Xu Hướng 12/2022 # U Tế Bào Mầm Thần Kinh Trung Ương / 2023 # Top 20 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # U Tế Bào Mầm Thần Kinh Trung Ương / 2023 # Top 20 View

Bạn đang xem bài viết U Tế Bào Mầm Thần Kinh Trung Ương / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

U tế bào mầm thần kinh trung ương

ĐẠI CƯƠNG

U tế bào mầm nội sọ là một nhóm các khối u tương đối hiếm gặp, có đặc điểm mô bệnh học, di truyền, sinh hóa học, chẩn đoán và điều trị tương tự như các khối u tế bào mầm ngoài hệ thần kinh trung ương. U tế bào mầm nội sọ chiếm dưới 4% u não trẻ em ở Bắc Mỹ. U bắt nguồn từ gần não thất ba, lan rộng từ vùng trên yên đến tuyến tùng. Các khối u tế bào mầm vùng tuyến tùng gặp nhiều hơn vùng trên yên với tỷ lệ 2:1, nhưng có 5-10% trường hợp phát hiện khối u ở cả hai vùng này. Phân loại các khối u tế bào mầm nội sọ thành hai nhóm lớn là u tinh mầm và u không tinh mầm. U tinh thường gặp hơn, chiếm khoảng 50-70% tổng số u tế bào mầm nội sọ. U không tinh chiếm 1/3 các khối u tế bào mầm nội sọ bao gồm ung thư biểu mô phôi, u xoang nội bì (yolk sac), ung thư biểu mô rau, u quái chưa thuần thục, u quái thuần thục và các khối u tế bào mầm hỗn hợp nguồn gốc tế bào.

Các khối u tế bào mầm nội sọ chủ yếu xuất phát từ vùng tuyến tùng hoặc trên hố yên, ít khi gặp ở đường giữa như hạch nền, đồi thị, các não thất, đặc biệt là não thất bốn. Vì thế, xạ trị bao trùm diện điều trị lớn được xem là điều trị chuẩn. Những khối u này có thể lan sang các bộ phận khác của não hoặc tủy sống thông qua dịch não tủy,  hóa trị hiệu quả, kết hợp các thủ thuật phẫu thuật và kỹ thuật tia xạ tiến bộ đã giúp cải thiện về khả năng sống sót. Độ tuổi hay gặp là 10-12 tuổi, tỷ lệ mắc trẻ gái/ trẻ trai khối u không tinh nội sọ là 3,2:1, khối u tinh có tỷ lệ nam:nữ chỉ là 1,8:1. Ở trẻ gái, 75% các khối u tế bào mầm nội sọ phát triển ở vùng trên yên, trong khi ở trẻ trai 70% được phát hiện ở vùng tuyến tùng.

Kết quả sống thêm của bệnh nhân có u tế bào mầm tinh nội sọ đơn thuần thì tốt hơn có ý nghĩa so với của những bệnh nhân u tế bào mầm không tinh. Tỷ lệ khỏi bệnh là 90% nhờ xạ trị đơn thuần. Tiên lượng của u tế bào mầm không tinh xấu với tỷ lệ sống sót 5 năm của những khối u này khoảng 20-49%. Điều trị đa mô thức cải thiện đáng kể tỷ lệ sống thêm của những bệnh nhân u tế bào mầm không tinh. Vai trò của phẫu thuật lấy u và hóa trị liều cao kết hợp ghép tế bào gốc cho bệnh nhân u tế bào mầm không  tinh hiện nay vẫn còn đang nghiên cứu.

Mô bệnh học là yếu tố tiên lượng quan trọng, đối với u tế bào mầm không tinh có chỉ điểm u tăng. Cụ thể, nồng độ β HCG hoặc AFP trong huyết thanh và/hoặc dịch não tủy lớn hơn 1.000 IU/L hoặc 1.000 ng/mL, thì có khả năng tiên lượng xấu hơn có ý nghĩa. Bệnh nhân nhỏ tuổi thì có nguy cơ cao bị ảnh hưởng cả thế chất cũng như tâm lý thần kinh, tinh thần.

CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng tùy thuộc vào vị trí của khối u trong não. Các khối u nằm trong vùng tuyến tùng thường có các triệu chứng tăng áp lực nội sọ do ứ dịch não tủy tắc nghẽn. Do các khối u không tinh có tính chất tiến triển hơn về mặt sinh học so với khối u tinh nên thường có bệnh sử ngắn hơn.

Đau đầu, buồn nôn và ói mửa, nặng hơn vào buổi sáng: 56-93%.

Mờ mắt, ngủ gà (trạng thái mơ màng): 20-54%.

Cử động mắt bất thường.

Thất điều, cơn co giật, rối loạn hành vi: 10-28%.

U tế bào mầm nằm trong hạch nền gây triệu chứng yếu một bên của cơ thể.

Xâm lấn các cấu trúc lân cận giữa não có thể gây rối loạn thị lực, biểu hiện dấu hiệu Parinaud – mất phối hợp liếc dọc nhãn cầu, gặp 25-50% các khối u tế bào mầm vùng tuyến tùng.

Ở những bệnh nhân có khối u tế bào mầm vùng tuyến tùng, khoảng 80% có các triệu chứng tăng áp lực nội sọ trong khi đó các triệu chứng tăng áp lực nội sọ chỉ gặp dưới 10% bệnh nhân có khối u tế bào mầm trên yên.

Các rối loạn nội tiết như tiểu đường, dậy thì sớm xảy ra ở bệnh nhân có khối u tế bào mầm nội sọ chiếm khoảng 6-12%. Bệnh nhân có khối u tế bào mầm vùng trên yên có thể gây nên các rối loạn nội tiết tuyến yên như chậm tăng trưởng, đái tháo đường, đái tháo nhạt… Các triệu chứng này ít gặp trên bệnh nhân có u tế bào mầm vùng tuyến tùng.

Các khối u tế bào mầm nội sọ có thể xâm lấn các cấu trúc lân cận như vùng dưới đồi (11%), não thất ba (22%), hoặc lan tràn qua dịch não tủy (10%). Với các khối u xoang nội bì hoặc ung thư biểu mô rau thì thường lan tràn hơn, và xâm lấn não thất ba gặp hơn 40% trường hợp. Lan tràn ngoài sọ đến phổi và xương cũng đã được báo cáo ở khoảng 3% bệnh nhân.

Cận lâm sàng

Chẩn đoán hình ảnh và y học hạt nhân

Chẩn đoán hình ảnh giúp nhận định khối u vùng tuyến tùng và vùng trên hố yên nhưng khó khăn trong chẩn đoán phân biệt với các loại u khác ở vị trí đó.

Hình ảnh CT scan: Biểu hiện khối u tăng tỷ trọng nhẹ hoặc cao, tổ chức u tăng tỷ trọng đồng nhất sau tiêm thuốc cản quang.

Hình ảnh cộng hưởng từ sọ não (MRI): Hiện nay, MRI là phương pháp chẩn đoán hình ảnh cho phép chẩn đoán rõ nhất về hình ảnh học với u tế bào mầm hệ thần kinh trung ương. Trên xung T1-weighted: u có hình ảnh giảm hoặc đồng tín hiệu so với nhu mô não, trên xung T2-weighted u có hình ảnh tăng hoặc đồng tín hiệu với nhu mô não. Sau tiêm thuốc đối quang từ, khối u tăng tín hiệu tương đối đồng nhất. Ngoài ra trên hình ảnh CT và MRI sọ não còn cho phép đánh giá kích thước, vị trí, đặc biệt là hình ảnh biến chứng của u gây ra như là ứ dịch não tủy.

Chỉ định chụp MRI toàn bộ cột sống đánh giá giai đoạn và yếu tố nguy cơ để chỉ định phương pháp điều trị phù hợp.

Chụp PET/CT, PET/MRI khi cần thiết

Xét nghiệm sinh hoá huyết thanh và dịch não tủy và sinh học phân tử

Các chất chỉ điểm khối u là: alpha-fetoprotein (AFP), human chorionic gonadotropin (HCG), Placental alkaline phosphatase (PLAP), Human Placental Cytokeratins (CAM 5.2, AE 1/3), c-kit (CD 117), OCT4, CD30.

AFP tăng trong các khối u có thành phần noãn hoàng như u xoang nội bì, u quái có thành phần xoang nội bì, đôi khi trong ung thư biểu mô phôi.

β HCG thường tăng trong các ung thư biểu mô rau, u quái ác tính, ung thư biểu mô phôi có chứa mô lá nuôi phôi.

AFP và β HCG tăng cao là yếu tố chẩn đoán u tế bào mầm không tinh, không cần khẳng định bằng mô bệnh học nếu vị trí u khó tiếp cận, không sinh thiết được hoặc những nguy cơ cao do sinh thiết.

β HCG ở mức độ thấp (

Các dấu ấn OCT4, một yếu tố sao chép miền 18-kDa POU được mã hóa bởi gen POU5F1 đã chứng tỏ là một xét nghiệm có độ đặc hiệu  và độ  nhạy chẩn đoán u tế  bào mầm.

Bảng 1. Các chỉ điểm u huyết thanh và dịch não tủy

Loại u

β-HCG

AFP

Ung thư biểu mô rau

+++

Ung thư biểu mô phôi

+

+

U tinh bào

(±)

U quái

(+)

U túi noãn hoàng

+++

Xét nghiệm sinh học phân tử: giải trình tự nhiều gen.

Giải phẫu bệnh

Chẩn đoán xác định thể loại tế bào u phải dựa vào giải phẫu bệnh học. Kết quả giải phẫu bệnh học tế bào u được chẩn đoán bằng các cách thức: phẫu thuật lấy u hoặc kỹ thuật sinh thiết kim dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh. Tuy nhiên các kỹ thuật sinh thiết mô não có nhiều rủi ro: chảy máu, di chứng thần kinh nên ít được áp dụng tại các cơ sở lâm sàng.

Những bệnh nhân không tiếp cận sinh thiết tổn thương được, chỉ điểm u huyết thanh/dịch não tủy cao cùng với chẩn đoán hình ảnh có tổn thương vùng tuyến tùng hoặc trên yên giúp cho chẩn đoán. Những bệnh nhân không có tăng nồng độ AFP và β HCG có ý nghĩa thì bắt buộc phải sinh thiết u.

Để phân loại u tế bào mầm người ta dùng các chất chỉ điểm hóa mô miễn dịch.

Bảng 2. Các chỉ điểm hóa mô miễn dịch

Loại u

β-HCG

AFP

PLAP

c-kit

Ung thư biểu mô rau

+

±

Ung thư biểu mô phôi

+

U tinh bào (hợp bào lá nuôi)

+

±

+

U quái chưa trưởng thành

±

±

±

U quái trưởng thành

U tế bào mầm hỗn hợp

±

±

±

±

U tinh bào thuần nhất

±

+

U túi noãn hoàng

+

±

Chẩn đoán phân biệt

Một tổn thương vùng tuyến tùng bao gồm: u nguyên bào tuyến tùng, u nguyên bào võng mạc 2 bên ở một bệnh nhân có u nguyên bào võng mạc hai bên, u tế bào tuyến tùng, u thần kinh đệm, u màng não, u lympho hoặc những tổn thương lành tính như một nang. Các nang lành tính nói chung có thể phân biệt với các khối u ác tính dạng nang bằng sự thiếu phân giải hoặc một viền phân giải rất mỏng bao quanh một trung tâm giảm tỷ trọng.

Chẩn đoán giai đoạn

Phần lớn các tác giả thống nhất chia u tế bào mầm nội sọ thành giai đoạn khu trú  và giai đoạn lan tràn. Bệnh nhân có u tại chỗ và dịch não tủy không có tế bào ác tính (M0) được coi là bệnh khu trú. Bệnh nhân có tế bào trong dịch não tủy và có bằng chứng di căn theo đường tủy sống, di căn dưới màng nhện trong sọ (M+) được coi là bệnh lan tràn.

Phân nhóm nguy cơ: dựa vào thể giải phẫu bệnh và chỉ điểm u huyết thanh/dịch não tủy. Mỗi thể giải phẫu bệnh có khả năng đáp ứng với điều trị rất khác nhau. Phân loại tiên lượng của nhóm nghiên cứu u não trẻ em Nhật Bản:

Bảng 3. Phân loại tiên lượng của nhóm nghiên cứu u não trẻ em Nhật Bản

Nhóm tiên lượng

Loại u

Tốt

U tinh bào thuần nhất

U quái trưởng thành

Trung bình

U tinh bào với các tế bào khổng lồ của hợp bào lá nuôi

U quái chưa trưởng thành

Các khối u hỗn hợp thành phần chủ yếu là tinh bào hoặc quái

U quái với chuyển dạng ác tính

Xấu

Ung thư biểu mô rau

Ung thư biểu mô phôi

Các khối u hỗn hợp tạo thành từ biểu mô rau, u túi noãn hoàng, hoặc biểu mô phôi

U túi noãn hoàng

ĐIỀU TRỊ

Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời không những cho kết quả tốt hơn mà còn tránh được biến chứng nguy hiểm như ứ dịch não tuỷ. Chỉ định điều trị u tế bào mầm nội sọ có nhiều phương pháp: phẫu thuật, xạ trị, hoá chất, nội khoa.

Bảng 4. Lựa chọn điều trị u tế bào mầm thần kinh trung ương trẻ em

Nhóm điều trị

Các lựa chọn điều trị

Các u tinh bào trẻ em mới chẩn đoán

Xạ trị

Hóa trị tân bổ trợ, sau đó xạ trị dựa trên mức đáp ứng

U quái trẻ em mới chẩn đoán

Phẫu thuật

Điều trị bổ trợ, đối với trường hợp cắt được một phần u

Xạ trị tại chỗ

Hóa trị

Xạ phẫu

U không tinh trẻ em mới chẩn đoán

Hóa trị, sau đó là xạ trị

Phẫu thuật

U tế bào mầm thần kinh trung ương tái phát

Hóa trị, sau đó xạ trị

Hóa chất liều cao, ghép tế bào gốc

Phẫu thuật

Mở não thất bốn bằng nội soi được áp dụng nhiều hơn trong những năm gần đây giúp lấy bệnh phẩm sinh thiết, lấy mẫu dịch não tủy xét nghiệm chỉ điểm u và tế bào học, chuyển hướng được dịch não tủy bên trong. Thủ thuật này không áp dụng được ở bệnh nhân có xâm lấn sàn não thất ba – là tình trạng gặp hầu hết bệnh nhân có u tế bào mầm trên yên. Lúc này, đặt dẫn lưu vẫn còn có giá trị.

Đặt dẫn lưu tạm thời ngoài não thất cho những bệnh nhân u tinh bào mà khối u có thể tiến triển đáng kể trong vòng vài ngày bắt đầu xạ trị hoặc hóa trị và trong những tình huống mà việc cắt u bằng phẫu thuật mở được coi là bước đầu trong kiểm soát bệnh.

Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u: phương pháp này gặp nhiều khó khăn và  hiện nay ít được áp dụng vì vị trí khối u ở trong sâu, biến chứng tàn tật và vẫn còn tái phát sau phẫu thuật. Những bệnh nhân mà u có đặc điểm u quái nhưng AFP hoặc β HCG không tăng có ý nghĩa nên không gợi ý thành phần ác tính hoặc không có bằng chứng di căn thì nên phẫu thuật cắt hoàn toàn khối u.

Vi phẫu sinh thiết: bị hạn chế bởi những biến chứng, mặt khác có thể không cho kết quả chính xác do không sinh thiết được chính xác tổ chức tế bào u.

Xạ trị

Hiệu quả của xạ trị phụ thuộc vào loại tế bào u.

Hiện nay, trên thế giới áp dụng hai phương pháp xạ trị đối với u tế bào mầm hệ thần kinh trung ương là xạ trị gia tốc tuyến tính và xạ phẫu.

Phương pháp xạ trị chiếu ngoài bằng máy xạ trị gia tốc tuyến tính: thường được áp dụng cho thể bệnh nhiều vị trí hoặc thể tích khối u lớn (trên 5cm).

Liều xạ trị u ban đầu 5.000cGy, một số báo cáo liều 4.000cGy, 4.000cGy-4.500cGy đạt được kết quả sống thêm tương đương khi điều trị liều xạ cao hơn.

U tinh bào rất nhạy cảm với hóa chất nên có thể điều trị hóa chất trước tia xạ nhằm giúp giảm liều và trường xạ. Những bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn với hóa chất trước thì liều xạ giảm từ 5.000cGy xuống 3.000cGy ở những bệnh nhân tổn thương khu trú, giảm liều xạ trị sọ não cột sống từ 3.600cGy xuống 2.100cGy với những bệnh nhân có tổn thương lan tràn.

Phương pháp xạ phẫu (bằng dao gamma, dao gamma quay, Cyber Knife…) áp dụng cho khối u có kích thước nhỏ (≤5cm) hoặc tiến hành sau khi đã xạ trị gia tốc nhưng vẫn còn tổ chức u.

Điều trị hóa chất

U tinh bào nội sọ

Tương tự như xạ trị, hiệu quả của phương pháp điều trị u tế bào mầm với hoá chất phụ thuộc vào thể tế bào học của u.

Hiện nay trên thế giới cũng như là ở Việt Nam, các phác đồ hóa trị áp dụng trong u tế bào mầm nội sọ như sau:

Phác đồ

Carboplatin 600mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1

Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-3.

Chu kỳ 21 ngày

Phác đồ

Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-6

Ifosfamide 1.800mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-6

Chu kỳ 21 ngày

Phác đồ (Nhóm nguy cơ thấp)

Etoposide 100mg/m2 /ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Cisplatin 40mg/m2 /ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Cyclophosphamide 1g/m2 /ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1, 2

Vincristine 1,5mg/m2 , truyền tĩnh mạch (tối đa 2mg) ngày 1, 8, 15

Chu kỳ 21 ngày

Phác đồ (Nhóm nguy cơ cao)

Etoposide 100mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch, ngày 1-5

Cisplatin 40mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Cyclophosphamide 2g/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1, 2

Vincristine 1,5mg/m2, truyền tĩnh mạch (tối đa 2mg), ngày 1, 8, và 15.

Chu kỳ 21 ngày

Phác đồ

Tấn công: Đợt 1, 3, 5

Carboplatin 600mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1.

Etoposide 90mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1, 2, 3.

Tấn công: Đợt 2, 4, 6

Ifosfamide 1.800mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5.

Etoposide 90mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5.

Mesna 360mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Củng cố

Etoposide 500mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày -5 đến -3.

Thiotepa٭ 300mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày -5 đến -3.

U tế bào mầm không tinh nội sọ

Hóa chất tân bổ trợ từ 4 đến 6 đợt sau đó tia xạ. Nếu đáp ứng không hoàn toàn, có thể hóa chất sau xạ trị 4 đến 6 đợt.

Phác đồ

Cisplatin 20mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Etoposide 60mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Phác đồ

Carboplatin 450mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1

Etoposide 150mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-3

Phác đồ

Cisplatin 20mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1-5

Vinblastine 4-6mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8

Bleomycin 10-15mg/m2/ngày, truyền tĩnh mạch ngày 1, 8, 15

Điều trị bệnh tái phát

Tái phát tại vị trí u nguyên phát là chủ yếu, nhưng cũng có 30% tái phát bên ngoài vị trí nguyên phát và/hoặc kết hợp với làn tràn màng mềm.

Điều trị khi tái phát: Hóa trị, sau đó là xạ trị

Hóa chất liều cao kết hợp ghép tế bào gốc.

PHÒNG BỆNH

Tránh tiếp xúc với các tác nhân gây ung thư như tia xạ, hóa chất…

TIÊN LƯỢNG

Tiên lượng phụ thuộc thể mô bệnh học và giai đoạn bệnh.

THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ

Lịch trình theo dõi và chỉ định xét nghiệm đánh giá phụ thuộc và bệnh cảnh lâm sàng, tình trạng lúc ra viện, theo dõi tái phát, di căn  và xử trí các tác dụng phụ  của  điều trị.

Lịch trình: khám 2 tháng 1 lần trong năm đầu, khám 3 tháng 1 lần trong năm thứ hai và năm thứ ba, nếu ổn định từ năm thứ tư trở đi khám 6 tháng 1 lần.

Khám lâm sàng, xét nghiệm chất chỉ điểm u, chụp Xquang, siêu âm, chụp cộng hưởng từ sọ não (phụ thuộc vào tổn thương ban đầu).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai (2010). Điều trị nội khoa bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Chấn Hùng (2004). Ung bướu học nội khoa. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2014). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Nhà xuất bản Y học.

Trần Văn Thuấn, Lê Văn Quảng, Nguyễn Tiến Quang (2019). Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học

Bùi Diệu và cs (2016). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư thường gặp. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Văn Hiếu (2010). Điều trị phẫu thuật bệnh ung  thư. Nhà xuất  bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2016). Kháng thể đơn dòng và phân tử nhỏ trong điều trị bệnh ung thư. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

Mai Trọng Khoa và cs (2016). Hóa chất trong điều trị một số bệnh ung thư. Tài liệu đào tạo thuộc chương trình Bệnh viện vệ tinh, chuyên ngành Ung bướu. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng Khoa (2013). Ứng dụng kỹ thuật PET/CT trong ung thư. Nhà xuất bản Y học.

Mai Trọng khoa, Nguyễn Xuân Cử (2012). Một số tiến bộ về kỹ thuật xạ trị ung thư và ứng dụng trong lâm sàng. Nhà xuất bản Y học.

Kellie SJ, Boyce H, Dunkel IJ, Diez B, Rosenblum M, Brualdi L, Finlay JL (2004). Intensive cisplatin and cyclophosphamide-based chemotherapy without radiotherapy for intracranial germinomas: failure of a primary chemotherapy approach. Pediatric Blood & Cancer 43:126-133.

Kellie SJ, Boyce H, Dunkel IJ, Diez B, Rosenblum M, Brualdi L, Finlay JL (2004). Primary chemotherapy for intracranial nongerminomatous germ cell tumors: results of the second international CNS germ cell study group protocol. Journal of Clinical Oncology 22:846-853.

Kretschmar C, Kleinberg L, Greenberg M, Burger P, Holmes E, Wharam M (2007). Pre-radiation chemotherapy with response-based radiation therapy in children with central nervous system germ cell tumors: a report from the Children’s Oncology Group. Pediatric Blood & Cancer 48:285-291.

Matsutani M (2008). Treatment of intracranial germ cell tumors: the second phase II study of Japanese GCT Study Group. In: 13th International Symposium on Pediatric Neuro-Oncology, Chicago, IL, p 420.

Osuka S, Tsuboi K, Takano S, Ishikawa E, Matsushita A, Tokuuye K, Akine Y, Matsumura A (2007). Long-term outcome of patients with intracranial germinoma. Journal of Neurooncology 83:71-79.

National Comprehensive Cancer Network. (2019). Central Nervous System Cancer, version 2.2019. NCCN Clinical Practice Guideline in Oncology.

Ung Thư Tế Bào Mầm Tuyến Yên / 2023

Ung thư tế bào mầm tuyến yên là gì?

Tế bào mầm xuất hay còn gọi là tế bào gốc sinh dục, xuất phát từ tế bào gốc đặc biệt, chủ yếu xuất hiện tại khu vực tuyến yên hoặc tuyến tùng tại não, u tế bào mầm tuyến yên chính là u tế bào gốc sinh dục phát sinh tại tuyến yên đại não.

Triệu chứng của ung thư tế bào mầm là gì?

1. Triệu chứng tại vị trí khối u: các triệu chứng chèn ép sọ não như đau đầu, buồn nôn, nôn mửa, thị lực giảm sút.

2. Dậy thì sớm.

3. Đái tháo nhạt, giảm chức năng tuyến yên.

4. Liệt nửa người.

Chẩn đoán ung thư tế bào mầm như thế nào?

Ung thư tế bào mầm tuyến yên là khối u phát sinh từ thùy trước tuyến yên, thùy sau sọ não và tế bào tàn tích ống sọ hầu. Theo chuyên gia của Bệnh viện Ung thư St.Stamford Quảng Châu, các phương pháp chẩn đoán gồm:

1. Chụp X quang sọ não, quan sát vùng yên bướm có biến dạng hoặc to bất thường không, vùng hoành tuyến yên có bị khuất hay không.

2. Chụp cộng hưởng từ hoặc CT cắt lớp, nếu mật độ vùng tuyến yên cao hơn tổ chức não, có nghĩa là đã có u tế bào mầm tuyến yên.

3. Hình ảnh tràn khí não hoặc xuất huyết não.

4. Kết quả sinh thiết.

Điều trị ung thư tế bào mầm tuyến yên như thế nào?

Trước mắt không có phương pháp đơn thuần nào có thể đạt mục đích hoàn toàn điều trị khỏi ung thư tế bào mầm, do vậy phương pháp điều trị thường dùng bao gồm phẫu thuật, điều trị bằng thuốc và xạ trị. Điều trị u tế bào mầm tuyến yên là quá trình điều trị tổng hợp nhiều chuyên khoa.

1. Phẫu thuật mở hộp sọ. Với khối u có đường kính lớn hơn 3cm hoặc dính liền với dây thần kinh hoặc chèn ép gây ảnh hưởng tới thị lực, có thể lựa chọn điều trị bằng phẫu thuật, sau khi phẫu thuật xong sẽ tiến hành điều trị bằng dao Gamma.

2. Xạ trị. U tuyến yên thuộc u tế bào tuyến, do đó không nhạy cảm với xạ trị, 70%-80% bệnh nhân sau khi xạ trị xuất hiện tình trạng suy giảm chức năng tuyến yên, do đó xạ trị thường chỉ định cho bệnh nhân không thể phẫu thuật hoặc không nhạy cảm với thuốc.

3. Dopamine có thể giúp cho u tế bào mầm tuyến yên teo nhỏ về thể tích, nhằm hỗ trợ các phương pháp điều trị khác.

U Tế Bào Hắc Tố (Ung Thư Tế Bào Hắc Tố) / 2023

Để hiểu biết về u hắc tố cần phải tìm hiểu về da và các tế bào hắc tố. Chúng có chức năng gì, chúng phát triển như thế nào và điều gì xảy ra khi chúng trở thành tế bào ung thư da. Da là bộ phận lớn nhất của cơ thể. Nó bảo vệ cơ thể chống lại hơi nóng,

U tế bào hắc tố (ung thư tế bào hắc tố) là bệnh gì?

Da là bộ phận lớn nhất của cơ thể. Nó bảo vệ cơ thể chống lại hơi nóng, ánh nắng mặt trời, tổn thương và nhiễm khuẩn. Da giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể, dự trữ nước, mỡ và sản xuất vitamin D. Da có hai lớp chính: lớp biểu bì ngoài và lớp chân bì trong.

Lớp biểu bì chủ yếu được cấu tạo từ những tế bào dẹt giống vẩy, được gọi là tế bào vẩy. Các tế bào hình tròn được gọi là tế bào đáy nầm ở dưới các tế bào vẩy trong lớp biểu bì. Phần dưới của lớp biểu bì còn có tế bào hắc tố.

Chân bì có chứa các mạch máu, mạch bạch huyết, nang lông và các tuyến. Một số trong các tuyến này tiết mồ hôi giúp điều hòa thân nhiệt và một số tuyến tiết ra chất nhờn – là một chất dầu làm cho da không bị khô. Mồ hôi và chất nhờn được đưa lên bề mặt da qua những lỗ nhỏ, gọi là lỗ chân lông.

Tế bào hắc tố và nốt ruồi

Tế bào hắc tố có mặt ở toàn bộ phận dưới của lớp biểu bì. Chúng tiết ra melanin, một loại sác tố làm cho da có màu tự nhiên. Khi da tiếp xúc với ánh náng mặt trời, tế bào hắc tố tiết ra nhiều sắc tố hơn làm cho da bị rám nắng hoặc đen đi.

Đôi khi, các đám tế bào hắc tố và mô lân cận hình thành nên các mụn lành tính (không phải ung thư) được gọi là nốt ruồi (bác sĩ còn gọi là nevus). Nốt ruồi rất phổ biến. Hầu hết mọi người có từ khoảng 10 - 40 mụn có màu tươi, hồng, rám nắng hoặc màu nâu trên da. Nốt ruồi có thể phẳng hoặc lồi.

Chúng thường có hình tròn hoặc oval và thường nhỏ hơn đầu tẩy bút chì. Chúng có thể xuất hiện từ lúc mới sinh ra hoặc về sau này – thường là trước tuổi 40. Thông thường các nốt ruồi phát triển và thay đổi rất ít theo thời gian. Chúng có xu hướng mờ đi ở người già. Khi được cắt bỏ, nốt ruồi thường không xuất hiện trở lại.

U hắc tố

U hắc tố xuất hiện khi tế bào hắc tố trở thành ác tính. Hầu hết tế bào hắc tố nằm trong da, khi u hắc tố xuất hiện ở da thì loại ung thư này được gọi là u hắc tố da. U hắc tố có thể xuất hiện ở nhãn cầu và được gọi là u hắc tố nhãn cầu. Hiếm khi u hắc tố xuất hiện ở màng não, ống tiêu hóa, hạch hoặc các vùng khác nơi có tế bào hắc tố. 

U hắc tố có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên bề mặt da. Ở nam giới, nó thường xuất hiện ở phần thân (giữa vai và hông) hoặc là vùng đầu và cổ. Ở nữ giới, u hắc tố thường xuất hiện ở phần dưới chân, u hắc tố hiếm khi xuất hiện ở những người da đen và những người có da sẫm màu.

Khi nó xuất hiện ở những người da sẫm màu thì thường ở dưới móng tay hoặc móng chân hoặc ở lòng bàn tay hoặc là gan bàn chân. Nguy cơ phát triển u hắc tố tăng lên theo độ tuổi, nhưng loại ung thư này có thể gặp ở mọi lứa tuổi, u hắc tố là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở thanh niên.

Khi u hắc tố di căn, tế bào ung thư xuất hiện ở hạch. Nếu ung thư di căn vào hạch thì có nghĩa là ung thư đã di căn tới các bộ phận khác của cơ thể như gan, phổi hoặc não. Trong những trường hợp như vậy, tế bào ung thư trong khối u mới vẫn là tế bào u hắc tố và bệnh này được gọi là u hắc tố di căn chứ không phải là ung thư gan, ung thư phổi hay ung thư não.

Triệu chứng u tế bào hắc tố

Triệu chứng của u tế bào hắc tố bao gồm:

Hình dạng của hai nửa không đối xứng.

Ranh giới: Mép nốt ruồi thường lởm chởm, có vết khía, không rõ hoặc đường bao quanh mụn không đồng đều; sắc tố có thể lan tới vùng da xung quanh.

Màu sắc: Màu sắc không đồng đều. Có thể có nét màu đen, nâu và rám nắng. Cũng có thể nhìn thấy những vùng có màu trắng, xám, đỏ, hồng hoặc xanh lơ.

Đường kính: Có sự thay đổi về kích thước, thường là tăng lên. U hắc tố thường lớn hơn đầu tẩy bút chì (5mm).

Hình dạng: có thể rất khác nhau. Nhiều u hắc tố biểu hiện tất cả các đặc tính mô tả ở trên. Tuy nhiên, một số u hắc tố biểu hiện sự thay đổi hoặc bất thường chỉ ở một hoặc hai đặc tính đó.

Khi nào cần đi khám bác sĩ?

Đi khám bác sĩ hoặc Gọi thoại – Gọi video với bác sĩ chuyên khoa Ung bướu trên hệ thống khám từ xa Wellcare khi xuất hiện các triệu chứng như nốt ruồi đã có từ trước đó thay đổi kích thước, màu sắc, nốt ruồi cứng lại, nổi cục, ngứa, chảy mủ, chảy máu… để được tư vấn, chẩn đoán và hướng dẫn điều trị.

Nguyên nhân gây u tế bào hắc tố

Bình thường các tế bào da phát triển theo một trình tự tổ chức rất chặt chẽ trong biểu bì. Những tế bào mới còn non đẩy những tế bào trưởng thành lên bề mặt da. Khi các tế bào lên đến lớp trên cùng, chúng chết đi và bị tróc ra.

Ung thư da là kết quả của sự phát triển bất thường của các tế bào da. Nguyên nhân chính là do da bị tổn thương bởi tia cực tím. Đây là một loại sóng ánh sáng phát ra từ ánh sáng mặt trời và thường được sử dụng trong các kỹ thuật làm sạm da (giường tắm nắng nhân tạo…). Tia cực tím có thể xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào, chịu trách nhiệm cho phần lớn các trường hợp ung thư da cũng như các vết nhăn và nốt tàn nhang do tuổi.

Có 2 loại tia cực tím là A (UVA) và B (UVB). Tia UVA xuyên qua da sâu hơn tia UVB, do vậy sau một thời gian phơi nhiễm tia này, khả năng chống ung thư của bạn sẽ bị suy yếu. Tia UVB, do xuyên qua da kém hơn, nên thường gây bỏng nắng và chịu trách nhiệm cho các ung thư lớp nông, ung thư tế bào sừng hoặc tế bào đáy.

Yếu tố nguy cơ gây u tế bào hắc tố

Bằng cách nghiên cứu các dạng ung thư trong cộng đồng, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số yếu tố nguy cơ nhất định thường gặp ở những bệnh nhân u hắc tố hơn so với những người không mắc bệnh.

Tiền sử bản thân và gia đình

Tiền sử bản thân u hắc tố: Những bệnh nhân đã được điều trị u hắc tố có nguy cơ phát triển u hắc tố lần thứ hai cao hơn.

Tiền sử gia đình: Có hai hay nhiều người thân ruột thịt bị bệnh là một yếu tố nguy cơ vì u hắc tố đôi khi di truyền trong gia đình. Khoảng 10% số bệnh nhân u hắc tố có người thân trong gia đình cũng bị loại ung thư này. Khi u hắc tố di truyền trong gia đình, các thành viên gia đình nên đến bác sĩ khám định kỳ.

Nevi loạn sản

Nevi loạn sản có khả năng phát triển thành ung thư cao hơn nốt ruồi thông thường. Nhiều người chỉ có một vài nốt ruồi bất thường này; càng có nhiều nevi loạn sản thì nguy cơ phát triển u hắc tố càng cao. Nguy cơ này đặc biệt cao đối với những người có cả tiền sử gia đình bị u hắc tố và cả nevi loạn sản.

Hệ miễn dịch suy yếu

Những người có hệ miễn dịch bị suy yếu do một số loại ung thư nhất định, bởi các loại thuốc điều trị sau khi ghép tạng hoặc do bệnh AIDS có nguy cơ phát triển u hắc tố cao hơn.

Nhiều nốt ruồi thông thường

Nhiều nốt ruồi thông thường (hơn 50), bởi vì u hắc tố thường xuất phát từ tế bào hắc tố của một nốt ruồi đã có, việc có nhiều nốt ruồi làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Tia cực tím

Tia cực tím từ mặt trời có thể gây ra hiện tượng lão hóa sớm ở da và sự huỷ hoại da từ đó có thể dẫn đến u hắc tố.

Các vết bỏng nắng nghiêm trọng

Những người có một hoặc nhiều vết bỏng nắng bị phồng rộp nghiêm trọng khi còn nhỏ tuổi có nguy cơ phát triển u hắc tố cao hơn. Do vậy, bác sĩ khuyên nên bảo vệ da trẻ em tránh tia nắng mặt trời, họ hi vọng rằng việc này sẽ giúp phòng chống hoặc ít ra là làm giảm nguy cơ phát triển u hắc tố của trẻ em sau này. Bỏng nắng ở người lớn cũng là một yếu tố nguy cơ của u hắc tố.

Da trắng

U hắc tố xuất hiện nhiều ở những người có nước da trắng có thể dễ bị cháy nắng hoặc tàn nhang (những người này thường có tóc màu vàng hoặc màu đỏ và mắt màu xanh) hơn là những người có nước da sẫm màu. Người da trắng thường bị u hắc tố nhiều hơn nhiều so với người da đen, có lẽ bởi vì da sáng màu dễ bị ánh mặt trời huỷ hoại hơn.

Chẩn đoán u tế bào hắc tố

U hắc tố có thể được chữa khỏi nếu được chẩn đoán và điều trị khi khối u còn nông và vẫn chưa xâm lấn sâu vào da. Tuy nhiên, nếu u hắc tố không được cắt bỏ ở giai đoạn sớm, tế bào ung thư có thể phát triển từ bề mặt da sâu xuống dưới, xâm lấn vào mô lành. Khi u hắc tố trở nên dày và sâu, bệnh thường lan sang các bộ phận khác của cơ thể và khó kiểm soát.

Nếu bác sĩ nghi nốt trên da là u hắc tố thì bệnh nhân sẽ cần được tiến hành sinh thiết. Sinh thiết là cách duy nhất để đưa ra chẩn đoán chắc chắn. Trong khi thực hiện sinh thiết bác sĩ cố gắng cắt bỏ toàn bộ nốt nghi ngờ này.

Đôi khi, cần phải lấy hạch lân cận để quan sát dưới kính hiển vi (phẫu thuật này cũng được coi là một phần của điều trị vì có thể giúp kiểm soát được bệnh). Bác sĩ cũng phải thăm khám kỹ lưỡng và tuỳ thuộc vào độ dày của khối u có thể yêu cầu chụp X-quang lồng ngực; xét nghiệm máu; chụp cắt lớp vi tính gan, xương và não.

Phương pháp điều trị u tế bào hắc tố

Phẫu thuật

Phẫu thuật để cắt bỏ u hắc tố là phương pháp điều trị chuẩn cho loại ung thư này. Cần phải cắt bỏ không chỉ có khối u mà còn phải cắt cả một phần mô lành xung quanh nó để giảm khả năng tế bào ung thư còn sót lại trong vùng đó xuống mức thấp nhất.

Độ rộng và chiều sâu của lớp da xung quanh cần phải cắt bỏ phụ thuộc vào độ dày của u hắc tố và độ sâu u xâm nhập vào da. Trong những trường hợp u rất nhỏ và có thể cắt bỏ tất cả mô ung thư trong quá trình sinh thiết, thì không cần tiến hành phẫu thuật nữa. Nếu không thể cắt bỏ toàn bộ u hắc tố trong quá trình tiến hành sinh thiết thì bác sĩ sẽ cắt bỏ mô ung thư còn sót lại khi tiến hành phẫu thuật.

Nếu cắt bỏ một mảng mô lớn thì có thể phải tiến hành ghép da đồng thời. Trong quá trình này bác sĩ lấy da ở bộ phận khác của cơ thể để thay thế cho lớp da đã được cắt bỏ, hạch bạch huyết ở gần khối u cũng có thể được cắt bỏ trong khi phẫu thuật bởi vì ung thư có thể lan vào hệ bạch huyết. Nếu bác sĩ giải phẫu bệnh tìm thấy tế bào ung thư trong hạch điều đó có nghĩa là bệnh đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Hóa trị liệu

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Nói chung, đây là phương pháp điều trị toàn thân, có nghĩa là nó có thể ảnh hưởng tới các tế bào ung thư trên toàn bộ cơ thể. Trong hóa trị liệu, một hoặc nhiều thuốc điều trị ung thư được đưa vào cơ thể bằng cách uống hoặc tiêm vào mạch máu. Cho dù thuốc được đưa vào cơ thể bằng con đường nào thì nó cũng đi vào mạch máu và tuần hoàn trên toàn cơ thể.

Hóa trị liệu thường được điều trị theo đợt: một đợt điều trị sau đó là một thời gian nghỉ hồi sức, sau đó là một đợt điều trị khác và cứ tiếp tục như vậy. Bệnh nhân được điều trị bằng hóa chất thường là bệnh nhân ngoại trú. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại thuốc điều trị và tình trạng sức khỏe chung bệnh nhân có thể phải nằm viện trong một thời gian ngắn.

Một cách đưa thuốc vào cơ thể hiện đang được nghiên cứu được gọi là truyền thuốc vào chi. Nó đang được thử nghiệm đối với u hắc tố chỉ xuất hiện ở một tay hoặc một chân. Khi tiến hành truyền thuốc vào chi, người ta dùng garô để ngăn dòng máu tới chi và rời khỏi chi trong một khoảng thời gian.

Sau đó thuốc điều trị ung thư được truyền vào mạch máu ở chi. Bệnh nhân tiếp nhận liều thuốc cao trực tiếp vào vùng có u hắc tố. Vì hầu hết các loại thuốc điều trị ung thư chỉ lưu hành ở một chi nên phương pháp này không hẳn là một phương pháp điều trị toàn thân.

Liệu pháp sinh học

Cơ thể thường sản xuất ra một lượng nhỏ những chất này khi có nhiễm khuẩn và bệnh tật. Nhờ vào các kỹ thuật trong phòng thí nghiệm hiện đại, các nhà khoa học có thể sản xuất ra một lượng lớn các chất điều biến đáp ứng sinh học để sử dụng trong điều trị ung thư.

Trong một số trường hợp, liệu pháp sinh học có thể được sử dụng sau khi phẫu thuật để ngăn ngừa u hắc tố tái phát. Đối với bệnh nhân có u hắc tố đã di căn hoặc có nguy cơ tái phát bệnh cao bác sĩ có thể chỉ định interferon-alfa và interleukin-2 (còn được gọi là aldesleukin) sau phẫu thuật. Các loại thuốc kích thích dòng tế bào (CSF) và các loại vaccin chống ung thư là những ví dụ của các chất điều biến đáp ứng sinh học hiện đang được nghiên cứu.

Tia xạ

Trong một số trường hợp, tia phóng xạ được sử dụng để làm giảm triệu chứng của u hắc tố. Xạ trị là phương pháp sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.

Đây là phương pháp điều trị tại chỗ; nó chỉ ảnh hưởng tới tế bào trong vùng chiếu xạ. Xạ trị là phương pháp được sử dụng nhiều nhất để kiểm soát ung thư đã di căn vào não, xương và các bộ phận khác của cơ thể.

Phòng ngừa u tế bào hắc tố

Một nguyên tắc đơn giản khác là bảo vệ cơ thể của bạn tránh những tia nắng mặt trời khi bóng của bạn ngắn hơn người. Cũng có thể đội mũ và mặc áo dài tay để bảo vệ cho bạn.

Hơn nữa, thuốc mỡ, kem dưỡng da hoặc gel có chứa kem chống nắng có thể giúp bảo vệ da. Nhiều bác sĩ cho rằng kem chống nắng có thể giúp phòng chống u hắc tố, đặc biệt là những loại kem phản chiếu, hấp thụ hoặc phân tán cả hai loại tia cực tím.

Kem chống nắng được đánh giá mức độ mạnh theo yếu tố chống mặt trời (SPF). SPF càng cao thì khả năng chống lại tia nắng mặt trời càng lớn. Kem chống nắng có mức độ SPF từ 2 – 11 có khả năng chống lại ánh mặt trời thấp nhất. Kem chống nắng có mức độ SPF từ 12 đến 29 có khả năng chống lại ánh mặt trời ở mức trung bình. Những loại kem có SPF từ 30 trở lên có khả năng chống lại ánh nắng mặt trời cao.

Nên đeo kính râm có mắt kính có thể hấp thụ tia cực tím. Nhãn hiệu trên kính nên ghi rõ mắt kính có thể ngăn lại ít nhất 99% tia cực tím UVA và UVB.

Chế độ chăm sóc bệnh nhân u tế bào hắc tố

Khám định kỳ và theo dõi sau điều trị.

Điều đặc biệt quan trọng đối với các bệnh nhân có nevi loạn sản và có tiền sử gia đình bị u hắc sắc tố là phải đi khám định kỳ. Bệnh nhân nên khám da hàng tháng và làm theo lời khuyên của bác sĩ về cách làm giảm nguy cơ phát triển u hắc tố mới.

Nguy cơ tái phát bệnh ở những bệnh nhân có u hắc tố xuyên sâu hoặc đã lan tới mô lân cận lớn hơn so với các bệnh nhân có u nhỏ. Các xét nghiệm theo dõi những bệnh nhân có nguy cơ bệnh tái phát cao có thể bao gồm chụp X-quang; xét nghiệm máu; chụp cắt lớp vi tính lồng ngực, gan, xương và não.

U Tế Bào Ưa Crom ( U Tủy Thượng Thận) / 2023

Kiểm soát huyết áp với sự kết hợp giữa các thuốc chẹn alpha và thuốc chẹn beta

Phẫu thuật cắt bỏ khối u với việc kiểm soát huyết áp cẩn thận và tình trạng thể tích

Phẫu thuật loại bỏ khối u là sự lựa chọn của điều trị . Phẫu thuật này thường bị trì hoãn cho đến khi huyết áp tăng cao được kiểm soát bằng sự kết hợp của các thuốc chẹn alpha và chất chẹn beta (thường là phenoxybenzamine 20 đến 40 mg uống tid và propranolol 20-40 mg uống tid). Không nên dùng thuốc chẹn beta khi dùng alpha có hiệu quả. Một số thuốc chẹn alpha, chẳng hạn như doxazosin, có thể có hiệu quả tương đương nhưng dung nạp tốt hơn.

Chú ý

dùng thuốc chẹn alpha trước tiên trước khi dùng thuốc chẹn beta. Không ức chế được beta-2-blockade có thể gây tăng huyết áp bằng cách ức chế giãn mạch trung gian qua beta.

Thuốc ức chế alpha hiệu quả nhất và an toàn nhất là phenoxybenzamine 0.5 mg / kg truyền tĩnh mạch trong dung dịch muối 0,9% trong 2 giờ trong 3 ngày trước khi phẫu thuật nhưng phenoxybenzamine uống thường có hiệu quả trong khoảng 7 đến 14 ngày cân bằng thể tích. Nitroprusside có thể được truyền vào các cơn cao huyết áp trong thời gian trước hoặc trong mổ. Khi khối u ở hai bên được ghi nhận hoặc nghi ngờ (như ở bệnh nhân MEN), bổ sung hydrocortisone (liều 100 mg IV) trước và trong suốt quá trình phẫu thuật tránh suy giảm glucocorticoid cấp tính do phẫu thuật thượng thận hai bên.

Hầu hết các khối u tế bào ưa crom có thể được cắt bỏ bằng nội soi ổ bụng. Tăng huyết áp phải được theo dõi liên tục thông qua một ống thông trong động mạch, và tình trạng thể tích được theo dõi chặt chẽ. Cần gây mê bằng thuốc nonarrhythmogenic (ví dụ, một thiobarbiturat) và tiếp tục dùng thuốc hít (ví dụ enflurane, isoflurane). Trong quá trình phẫu thuật, tăng huyết áp nên được kiểm soát bằng tiêm phentolamine 1 đến 5 mg tĩnh mạch hoặc truyền nitroprusside (2 đến 4 mcg / kg / phút) và nhịp tim nhanh nên được kiểm soát bằng propranolol 0.5 đến 2 mg tĩnh mạch. Nếu cần phải làm giãn cơ, thuốc ức chế giải phóng histamin được ưa thích dùng. Không nên dùng atropine trước phẫu thuật.

Trước khi khối u được cắt bỏ , có thể phải truyền máu trước khi phẫu thuật (1 đến 2 đơn vị). Nếu huyết áp đã được kiểm soát tốt trước khi phẫu thuật, nên dùng chế độ ăn nhiều muối để tăng thể tích máu. truyền norepinephrin 4-12 mg/l trong dung dịch đường nên được cân nhắc nếu có hạ áp tiến diễn. Một số bệnh nhân bị hạ huyết áp đáp ứng kém norepinephrine có thể có thể dùng hydrocortisone 100 mg IV, nhưng việc thay thế chất lỏng phù hợp thường là tất cả những gì được yêu cầu.

U tế bào ưa crom ác tính di căn ác tính nên được điều trị bằng thuốc chẹn alpha- và beta-blockers. Khối u có thể không đau và tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, ngay cả với sự tăng trưởng khối u nhanh, huyết áp có thể vẫn được kiểm soát. 131I-MIBG có thể giúp làm giảm các triệu chứng ở bệnh nhân mắc bệnh còn sót lại. Metrosine, một chất ức chế hydroxylase tyrosine, có thể được sử dụng để giảm sản xuất catecholamine ở những bệnh nhân bị huyết áp cao khó kiểm soát. Xạ trị có thể làm giảm đau xương. Hóa trị hiếm khi có hiệu quả, nhưng phác đồ phổ biến nhất là dùng cyclophosphamide, vincristine và dacarbazine. Dữ liệu gần đây đã cho thấy một số kết quả hứa hẹn với các tác nhân hóa trị liệu temozolomide và điều trị nhắm mục tiêu với sunitinib.

Cập nhật thông tin chi tiết về U Tế Bào Mầm Thần Kinh Trung Ương / 2023 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!