sản biến mất. Nó cũng có thể ngăn chặn khối polyp trở lại trong tương lai.

Các xét nghiệm có thể giúp bác sĩ xác định xem có nhiễm trùng HP. Sau đó, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng sinh vài tuần để diệt vi khuẩn HP.

Thực hiện: Bệnh viện Quốc tế Thu Cúc

Thời lượng: 40 giây

Khám điều trị polyp dạ dày ở đâu tốt

Khi cần thăm khám chữa bệnh dạ dày, polyp dạ dày người bệnh có thể đến các bệnh viện chuyên khóa Tiêu hóa. Theo đó cần đáp ứng các điều kiện sau.

Hệ thống Nội soi tiêu hóa (soi thường hoặc gây mê) đồng bộ

Xét nghiệm máu (Sinh hóa, huyết học…),sinh thiết tế bào

Xét nghiệm vi khuẩn HP

Đội ngũ bác sĩ tiêu hóa giỏi

Khoa Tiêu hóa – Bệnh viện Bạch Mai

Địa chỉ: Tầng 5 nhà P – Bệnh viện Bạch Mai – Số 78 đường Giải Phóng – Đống Đa – Hà Nội

Khoa 1C Điều Trị Theo Yêu Cầu – Bệnh Viện Việt Đức

Địa chỉ: Số 40 phố Tràng Thi – Hoàn Kiếm – Hà Nội

Trung tâm Tiêu hóa – Bệnh viện E

Địa chỉ: Số 89 đường Trần Cung – Nghĩa Tân – quận Cầu Giấy – Hà Nội

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Địa chỉ: Số 1 đường Tôn Thất Tùng – Đống Đa – Hà Nội

Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc

Địa chỉ: Số 55 Yên Ninh – Ba Đình – Hà Nội

Bệnh viện Đa khoa Bảo Sơn

Địa chỉ: Số 52 Nguyễn Chí Thanh – Đống Đa – Hà Nội

Bệnh viện Quốc tế Vinmec

Địa chỉ: số 458 Minh Khai – Hoàng Mai – Hà Nội

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Ung Thư Dạ Dày Và Viêm Loét Dạ Dày? / 2023

Ung thư dạ dày có biểu hiện tương đồng với các bệnh lý dạ dày thường gặp, khiến người bệnh dễ nhầm lẫn. Vậy những dấu hiệu nào có thể nhận biệt được bệnh ung thư dạ dày?

Nguyên nhân gây nên tỷ lệ tử vong cao ở ung thư dạ dày là do các trường hợp mắc bệnh đều được phát hiện quá muộn – khi bệnh đã vào giai đoạn cuối. Ung thư dạ dày xuất hiện vào giai đoạn cuối đồng nghĩa với việc mạng sống của bệnh nhân chỉ được tính từng ngày. Tuy nhiên, tại sao đa số các trường hợp ung thư dạ dày lại chỉ được phát hiện khi đã vào giai đoạn cuối? Nguyên nhân là do chúng ta đều nhầm lẫn giữa ung thư dạ dày và các bệnh lý về dạ dày thông thường khác mà chủ yếu là viêm loét dạ dày.

CÁCH PHÂN BIỆT BỆNH UNG THƯ DẠ DÀY VÀ VIÊM LOÉT DẠ DÀY

Viêm dạ dày và ung thư dạ dày là hai bệnh hoàn toàn khác nhau của dạ dày. Một bệnh lành tính, ít nguy hiểm, chữa được và một bệnh ác tính, rất nguy hiểm và khó chữa.

Tuy nhiên, ở giai đoạn sớm việc phân biệt hai căn bệnh này nếu chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng là vô cùng khó khăn, bởi vì các triệu chứng phổ biến như: khó tiêu, có thể kèm theo khó chịu, đau âm ỉ vùng bụng trên, chướng bụng, đầy bụng sau khi ăn, ợ hơi, ợ chua, mất ngon miệng, buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy hay táo bón cùng các biểu hiện khác như khó nuốt, nôn, gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu, đau bụng, nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen đều có thể gặp cả ở bệnh nhân viêm dạ dày hoặc ung thư dạ dày.

Đau bụng

Cả hai bệnh đều có triệu chứng đau bụng. Tuy nhiên, người viêm loét dạ dày thường đau có quy luật. Cơn đau bắt đầu do ăn quá nhiều chất, ăn quá no và có thể xuất hiện sau khi ăn khoảng nửa tiếng đến hai tiếng, đau đớn kéo dài đến trước bữa ăn tiếp theo thì biến mất.

Trong khi đó, người mắc ung thư dạ dày có triệu chứng đau xuất hiện nhiều khi yên tĩnh, mất đi khi hoạt động, thần kinh phân tán. Ở giai đoạn bệnh phát triển hơn, người bệnh có thể đau bụng dữ dội, thời gian đau lâu nhưng uống thuốc không có xu hướng thuyên giảm.

Chán ăn

Đối với người bệnh dạ dày, kém ăn là một dấu hiệu mang tính chất chủ quan của người bệnh, không có dấu hiệu đặc biệt nào về bệnh lý ở bất kỳ cơ quan nào. Ngược lại, người mắc ung thư dạ dày xuất hiện dấu hiệu kém ăn đi kèm với biểu hiện khó nuốt.

Buồn nôn

Cảm giác buồn nôn xuất hiện nhiều khi người bị viêm loét dạ dày đang tiêu hóa thức ăn. Sau khi nôn mửa, người bệnh sẽ cảm thấy giảm đau. Triệu chứng này có thể gặp ở thời kỳ cuối cùng của bệnh loét dạ dày do đóng sẹo làm hẹp môn vị, thức ăn bị ứ đọng lại trong dạ dày không qua được môn vị để xuống tá tràng. Trong các chất nôn ra có thể thấy cả thức ăn bệnh nhân đã ăn vào từ hôm trước. Nhưng cũng có thể thấy các chất nôn có dính lẫn màu đen sẫm giống như bã cà phê. Còn đối với ung thư dạ dày, cảm giác buồn nôn và ói mửa không mất đi mà ngày càng nghiêm trọng, thậm chí có vệt máu trong chất nôn.

Đi ngoài phân đen

Thông thường, bệnh nhân viêm loét dạ dày đi ngoài phân đen khi ăn nhiều tiết động vật như tiết lợn, dê, gà, đôi khi cũng có thể gặp hiện tượng này sau khi uống một số loại thuốc. Khác với viêm loét, ung thư dạ dày xuất hiện triệu chứng đi ngoài phân đen không giải thích được nguyên nhân, hoặc kiểm tra trong phân có lẫn máu.

Xuất hiện khối u

Một số bệnh nhân viêm loét dạ dày có thể sờ thấy bọc u trong ổ dạ dày, biểu hiện của nó là cứng, bề mặt không trơn nhẵn, ấn vào có cảm giác đau. Theo sự tăng lên của kích thước khối u, cảm giác buồn nôn cũng ngày càng nghiêm trọng, trường hợp này đa số bệnh là đã chuyển ung thư. Tốt nhất bạn nên đi khám để xác định nguyên nhân và điều trị sớm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ung Thư Dạ Dày: Cơ Sở Phân Tử Và Điều Trị Đích / 2023 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!