Yoga Điều Trị Ung Thư Vú / 2023 / Top 15 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Sept.edu.vn

Yoga Đem Lại Nhiều Lợi Ích Cho Người Bị Ung Thư Vú / 2023

Một nghiên cứu mới của Mỹ cho thấy rằng yoga có thể có lợi cho những người bị ung thư vú bằng cách giảm mệt mỏi và viêm. Yoga có rất nhiều dạng bài tập luyện, các nhà nghiên cứu tin rằng bài tập thở và thiền định có thể có tác động lớn nhất đến những người bị ung thư làm giảm mệt mỏi và viêm.

Vào buổi cuối của tuần thứ 12 tại các lớp học yoga, một nhóm phụ nữ đã hoàn thành khóa học, còn một nhóm phụ nữ khác đã hoàn thành điều trị ung thư vú, bao gồm cả phẫu thuật và xạ trị. Kết quả cho thấy, nhóm được hướng dẫn tập Yoga trung bình đã giảm mệt mỏi 57% và giảm viêm đến 20%, so với một nhóm tương tự, không được hướng dẫn yoga.

Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy rằng những phụ nữ thực hành Yoga nhiều hơn thì kết quả nhận được sẽ tốt hơn. Họ báo cáo các kết quả của thử nghiệm ngẫu nhiên trên tạp chí Journal of Clinical Oncology.

Trưởng nhóm nghiên cứu Janice Kiecolt – Glaser, một giáo sư tâm thần học và tâm lý học tại Đại học bang Ohio ở Columbus, cho biết nghiên cứu cho thấy nhiều tháng thực hành yoga có thể có ích đáng kể cho những người bị ung thư vú. Cô cũng cho rằng việc này có thể có ích cho người đang trong tình trạng mệt mỏi và bị viêm khác.

Thử nghiệm lớn nhất về tác động của yoga đối với những người ung thư được biết đến bằng cách sử dụng các biện pháp sinh học

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng yoga có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân ung thư. Ví dụ, trong năm 2010, một nhóm nghiên cứu khác từ Mỹ báo cáo cách giảm mệt mỏi và cải thiện chất lượng giấc ngủ sau 4 tuần tập Yoga của những người bị ung thư, họ thấy phải dùng thuốc ngủ ít hơn và cải thiện được chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, sau nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu tin rằng nó là thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên lớn nhất được biết về hiệu quả của yoga đối với những người bị ung thư. Họ đã quyết định tập trung vào những người bị ung thư vú vì điều trị họ phải trải qua quá trình rất nghiêm ngặt và đòi hỏi phải cố gắng rất nhiều.

Trong nghiên cứu, các nhà nghiên cứu lựa chọn 200 phụ nữ đã trải qua điều trị ung thư vú và ngẫu nhiên xếp họ vào vào một trong hai nhóm can thiệp hoặc nhóm kiểm soát Những người tham gia ở độ tuổi 27-76 và đã hoàn thành phẫu thuật hoặc xạ trị trong khoảng 2 tháng đến 3 năm trước khi tham gia thử nghiệm, họ chưa hề tập yoga trước khi họ tham gia nghiên cứu.

Thử nghiệm thiết kế để có thể áp dụng đạt kết quả đối với những người bị bệnh ung thư khác

Họ cố tình tuyển chọn những người tham gia có sự kết hợp độ tuổi khác nhau, bị bệnh ung thư ở các giai đoạn khác nhau (từ 0 đến 3A), và những người đã trải qua một loạt các phương pháp điều trị, vì vậy họ có thể khái quát kết quả trên phạm vi rộng. Nhóm can thiệp được theo học 12 tuần Hatha yoga, mỗi tuần 2 buổi, mỗi buổi 90 phút, và cũng được khuyến khích thực hành ở nhà. Họ cũng lưu giữ một bản ghi tổng số buổi thực hành hàng tuần của họ.

Những người tham gia nhóm kiểm soát sẽ tham gia các lớp học yoga sau khi nghiên cứu đã hoàn thành và đã được yêu cầu không tập yoga trong khi chờ đợi. Kết quả của 2 nhóm được ghi nhận tại ba thời điểm trong thời gian nghiên cứu, một lần vào đầu, sau đó vào cuối 12 tuần của các lớp học yoga, và cuối cùng là 3 tháng sau đó.

Ở cả ba thời điểm, cả hai nhóm hoàn thành bảng câu hỏi để các nhà nghiên cứu đánh giá sự mệt mỏi, mức năng lượng, các triệu chứng của trầm cảm, chất lượng giấc ngủ, chế độ ăn uống và tập thể dục. Họ cũng đã lấy mẫu máu để đo lường mức độ của 3 loại protein gây viêm: interleukin-6 (IL -6), interleukin -1 beta (IL -1B ) và yếu tố gây hoại tử khối u -alpha (TNF- a). Đầu tiên họ đã được tiêm một hợp chất gây ra một phản ứng miễn dịch trước khi lấy các mẫu máu.

Giảm mệt mỏi, tăng sức sống và giảm các dấu hiệu viêm

Kết quả cho thấy ngay sau khi ngừng các lớp học yoga, các nhóm tập yoga báo cáo trung bình giảm 41% các triệu chứng mệt mỏi, và sức sống cao hơn 12%, so với nhóm không tập yoga. Cũng tại thời điểm này, nhóm tập yoga cho thấy trung bình các protein gây viêm thấp hơn nhóm kia: TNF -a thấp hơn 10%, IL -1B IL-6 thấp hơn 11%, và IL-1B thấp hơn15%.

Phân tích sâu hơn cho thấy nhóm tập yoga có sự cải thiện đáng kể về giấc ngủ so với nhóm kiểm soát. Kết quả này cũng cho thấy những phụ nữ tập yoga nhiều hơn thì cải thiện hơn về tình trạng mệt mỏi, sức sống, triệu chứng trầm cảm, kèm theo giảm tăng 2 protein gây viêm.

Giáo sư Kiecolt – Glaser nói: “Chúng tôi đã thực sự ngạc nhiên về các dữ liệu này bởi vì một số nghiên cứu gần đây về tập thể dục cho rằng: tập thể dục có thể không hẳn làm giảm viêm khớp, trừ đối với những người quá thừa cân hoặc có vấn đề về trao đổi chất. Trong nhóm này, những người phụ nữ không bị giảm cân, nhưng chúng tôi đã thấy dấu hiệu giảm viêm”

Có nhiều bài tập yoga, bao gồm thiền định, tập thở, kéo căng và nâng cao. Nhưng các nhà nghiên cứu nghĩ rằng đối với nghiên cứu này, các phần đem lại lợi ích nhất là thực hành thở và thiền định, như Giáo sư Kiecolt – Glaser giải thích: “Chúng tôi nghĩ rằng cải thiện giấc ngủ có thể chính là một phần của cơ chế dẫn đến những gì chúng tôi thấy. Khi người phụ nữ ngủ tốt hơn, tỷ lệ viêm có thể được hạ xuống. Khi giảm được mệt mỏi, phụ nữ sẽ tham gia vào các hoạt động khác theo thời gian. Vì vậy, yoga có thể đã cung cấp thêm một loạt lợi ích ngoài các bài tập yoga “

Ung Thư Vú Và Cách Điều Trị / 2023

Chẩn đoán, xác định ung thư vú

– Lâm sàng: Khối u vú thường không gây đau, một số trường hợp có chảy dịch đầu vú (dịch máu hoặc dịch vàng chanh) u có mật độ cứng rắn, mặt gồ ghề, ranh giới có thể rõ hoặc không.

Trong những trường hợp đến muộn, u có thể xâm lấn vào thành ngực làm hạn chế di động hoặc xâm nhiễm da tạo hình ảnh “sần da cam” hoặc vỡ loét, đôi khi ung thư vú cũng biểu hiện như một viêm tấy lan tỏa vùng vú (ung thư vú thể viêm).

Trong nhiều trường hợp bệnh nhân thường có hạch nách cùng bên, hạch có thể có các mức độ tổn thương từ mềm đến cứng hoặc xâm nhiễm dính vào xung quanh tùy theo mức độ tiến triển bệnh. Trong mọi trường hợp đều phải lưu ý khám hạch thượng đòn và tuyến vú đối bên.

– Chụp X quang tuyến vú: tổn thương điển hình có dạng hình sao nhiều chân, co kéo tổ chức tuyến vú, có nhiều chấm vi canxi hoá tập hợp thành đám.

– Xét nghiệm tế bào học: thường thấy các tế bào ung thư mất sự kết dính, đa hình thái, tỷ lệ nhân nguyên sinh chất tăng, nhiều nhân quái nhân chia, bào tương kiềm tính.

Khi cả ba phương pháp trong bộ ba kinh điển đều cho kết quả dương tính thì có thể đi đến chẩn đoán xác định. Nếu một trong ba phương pháp này nghi ngờ, bác sĩ lâm sàng có thể chỉ định sinh thiết kim, sinh thiết tức thì hoặc sinh thiết mở thường quy để khẳng định chẩn đoán.

– Sinh thiết tức thì: cho phép chẩn đoán xác định ung thư ngay khi bệnh nhân ở trên bàn mổ.

– Sinh thiết mở: trong nhiều trường hợp chỉ phát hiện được ung thư sau khi đã phẫu thuật lấy u. Vì vậy, mọi trường hợp mổ u vú đấu bắt buộc phải kiểm tra giải phẫu bệnh khối u, đặc biệt là đối với các bệnh nhân trên 35 tuổi.

Các xét nghiệm đánh giá bilan chung và đánh giá tình trạng di căn xa: xét nghiệm máu, sinh hoá, siêu âm, X-quang.

Chẩn đoán giai đoạn

Chẩn đoán TNM và giai đoạn theo Tổ chức Chống ung thư quốc tế UICC 2002.

T: U nguyên phát (Pnmai tumor).

Tx: Không xác định được u nguyên phát.

To: Không có dấu hiệu u nguyên phát.

Tis: Carcinoma tại chỗ: Carcinoma nội ống, carcinoma thể thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không sờ thấy u.

Tl: U có đường kính lớn nhất không vượt quá 2cm.

TI vi thể: u có đường kính 0,1 cm.

T la : 0,1 u 0,5 cm.

T lb: 0.5 cm u 1 cm.

T4: u mọi kích thước nhưng có xâm lấn thành ngực hoặc da bao gồm.

T4a: Xâm lấn tới thành ngực.

T4b: u xâm lấn tới da bao gồm sần da cam hoặc loét da vú, hoặc nhiều khối u dạng vệ sinh ở da.

T4c: Bao gồm T4a và T4b nhưng giới hạn ở một bên vú.

(Thành ngực bao gồm xương sườn, cơ liên sườn 11 và cơ răng trước không tính cơ ngực lớn).

Nx: Không xác định được hạch vùng (ví dụ hạch đã được lấy bỏ).

N0: Không có di căn hạch vùng.

N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.

N2: Di căn hạch nách cùng bcn dính nhau hoặc dính vào tổ chức xung quanh.

N3: Di căn hạch vú trong hoặc hạch thượng đòn cùng bên.

Mx: Không xác định được di căn xa.

M0: Không có di căn xa.

– Phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách: Đây là phương pháp phẫu thuật cơ bản, bao gồm cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và nạo vét hạch nách thành một khối (en bloc). Nhờ những hiểu biết mới về sinh bệnh học ung thư vú cho rằng đó là căn bệnh có tính chất toàn thân mà hiện nay quan điểm mở lộng độ triệt căn của phẫu thuật như cắt cơ ngực kèm theo cắt tuyến vú hoặc cắt cơ ngực để vét hạch nách… không còn được ưa chuộng. Thay vào đó người ta mở rộng chỉ định điều trị hoá chất tân bổ trợ để làm hạ giai đoạn bệnh trước phẫu thuật.

– Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú: áp dụng ở những nơi có máy xạ trị và bệnh nhân đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về chỉ định. Phẫu thuật bao gồm cắt rộng phần tuyến vú có u và nạo vét hạch nách. Phương pháp điều trị bảo tồn không những không làm thay đổi kết quả sống thêm mà còn nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

– Phẫu thuật cắt buồng trứng: áp dụng cho bệnh nhân ung thư vú còn kinh nguyệt có thụ thể nội tiết dương tính.

Xạ trị hậu phẫu đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư vú từ những năm đầu thế kỉ XX. Vai trò của điều trị tia xạ trong việc hạn chế tái phát đã được khẳng định, tuy nhiên xạ trị cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư thứ phát và nguy cơ mắc một ro bệnh tim mạch. Xạ trị sau phẫu thuật cắt tuyến vú thường sử dụng các trường chiếu tiếp tuyến để tránh làm tổn thương nhu mô phổi với tổng liều 50Gy.

Trong trường hợp có di căn hạch nách, có thể bổ sung trường chiếu rộng ở nách và thượng đòn với liều 50Gy. Xạ trị sau phẫu thuật bảo tồn tuyến vú thường sử dụng trường chiếu lộng để phòng ngừa tình trạng tái phát tại tuyến vú và hạch nách, liều chiếu 50 -60Gy.

Hình thức áp dụng hóa trị liệu cũng phong phú từ điều trị cho bệnh nhân giai đoạn không mổ được tại thời điểm chẩn đoán (điều trị hoá chất tân bổ trợ), điều trị hoá chất sau mổ (điều trị bổ trợ) cho những bệnh nhân có di căn hạch nách hoặc có các yếu tố nguy cơ cao đến điều trị triệt căn khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.

Hoá chất ít khi sử dụng đơn hoá trị mà thường có sự kết hợp các thuốc trong các phác đồ đa hoá trị liệu. Đã có rất nhiều các phác đồ hoá trị liệu được áp dụng, những sơ bộ có thể phân ra làm 3 nhóm: Các phác đồ không có anthracycline, các phác đồ có anthracycline và các phác đồ có taxanes.

Hiện tại, nhờ sự phát triển của công nghệ sinh học một số kháng thể đơn dòng đã được đưa vào ứng dụng điều trị tại các nước phát triển và Việt Nam như trastuzumab (herceptin). Kết quả bước đầu cho thấy, kháng thể đơn dòng khi kết hợp với hóa chất mang lại hiệu quả cao hơn so với nhóm chỉ được dùng hóa chất đơn thuần trong điều trị ung thư vú có Her-2/neu dương tính.

Trong nhiều trường hợp tái phát hoặc di căn vẫn có thể áp dụng tiếp phương pháp điều trị nội tiết bằng các thuốc nội tiết bậc 2, bậc 3… kết hợp với các phác đồ hoá chất thích hợp. Hiện tại, với các trường hợp có thụ thể nội tiết dương tính trên phụ nữ đã mãn kinh có thể dùng nội tiết điều trị bổ trợ ngay từ đầu bằng các thuốc chặn men aromatase.

Các phương pháp điều trị ung thư thường dẫn đến sự tàn phá lớn đối với cơ thể, bên cạnh đó, chẩn đoán ung thư cũng là một điều dễ gây ra những sang chấn tâm lý cho người bệnh. Do đó, công tác chăm sóc làm giảm các tác dụng phụ của điều trị cũng như nâng đỡ về tinh thần cho người bệnh cũng rất quan trọng, giúp người bệnh nhanh chóng trở về với cuộc sống bình thường.

Đối với những trường hợp tái phát, di căn, ung thư giai đoạn cuối cũng rất cần được chăm sóc, điều trị chống đau và giảm nhẹ triệu chứng nhằm đem lại cuộc sống dễ chịu hơn cho người bệnh.

Tóm lại, ung thư vú là một căn bệnh rất phổ biến ở phụ nữ Việt Nam cũng như trên thế giới. Trong điều trị ung thư vú đòi hỏi phải nắm vững những kiến thức cơ bản về sinh bệnh học và cũng rất cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc thuộc nhiều chuyên khoa sâu về ung thư học nhằm đạt được thành công ở mức độ cao nhất.

Yoga Chữa Bệnh Đau Nửa Đầu / 2023

Yoga chữa bệnh đau nửa đầu

Thưa bác sĩ! Cháu là Minh, năm nay 18 tuổi. Đợt vừa rồi cháu có chuẩn bị để ôn thi đại học. Thì thời gian ấy cháu bị đau nửa đầu rất nhiều. Cháu cứ nghĩ là do bị áp lực căng thẳng do thi cử nên mới bị vậy. Nhưng cháu thi xong rồi, cũng biết điểm điểm rồi, mà các cơn đau đầu của cháu từ đợt ý đến nay vẫn không thấy hết. Cháu chỉ bị đau nửa đầu thôi chứ không có biểu hiện gì lạ.

Mẹ cháu bảo có khả năng cháu bị thiếu máu não, cũng mua thuốc cho cháu bổ não rồi. Nhưng cũng chỉ hạn chế được phần nào ạ. Cháu không dám dùng thuốc kháng sinh giảm đau nhiều vì cháu bị thận yếu . Nghe nói có cách chữa bệnh đau nửa đầu bằng yoga rất tốt. Vậy bác sĩ cho cháu hỏi các bài tập yoga chữa bệnh đau nửa đầu cho cháu thì cần phải tập như thế nào ạ. Cháu xin cảm ơn bác sĩ!

Tập yoga tác dụng chữa đau nửa đầu như thế nào?

Từ lâu yoga đã là các bài tập rèn luyện cơ thể và sự dẻo dai của các cơ xương khớp vô cùng hiệu quả. Được du nhập về Việt Nam khá mới, nhưng các bài tập yoga đã chiếm chọn lòng tin và tình yêu của các chị em phái nữ về bài tập rèn luyện sức khỏe này.

Các bài tập yoga chú trọng vào việc điều hòa nhịp thở, tạo sự đổi mới luồng gió cho 2 lá phổi. Là sự hòa hợp giữa thể chất và tinh thần, khi cơ thể bị căng thẳng hay mệt mỏi thì luyện tập yoga là lựa chọn tốt nhất.

Một số bài tập yoga chữa đau nửa đầu.

Bài tập thở: tạo tư thế ngồi thoải mái, khoanh chân lại. Nhắm mắt lại và thả lỏng cơ thể, hít vào thật sâu bụng phình ra, thở ra bụng xẹp lại, dàn đều khí lên 2 lá phổi.

Bài tập này sẽ giúp tái tạo luồng khí trong cơ thể, giúp thẩm thấu sâu vào từng tế bào, sưởi ấm các cơ quan nội tạng, đả thông kinh mạch, tăng lưu thông các mạch máu dưới da, và dây thần kinh trung ương.

Bài tập vổ vai gáy: bài tập yoga chữa đau nửa đầu này có tác dụng giúp lưu thông khí huyết ở vùng cổ vai gáy. Bạn thả lỏng cơ thể, đặt 2 lòng bàn tay úp vào đầu gối, xoay tròn cổ vai gáy.

Bắt đầu bài tập hít vào sâu, cúi gập cằm xuống quay sang bên trái, thực hiện động tác xoay 8 vòng và xoay ngược lại. Kết thúc bài tập quay đầu vai gáy thì trở về tư thế gập cằm xuống gần cổ và hít sâu. Động tác này thở ra, hít vào 3 nhịp để điều hòa tim mạch và khí huyết trong cơ thể.

Bài tập mát xa não bộ và da đầu: bạn gập 2 chân, ngồi tư thế kim cương. Tư thế này giúp xoa bóp bộ não đỉnh đầu và da đầu, tăng cường thức đẩy máu về não, trẻ hóa bộ não, giúp tinh thần sảng khoái. Bạn ngồi mở rộng 2 gối bằng vai, áp gót chân vào mông.

Bắt đầu thực hiện cúi đầu xuống và thở hết ra, hạ đỉnh đầu xuống dưới sàn, mát xa bộ não và da đầu. Đẩy mông và thân đầu lên lăn đều nhẹ nhàng. Nếu chóng mặt rút ngắn thời gian mát xa da đầu.

Hít thở đều 10 giây thì nâng nhẹ đầu lên và cuộn từng khớp xương cột sống nâng lên. Thận trọng đốt sống cổ gáy để tránh làm chúng bị tổn thương do co rụt mạnh. Nên tập trước khi đi ngủ và lúc căng thẳng, bạn sẽ cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng và thoải mái.

Các bài tập vừa rồi hy vọng đã giúp bạn Minh có thể tự tập luyện ở nhà để giảm các cơn đau cho mình. Tuy nhiên nếu bạn vẫn không thấy tình trạng đau nửa đầu thuyên giảm hoặc xuất hiện thêm các biểu hiện khó chịu, yoga chữa đau nửa đầu đau đầu buồn nôn, mệt mỏi thì bạn nên đi thăm khám ngay. Bởi có thể bạn đang có dấu hiêu của các bệnh về não bộ và tổn thương các dây thần kinh trung ương. Nếu không khám để tìm ra bệnh và điều trị sớm sẽ khiến bệnh tăng nặng, khó có thể trị khỏi hoàn toàn.

Điều Trị Ung Thư Vú Khi Mang Thai / 2023

Thứ ba, 06 Tháng 8 2019 11:21 Biên tập viên Số truy cập: 1273

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh- Khoa Phụ Sản

Nếu một phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú khi mang thai, các lựa chọn điều trị sẽ phức tạp hơn vì mọi người sẽ muốn có được phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh ung thư đồng thời bảo vệ em bé. Phương pháp điều trị và thời gian điều trị sẽ được lên kế hoạch cẩn thận và phối hợp giữa nhóm chăm sóc ung thư , bác sĩ sản khoa và sơ sinh.

Mục tiêu điều trị cho phụ nữ mang thai bị ung thư vú cũng giống như điều trị cho một phụ nữ không mang thai: chữa ung thư bất cứ khi nào có thể, hoặc kiểm soát và giữ cho nó không lan rộng nếu không thể chữa khỏi. Nhưng mối quan tâm thêm việc bảo vệ thai nhi có thể làm cho điều trị trở nên phức tạp hơn.

Điều trị ung thư vú khi mang thai có an toàn?

Phụ nữ mang thai có thể điều trị ung thư vú một cách an toàn, mặc dù các loại điều trị được sử dụng và thời gian điều trị có thể bị ảnh hưởng bởi thai kỳ. Nếu đang mang thai mà mắc bệnh ung thư vú, các khuyến nghị điều trị sẽ phụ thuộc vào:

Kích thước của khối u

Vị trí khối u.

Nếu ung thư đã lan rộng thì lan đến đâu?

Tuổi thai?

Sức khỏe của mẹ

Sự lựa chọn của thai phụ

Phẫu thuật ung thư vú nói chung là an toàn trong khi mang thai. Hóa trị dường như an toàn cho em bé nếu được dùng trong quý II và quý III của thai kỳ, tuy nhiên không an toàn trong ba tháng đầu. Các phương pháp điều trị ung thư vú khác, như liệu pháp hormone, liệu pháp nhắm trúng đích và xạ trị, có nhiều khả năng gây hại cho em bé và thường không được đưa ra trong thai kỳ.

Lựa chọn điều trị có thể trở nên phức tạp nếu có mâu thuẫn giữa phương pháp điều trị tốt nhất cho mẹ và sự an toàn cho thai. Ví dụ, nếu một phụ nữ được phát hiện mắc ung thư vú sớm trong thai kỳ và cần hóa trị ngay lập tức, cô ấy có thể được khuyên nên suy nghĩ về việc kết thúc thai kỳ. Một cố vấn hoặc nhà tâm lý học cũng nên là một phần của nhóm chăm sóc sức khỏe để hỗ trợ về mặt tâm lý khi cần thiết.

Phẫu thuật ung thư vú khi mang thai

Phẫu thuật để loại bỏ ung thư ở vú và các hạch bạch huyết là điều trị chính cho phụ nữ bị ung thư vú giai đoạn sớm, và nói chung là an toàn trong thai kỳ.

Các lựa chọn cho phẫu thuật ung thư vú có thể bao gồm:

Loại bỏ toàn bộ vú (cắt bỏ vú )

Phẫu thuật loại bỏ phần chứa ung thư ( phẫu thuật cắt u hay bảo tồn vú (BCS)

Phẫu thuật cắt bỏ vú được sử dụng thường xuyên hơn cho phụ nữ mang thai bị ung thư vú vì hầu hết phụ nữ bị BCS đều cần xạ trị sau đó. Nếu xạ trị trong khi mang thai, có thể ảnh hưởng đến em bé, vì vậy nó không chỉ định cho đến sau khi sinh. Nhưng trì hoãn xạ trị quá lâu có thể tăng nguy cơ ung thư tái phát.

Nếu ung thư được tìm thấy trong tam cá nguyệt thứ ba, BCS có thể là một lựa chọn vì có thể ít hoặc không có sự chậm trễ trong điều trị tia xạ, đặc biệt là nếu hóa trị được lên kế hoạch sau phẫu thuật. (Tia xạ thường được đưa ra sau khi hóa trị liệu hoàn tất.) Nhưng nếu ung thư được phát hiện sớm trong thai kỳ, việc xạ trị thường sẽ bị chậm trễ. Đối với phụ nữ trong tình huống này, phẫu thuật cắt bỏ vú có thể là một lựa chọn tốt hơn BCS sau đó là xạ trị.

Kiểm tra các hạch bạch huyết để phát hiện ung thư lan tràn

Ngoài việc loại bỏ khối u ở vú, vét hạch bạch huyết ở nách cũng cần thực hiện. Sinh thiết hạch cảnh vệ có thể là một lựa chọn tùy thuộc vào thời gian mang thai và giai đoạn ung thư. Quy trình này sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ nhẹ và thuốc nhuộm màu xanh để xác định chính xác các hạch chứa các tế bào ung thư. Tuy nhiên, một số chuyên gia khuyên sinh thiết hạch cảnh vệ chỉ nên thực hiện sau khi chấm dứt thai kỳ do tác dụng của thuốc phóng xạ và thuốc nhuộm có thể sảnh hưởng lên thai.

Gây mê có an toàn khi mang thai không?

Phẫu thuật ung thư vú thường mang lại ít rủi ro cho em bé. Nhưng có những thời điểm nhất định trong thai kỳ khi gây mê có thể gây nguy hiểm cho em bé.

Điều trị sau phẫu thuật

Tùy thuộc vào giai đoạn ung thư, bạn có thể cần điều trị phối hợp hóa trị, xạ trị, liệu pháp hormone và / hoặc liệu pháp nhắm trúng đích sau phẫu thuật để giúp giảm nguy cơ ung thư tái phát. Điều này được gọi là điều trị bổ trợ . Trong một số trường hợp, điều trị này chỉ định sau khi sinh.

Hóa trị

Hóa trị có thể được sử dụng sau phẫu thuật (như điều trị bổ trợ) cho một số giai đoạn sớm của ung thư vú. Nó cũng có thể được sử dụng cho bệnh ung thư tiến triển.

Hóa chất không chỉ định trong 3 tháng đầu của thai kỳ vì đây là giai đoạn hình thành và phát triển của thai, nguy cơ sẩy thai. Trong nhiều năm, mọi người đã nghĩ rằng hóa trị sẽ gây hại cho thai nhi bất kể khi nào. Nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số loại thuốc hóa học được sử dụng trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba (tháng 4 đến 9 của thai kỳ) không làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh, thai chết lưu hoặc các vấn đề sức khỏe ngay sau khi sinh, mặc dù chúng có thể làm tăng nguy cơ sinh non. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết liệu những đứa trẻ này có ảnh hưởng lâu dài hay không?

Nếu ung thư vú giai đoạn sớm cần hóa trị sau phẫu thuật (hóa trị bổ trợ), nó thường sẽ bị trì hoãn cho đến ít nhất là trong tam cá nguyệt thứ hai. Nếu phát hiện ung thư ở tam cá nguyệt thứ ba, hóa trị có thể bị trì hoãn cho đến sau khi sinh. Việc sinh sớm một vài tuần có thể được chỉ định trong một số trường hợp. Những kế hoạch điều trị tương tự cũng có thể sử dụng cho ung thư tiến triển.

Hóa chất thường không được khuyến cáo sau 35 tuần mang thai hoặc trong vòng 3 tuần trước sinh vì nó có thể làm giảm số lượng tế bào máu của mẹ . Điều này có thể gây chảy máu và tăng khả năng nhiễm trùng trong khi sinh. Hoãn hóa trị trong vài tuần trước khi sinh cho phép công thức máu của người mẹ trở lại bình thường trước khi sinh con.

Phương pháp điều trị thường chờ đợi cho đến sau khi sinh đẻ

Một số phương pháp điều trị ung thư vú có thể gây hại cho em bé và không an toàn khi mang thai. Nếu những phương pháp điều trị này là cần thiết, chúng thường được lên lịch sau khi em bé được sinh ra.

Xạ trị: Xạ trị thường được sử dụng sau phẫu thuật bảo tồn vú (cắt bướu) để giúp giảm nguy cơ ung thư tái phát. Liều cao của bức xạ được sử dụng có thể gây hại cho em bé trong khi mang thai. Điều này có thể gây sẩy thai, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển của thai nhi hoặc nguy cơ ung thư ở trẻ em cao hơn. Vì thế, các bác sĩ không sử dụng xạ trị trong thai kỳ.

Đối với một số phụ nữ bị ung thư được phát hiện trễ trong thai kỳ, có thể cắt bỏ khối u trong khi mang thai và sau đó đợi đến khi em bé được sinh ra để được xạ trị. Nhưng phương pháp điều trị này chưa được nghiên cứu kỹ. Trì hoãn xạ trị quá lâu có thể làm tăng nguy cơ ung thư tái phát.

Liệu pháp hormon: Liệu pháp hormon thường được sử dụng như một liệu pháp bổ trợ sau phẫu thuật hoặc điều trị ung thư vú tiến triển ở ung thư vú dương tính với thụ thể hoóc môn (ER dương tính hoặc PR dương tính). Nội tiết tố được sử dụng cho ung thư vú bao gồm tamoxifen, anastrozole, letrozole và exemestane. Không nên sử dụng liệu pháp hormon trong thai kỳ vì nó có thể ảnh hưởng đến em bé. Nó được trì hoãn cho đến sau khi người phụ nữ đã sinh con.

Liệu pháp nhắm trúng đích: Thuốc nhắm vào HER2, như trastuzumab (Herceptin), pertuzumab (Perjeta), ado-trastuzumab emtansine (Kadcyla) và lapatinib (Tykerb), là một phần quan trọng trong điều trị HER2 dương tính. Ở những phụ nữ không mang thai, trastuzumab được sử dụng như một phần của điều trị bổ trợ sau phẫu thuật, pertuzumab có thể được sử dụng với trastuzumab trước khi phẫu thuật và tất cả các loại thuốc này có thể hữu ích trong điều trị ung thư tiến triển. Nhưng dựa trên các nghiên cứu trên động vật và báo cáo về những phụ nữ được điều trị trong thai kỳ, không có loại thuốc nào trong số này được coi là an toàn cho em bé nếu dùng trong khi mang thai.

Everolimus (Afinitor) và palbociclib (Ibrance) cũng là những thuốc được nhắm trúng đích có thể được sử dụng cùng với liệu pháp hormone để điều trị ung thư vú tiến triển. Một lần nữa, những loại thuốc này không được cho là an toàn để sử dụng trong thai kỳ.

Có thể cho con bú trong khi điều trị ung thư?

Hầu hết các bác sĩ khuyên rằng những phụ nữ vừa mới sinh con và sắp được điều trị ung thư vú nên ngừng (hoặc không bắt đầu) cho con bú.

Nếu lên kế hoạch phẫu thuật ung thư vú, ngừng cho con bú sẽ giúp giảm lưu lượng máu đến vú và làm cho chúng nhỏ hơn. Nó cũng giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng ở vú và có thể tránh tiết sữa ở vùng phẫu thuật và sinh thiết.

Nhiều loại thuốc hóa học, hormone và thuốc trị liệu nhắm trúng đích có thể vào sữa mẹ và truyền cho em bé. Không khuyến khích cho con bú nếu đang dùng hóa trị, hormone hoặc liệu pháp nhắm trúng đich.

Nếu muốn biết khi nào có thể bắt đầu cho con bú an toàn, cần tư vấn với nhóm chăm sóc sức khỏe . Nếu có kế hoạch bắt đầu cho con bú sau khi ngưng sử dụng thuốc, hãy lên kế hoạch trước. Các chuyên gia cho con bú có thể cung cấp và trợ giúp nếu bạn cần.

Mang thai có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sót cho bệnh ung thư vú?

Mang thai có thể làm cho việc chẩn đoán và điều trị ung thư vú khó khăn hơn. Hầu hết các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng kết quả ở phụ nữ mang thai và không mang thai bị ung thư vú là giống nhau đối với các bệnh ung thư được tìm thấy ở cùng giai đoạn, nhưng không phải ai cũng đồng ý ý kiến này.

Một số bác sĩ tin rằng việc kết thúc thai kỳ có thể giúp làm chậm quá trình ung thư vú tiến triển. Kết thúc thai kỳ giúp việc điều trị đơn giản hơn, nhưng các nghiên cứu cũng cho thấy việc kết thúc thai kỳ không giúp cải thiện khả năng sống sót hay ung thư của phụ nữ. Thật khó để biết liệu kết quả có khác với các phương pháp điều trị hiện đại hơn không. Các nghiên cứu không chỉ ra rằng sự chậm trễ điều trị đôi khi cần thiết trong thai kỳ có ảnh hưởng đến kết quả ung thư vú. Cuối cùng, không có báo cáo nào cho thấy chính ung thư vú có thể gây hại cho em bé.

(Dịch từ https://www.cancer.org/cancer/breast-cancer/treatment/treating-breast-cancer-during-pregnancy.html)