Yếu Tố Tăng Nguy Cơ Ung Thư Cổ Tử Cung

Yếu tố nguy cơ là bất kỳ điều gì có thể làm tăng cơ hội mắc một bệnh nào đó, như ung thư chẳng hạn. Các ung thư khác nhau có những yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ, tiếp xúc với ánh mặt trời mạnh là yếu tố nguy cơ của ung thư da, nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc lại là yếu tố nguy cơ của nhiều loại ung thư khác nhau. Nhưng sở hữu một yếu tố nguy cơ, hay thậm chí là nhiều đi nữa, cũng không có nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh.

Nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ nào trong số này hiếm khi phát triển ung thư cổ tử cung. Mặc dù những yếu tố nguy cơ này làm tăng tỷ lệ phát triển ung thư cổ tử cung, nhiều phụ nữ có những nguy cơ này lại không phát triển bệnh. Khi một người phát triển ung thư cổ tử cung hay các tổn thương tiền ung thư, không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng một yếu tố nguy cơ đặc biết nào là nguyên nhân.

Khi suy nghĩ về các yếu tố nguy cơ, nó giúp bạn tập trung vào những yếu tố có thể tránh thay đổi (như hút thuốc hay HPV) hơn là nhưng yếu tố không thể thay đổi được (như là tuổi hay tiền sử gia đình). Dù vậy, việc biết về các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được vẫn rất quan trọng, bởi vì nó thậm chí còn quan trọng hơn cho những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ này để tiến hành tầm soát sớm ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap thường quy.

Những yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung bao gồm:

Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung.

Về vấn đề HPV, mọi người có thể tìm đọc lại bài viết HPV – nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử ung & vaccine phòng ngừa.

Khi một người hút thuốc, họ và những người xung quanh đang “hưởng” rất nhiều những chất hoá học gây ung thư vốn tác động lên nhiều cơ quan khác chứ không phải chỉ có phổi. Những chất hoá học nguy hại này được hấp thụ qua phổi rồi theo dòng máu đi khắp cơ thể. Những phụ nữ có hút thuốc có khả năng mắc ung thư cổ tử cung gấp 2 lần người không hút. Những sản phẩm phụ của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của những phụ nữ có hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tiên rằng những chất này phá huỷ DNA của những tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, hút thuốc còn làm giảm hiệu quả của hệ miễn dịch để có thể chiến đấu chống chọi với HPV.

HIV phá huỷ hệ miễn dịch và đặt phụ nữ vào một nguy cơ mắc HPV cao hơn. Điều này có thể giải thích tại sao phụ nữ mắc AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, do HIV gây ra) có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn. Hệ miễn dịch có vài trò quan trọng trong việc tiêu diệt tế bào ung thư cũng như làm chậm sự phát triển và lây lan của nó. ở phụ nữ nhiễm HIV, một tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có thể diễn tiến thành ung thư xấm lấn nhanh hơn bình thường.

Một nhóm khác có nguy cơ cao là những phu nữ đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, ví dụ như những người đang phải điều trị bệnh tự miễn (là bệnh mà hệ miễn dịch của nhầm lẫn mô của cơ thể với các tác nhân từ bên ngoài và tấn công nó) hoặc để chống thải ghép.

Chlamydia là một loại vi khuẩn gây viêm nhiễm sinh dục tương đối phổ biến, lây truyền qua đường quan hệ tình dục. Nhiếm Chlamydia có thể gây ra viêm khung chậu, dẫn đến vô sinh. Một số nghiên cứu đã thấy rằng nguy cơ ung thư cổ tử cung là cao hơn ở những người phụ nữ mà kết quả xét nghiệm máu chỉ ra bằng chứng của việc đã hoặc đang nhiễm chlamydia (so với những phụ nữ có kết quả xét nghiệm trong giới hạn bình thường). Những phụ nữ đã nhiễm chlamydia thường không cảm nhận thấy triệu chứng nào. Thực tế, họ không thể biết mình đã bị nhiễm trừ khi làm xét nghiệm tìm chlamydia khi đến khám phụ khoa.

Những phụ nữ có chế độ ăn không đủ rau và trái cây có thể tăng nguy cơ đối với ung thư cổ tử cung.

Phụ nữ thừa cân tăng nguy cơ mắc ung thư tế bào tuyến nội mạc tử cung.

Sử dụng thuốc tranh thai trong thời gian dài

Chúng tôi đã có đề cập đến sử dụng thuốc tránh thai đường uống với các nguy cơ ung thư, trong đó có ung thư cổ tử cung.

Bạn có thể đọc lại bài viết Thuốc tránh thai – yếu tố nguy cơ hay bảo vệ trước ung thư .

Một nghiên cứ gần đây thấy rằng những phụ nữ đã từng sử dụng dụng cụ tử cung có nguy cơ ung thư cổ tử cung thấp hơn. Hiệu quả này thậm chí cũng được thấy trên những phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung dưới một năm, và hiệu quả bảo vệ còn được duy trì sau khi đã chấm dứt đặt dụng cụ tử cung.

Những phụ nữ có từ 3 lần sinh trở lên có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn bình thường. không ai có thể nói chính xác tại sao điều này lại đúng. Một lý thuyết cho rằng những phụ nữ này ắt đã quan hệ tình dục mà không thực hiện các biện pháp bảo vệ , do đó làm tăng nguy cơ nhiễm HPV. Nhiều nghiên cứu cũng hướng đến sự thay đổi hormone trong thai kỳ như một khả năng có thể khiến phụ nữ trở nên nhạy cảm với nhiễm HPV cũng như phát triển ung thư. Một suy nghĩ khác là phụ nữ trong thai kỳ có hệ miễn dịch yếu hơn, cho phép HPV dễ dàng xâm nhập hơn cũng như ung thư dễ phát triển hơn

Phụ nữ sinh con trước 17 tuổi có nguy cơ ung thư cổ tử cung sau này gấp 2 lần so với những người đợi đến 25 tuổi hoặc hơn.

Nhiều phụ nữ có thu nhập thấp không có khả năng để sử dụng đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bao gồm Pap test. Điều này có nghĩa họ không thể được tầm soát hay điều trị các tổn thương tiền ung thư.

Tiền sử gia đình có người mắc ung thư cổ tử cung

Nếu mẹ hoặc chị của bạn mắc ung thư cổ tử cung, xác suất để bạn có thể mắc cao hơn từ 2 đến 3 lần so với nếu không ai trong gia đình từng mắc nó. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng một số trường hợp mang tính gia đình này bị gây ra bởi một tình trạng được thừa hưởng mà làm cho người phụ nữ ít có khả năng chống chọi HPV hơn so với những người khác. Trong nhiều trường hợp khác, những phụ nữ trong cùng gia đình với bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiều khả năng có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ đã chỉ ra ở trên.

Mặc dù, yếu tố nguy cơ của ung thư cổ tử cung thì có nhiều, nhưng quan trọng nhất vẫn là HPV. Việc nhận thức được các yếu tố nguy cơ cùng với tiêm ngừa HPV cũng như tầm soát ung thư cổ tử cung sẽ góp phần đáng kể trong việc giảm tỉ lệ phát triển ung thư và tử vong do ung thư cổ tử cung.

Chịu trách nhiệm thông tin: Đặng Phước Hưng. Cố vấn Y học: Dr. Dustin Nguyen, chúng tôi Inc. USA.

‘;

Những Yếu Tố Nguy Cơ Gây Ung Thư Cổ Tử Cung

Biết về các yếu tố nguy cơ giúp chúng ta có thể tập trung vào những yếu tố có thể thay đổi được (ví dụ như hút thuốc lá hay nhiễm virus Human Papilomavirus- HPV) chứ không phải là các yếu tố không thể thay đổi được (như tuổi tác và tiền sử gia đình).

Tuy nhiên biết về các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được cũng rất quan trọng vì bạn có thể chủ động khám bệnh để phát hiện sớm ung thư, ví dụ ở những phụ nữ có yếu tố nguy cơ về tiền sử gia đình sẽ được khuyến cáo làm xét nghiệm PAP test thường xuyên để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung.

Yếu tố nguy cơ là những yếu tố làm thay đổi khả năng mắc bệnh. Những bệnh ung thư khác nhau thì có các yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ nhưng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cường độ cao là yếu tố nguy cơ gây ung thư da. Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ của nhiều loại ung thư. Nhưng có một, thậm chí một vài yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh.

Một vài yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ không có các yếu tố nguy cơ này sẽ hiếm khi mắc ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên cũng có những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ này mà không mắc ung thư. Khi một phụ nữa mắc ung thư cổ tử cung hay có những thay đổi tiền ung thư thì cũng không thể nói rằng đó là do các yếu tố nguy cơ gây nên.

Nhiễm Human Papilomavirus – HPV (virus sinh u nhú ở người)

Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung là nhiễm HPV. HPV là một nhóm gồm hơn 150 virus, một trong số đó gây ra sự phát triển của u nhú, thường được gọi là mụn cóc.

HPV có thể lây nhiễm sang các tế bào ở trên bề mặt da ở miệng, họng, cơ quan sinh dục, hậu môn, nhưng không có trong máu, nội tạng như tim, phổi.

HPV có thể lan truyền từ người qua tiếp xúc trực tiếp da-da, lây truyền qua quan hệ tình dục từ âm đạo, hậu môn, miệng.

Các bác sĩ tin rằng một người phụ nữ chắc chắn bị nhiễm HPV nếu mắc ung thư cổ tử cung. Mặc dù có thể do nhiễm trùng bất kì type nguy cơ cao nào, nhưng 2/3 số phụ nữ bị ung thư cổ tử cung do nhiễm 2 type HPV 16 và 18.

Nhiễm HPV thường xảy ra nhưng hầu hết các lần nhiễm cơ thể có thể tự loại bỏ được. Tuy nhiên, có những trường hợp nhiễm HPV và cơ thể không tự đẩy lùi được và trở thành nhiễm HPV mạn tính. Nhiễm HPV mạn tính, đặc biệt là nhiễm các type nguy cơ cao, cuối cùng có thể dẫn tới ung thư cổ tử cung.

Mặc dù chưa có cách để chữa khỏi nhiễm HPV nhưng có nhiều cách để điều trị mụn cóc và các tế bào phát triển bất thường do HPV gây nên.

Hút thuốc lá

Khi một ai đó hút thuốc thì họ và những người xung quanh có nguy cơ phơi nhiễm với các hóa chất gây ung thư các cơ quan khác ngoài phổi. Những chất có hại được hấp thu qua phổi, vào máu và đi khắp cơ thể.

Suy giảm miễn dịch

HIV là virus gây ra AIDS, phá hủy hệ thống miễn dịch và làm phụ nữ có nguy cơ cao bị nhiễm HPV. Đó là lí do tại sao những phụ nữ bị AIDS có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung.

Hệ thống miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc phá hủy các tế bào ung thư cũng như làm chậm sự phát triển và lan truyền của chúng. Ở phụ nữ bị nhiễm HIV thì các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư xâm lấn với tốc độ nhanh hơn bình thường.

Một nhóm phụ nữ khác cũng có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung là những người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch, ví dụ như những người đang điều trị bệnh tự miễn hay cấy ghép nội tạng.

Nhiễm Chlamydia

Chlamydia là loại vi khuẩn phổ biến gây nhiễm trùng ở cơ quan sinh dục và lây truyền qua quan hệ tình dục. Nhiễm Chlamydia có thể gây viêm vùng chậu và dẫn tới vô sinh.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những phụ nữ có kết quả máu cho thấy đã nhiễm Chlamydia trong quá khứ hoặc hiện tại, có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung so với những phụ nữ có kết quả xét nghiệm máu bình thường. Những phụ nữ bị nhiễm Chlamydia thường không có triệu chứng. Thực tế, họ chỉ biết mình bị nhiễm khi xét nghiệm máu.

Chế độ ăn ít rau và hoa quả

Những phụ nữ có chế độ ăn không đủ rau và hoa quả làm tăng nguy cơ bị ung thư cổ tử cung.

Thừa cân

Những phụ nữ quá béo có khả năng phát triển ung thư biểu mô tuyến ở cổ tử cung

Sử dụng thuốc tránh thanh kéo dài (viên uống tránh thai)

Có bằng chứng chỉ ra rằng sử dụng thuốc tránh thai đường uống kéo dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư tăng lên ở những phụ nữ uống thuốc tránh thai kéo dài, nhưng nguy cơ cũng giảm xuống sau dừng thuốc. Ở nghiên cứu này, nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng gấp 2 lần ở những phụ nữ uống thuốc tránh thai kéo dài trên 5 năm, nhưng nguy cơ trở về mức bình thường sau khi họ dừng thuốc 10 năm.

Sử dụng dụng cụ tử cung (vòng tránh thai)

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những phụ nữ đã từng sử dụng dụng cụ tử cung có nguy cơ thấp bị ung thư cổ tử cung. Ảnh hưởng này được tìm thấy trên những phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung dưới một năm và hiệu quả bảo vệ vẫn còn sau khi dụng cụ tử cung đã được tháo bỏ.

Mang thai nhiều lần

Những người có 3 con trở lên làm tăng nguy cơ bị ung thư cổ tử cung. Một giả thuyết cho rằng một phụ nữ phải quan hệ không được bảo vệ mới có thai vì vậy họ đã phơi nhiễm với HPV nhiều hơn.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho rằng sự thay đổi hóc-môn khi mang thai có thể làm cho phụ nữ dễ nhiễm HPV và phát triển ung thư. Mặt khác, khi mang thai hệ thống miễn dịch yếu hơn cũng tạo điều kiện cho nhiễm HPV và ung thư phát triển.

Có thai lần đầu khi nhỏ hơn 17 tuổi

Phụ nữ có thai lần đầu trước 17 tuổi có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung cao gấp 2 lần so với những phụ nữ có thai lần đầu sau 25 tuổi.

Điều kiện kinh tế thấp

Điều kiện kinh tế thấp cũng là một yếu tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ có thu nhập thấp không có điều kiện tiếp cận với các chăm sóc y tế đầy đủ, bao gồm cả xét nghiệm PAP test. Điều này có nghĩa là họ không được sàng lọc hoặc điều trị các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung.

Diethylstilbestrol (DES)

DES là thuốc nội tiết tố được tiêm cho phụ nữ để phòng sảy thai từ năm 1940 đến 1971. Những phụ nữ sử dụng DES khi họ mang thai phát triển các tế bào ung thư biểu mô tuyến ở âm đạo và cổ tử cung nhiều hơn so với bình thường. Loại ung thư này cực kì hiếm gặp ở những phụ nữ không sử dụng DES. Nó gặp ở khoảng 1/1.000 phụ nữ có mẹ sử dụng DES trong suốt thai kì. Điều này có nghĩa là 99,9% những “cô gái DES” không phát triển ung thư này.

Tiền sử gia đình có người mắc ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung có thể xuất hiện ở một số gia đình. Nếu mẹ hoặc chị gái bị mắc ung thư thì nguy cơ mắc của bạn tăng gấp 2-3 lần so với những phụ nữ không có tiền sử gia đình như vậy.

Các nhà khoa học nghi ngờ rằng những phụ nữ ở các gia đình này có ít khả năng chống lại nhiễm HPV hơn những phụ nữ khác. Trong khi đó thì những phụ nữ này có nhiều khả năng để có một hoặc nhiều hơn các yếu tố không di truyền đã được mô tả ở trên.

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Cổ Tử Cung

Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư xảy ra trong các tế bào của cổ tử cung phần dưới của tử cung kết nối với âm đạo. Khi tiếp xúc với vi-rút, hệ thống miễn dịch của cơ thể thường ngăn chặn vi-rút gây hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, virus tồn tại trong nhiều năm, góp phần vào quá trình khiến một số tế bào cổ tử cung trở thành tế bào ung thư. Để giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung, bạn nên kiểm tra sàng lọc và tiêm vắc-xin HPV.

Ung thư cổ tử cung xảy ra khi sự phát triển bất thường của các tế bào (loạn sản) được tìm thấy trên cổ tử cung, nằm giữa âm đạo và tử cung. Nó thường phát triển trong vài năm. Vì có rất ít triệu chứng, nhiều phụ nữ thậm chí không biết mình mắc bệnh.

Thông thường ung thư cổ tử cung được phát hiện trong phết tế bào Pap, khi khám phụ khoa. Nếu nó được tìm thấy kịp thời, nó có thể được xử lý trước khi nó gây ra vấn đề lớn.

Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV) là một trong những yếu tố nguy cơ bị ung thư cổ tử cung quan trọng nhất để các tế bào phát triển thành ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố khác có thể khiến bạn gặp nguy hiểm.

Ung thư cổ tử cung bắt đầu khi các tế bào khỏe mạnh trong cổ tử cung phát triển những thay đổi (đột biến) trong DNA của chúng. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và nhân lên với tốc độ xác định, cuối cùng sẽ chết theo thời gian định sẵn. Các đột biến của các tế bào phát triển và nhân lên khỏi tầm kiểm soát và chúng không chết. Các tế bào bất thường tích lũy tạo thành một khối (khối u). Các tế bào ung thư xâm lấn các mô gần đó và có thể vỡ ra từ một khối u để di căn (di căn) ở những nơi khác trong cơ thể.

Không rõ nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung, nhưng chắc chắn rằng HPV là một trong những yếu tố nguy cơ. HPV rất phổ biến và hầu hết những người nhiễm virus không bao giờ bị ung thư. Điều này có nghĩa là các yếu tố khác – chẳng hạn như môi trường hoặc lựa chọn lối sống của bạn – cũng quyết định đến việc bạn có bị ung thư cổ tử cung hay không.

3.1. Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV)

HPV có thể lây nhiễm các tế bào trên bề mặt da, và những tế bào lót của bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng và cổ họng, nhưng không phải máu hoặc các cơ quan nội tạng như tim hoặc phổi.

HPV có thể lây lan từ người này sang người khác trong quá trình tiếp xúc da kề da. HPV cũng thông lây qua hoạt động tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và thậm chí bằng miệng.

Các loại HPV khác nhau gây ra mụn cóc trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Một số nguyên nhân gây ra mụn cóc phổ biến ở tay và chân; một số trường hợp gây ra mụn cóc trên môi hoặc lưỡi.

3.2. Quan hệ tình dục

Có nhiều bạn tình, số lượng bạn tình càng nhiều thì nguy cơ bị nhiễm virus càng cao. Một số đối tác có nguy cơ cao như người bị nhiễm HPV hoặc có nhiều bạn tình.

Lạc nội mạc tử cung là một bệnh lý ngày càng nhận được sự quan tâm trong thời gian gần đây, trong đó các mô đáng lẽ phát triển trong tử cung lại được tìm thấy ở các bộ phận khác trên cơ thể. Những mô này có thể có đáp ứng hoặc có chức năng khác so với mô phát triển trong tử cung.

3.4. Hút thuốc

Khi ai đó hút thuốc, họ và những người xung quanh tiếp xúc với nhiều hóa chất gây ung thư ảnh hưởng đến các cơ quan khác ngoài phổi. Những chất có hại này được hấp thụ qua phổi và được máu mang đi khắp cơ thể.

Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp đôi so với người không hút thuốc. Các thành phần của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của phụ nữ hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tin rằng những chất này làm hỏng DNA của các tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống lại nhiễm trùng HPV.

3.5. Có một hệ thống miễn dịch yếu

Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), loại virus gây ra AIDS, làm suy yếu hệ thống miễn dịch và khiến mọi người có nguy cơ nhiễm trùng HPV cao hơn.

Hệ thống miễn dịch rất quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư và làm chậm sự phát triển và lây lan của chúng. Ở phụ nữ nhiễm HIV, tiền ung thư cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư xâm lấn nhanh hơn bình thường.

Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung là những người dùng thuốc để ngăn chặn phản ứng miễn dịch của cơ thể như những người đang điều trị bệnh tự miễn (trong đó hệ thống miễn dịch coi các mô của cơ thể là ngoại lai và tấn công họ).

3.6. Nhiễm Chlamydia

Chlamydia là một loại vi khuẩn tương đối phổ biến có thể lây nhiễm vào hệ thống sinh sản. Nó được lan truyền bởi tiếp xúc tình dục. Phụ nữ bị nhiễm chlamydia thường không có triệu chứng và họ có thể không biết rằng họ bị nhiễm bệnh trừ khi khám phụ khoa. Nhiễm chlamydia có thể là nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây viêm vùng chậu, dẫn đến vô sinh.

Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những phụ nữ có xét nghiệm máu và chất nhầy cổ tử cung đã từng nhiễm chlamydia trong quá khứ hoặc hiện tại. Một số nghiên cứu cho thấy vi khuẩn Chlamydia có thể giúp HPV phát triển và sống trong cổ tử cung có thể làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

3.7. Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài

Có bằng chứng cho thấy uống thuốc tránh thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu cho thấy rằng nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng lên khi phụ nữ dùng thuốc tránh thai lâu dài, nhưng nguy cơ lại quay trở lại sau khi dừng sử dụng thuốc tránh thai và trở lại bình thường sau nhiều năm.

3.8. Mang thai nhiều lần

Phụ nữ đã mang thai đủ 3 lần trở lên có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. Người ta cho rằng điều này có lẽ là do sự gia tăng phơi nhiễm với nhiễm trùng HPV với hoạt động tình dục. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ vì có thể khiến phụ nữ dễ bị nhiễm vi-rút hoặc tăng trưởng ung thư. Một suy nghĩ khác là phụ nữ mang thai có thể có hệ thống miễn dịch yếu hơn, khiến cơ thể bị nhiễm HPV và phát triển thành ung thư.

3.9. Tuổi trẻ khi mang thai đủ tháng

Phụ nữ dưới 20 tuổi mang thai lần đầu tiên sẽ có khả năng bị ung thư cổ tử cung sớm hơn so với những phụ nữ mang thai sau 25 tuổi.

3.10. Tình trạng kinh tế

Nhiều phụ nữ có thu nhập thấp không dễ dàng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ, bao gồm sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV. Điều này có nghĩa là họ có thể không được sàng lọc hoặc điều trị ung thư cổ tử cung.

Để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, bạn nên tiêm phòng vắc-xin HPV. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang triển khai dịch vụ tiêm chủng với nhiều loại vắc-xin đa dạng cho các đối tượng khác nhau, từ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người lớn, phụ nữ trước và trong khi mang thai. Trong đó có vắc-xin phòng bệnh ung thư cổ tử cung. Những ưu điểm khi tiêm vắc-xin tại Vinmec bao gồm:

Bệnh nhân sẽ được các bác sĩ chuyên khoa thăm khám, sàng lọc đầy đủ các vấn đề về thể trạng và sức khỏe, tư vấn về vắc-xin phòng bệnh và phác đồ tiêm, cách theo dõi và chăm sóc sau tiêm chủng trước khi ra chỉ định tiêm vắc-xin theo khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế & Tổ chức Y tế thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả tốt nhất và an toàn nhất cho trẻ.

Đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng nhi giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hiểu tâm lý trẻ và áp dụng cách giảm đau hiệu quả cho trẻ trong quá trình tiêm chủng.

100% bệnh nhân được tiêm chủng được theo dõi 30 phút sau tiêm và đánh giá lại sức khỏe trước khi ra về.

Được theo dõi đa khoa trước, trong và sau tiêm chủng tại Hệ thống y tế Vinmec và luôn có ekip cấp cứu sẵn sàng phối hợp với phòng tiêm chủng xử trí các trường hợp sốc phản vệ, suy hô hấp – ngừng tuần hoàn, đảm bảo xử lý kịp thời, đúng phác đồ khi có sự cố xảy ra.

Vắc-xin được nhập khẩu và bảo quản tại hệ thống kho lạnh hiện đại, với dây chuyền bảo quản lạnh (Cold chain) đạt tiêu chuẩn GSP, giữ vắc-xin trong điều kiện tốt nhất để đảm bảo chất lượng.

Để đăng ký tiêm phòng, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp đến Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc đặt hẹn TẠI ĐÂY.

Những Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Cổ Tử Cung

Những yếu tố nguy cơ của Ung thư cổ tử cung

Cổ tử cung là một phần của cơ quan sinh dục nữ, tiếp nối giữa âm đạo và thân tử cung. Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ đặc biệt trong độ tuổi từ 30 trở lên, xếp hàng thứ 7 trong 10 loại ung thư thường gặp ở nữ giới. Theo Globocan năm 2024, tại Việt Nam, ước tính mỗi ngày có 11 phụ nữ mắc mới và 07 phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung

Yếu tố nguy cơ gây Ung thư cổ tử cung

Nguyên nhân chính gây Ung thư cổ tử cung là do nhiễm kéo dài một số chủng vi rút HPV. Vi rút HPV có hơn 100 típ vi rút gây bệnh được phân loại thành các típ nguy cơ cao và các típ nguy cơ thấp. Có 14 típ nguy có cao có khả năng gây ung thư ở các vị trí như cổ tử cung, âm hộ, âm đạo hậu môn, dương vật… 70% các trường hợp Ung thư cổ tử cung là do HPV típ 16, 18.

Một số yếu tố nguy cơ khác sau đây có thể tăng khả năng mắc bệnh:Quan hệ tình dục sớm; Quan hệ tình dục với nhiều người; Quan hệ tình dục không an toàn; Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, suy giảm miễn dịch; Hút thuốc lá;  Sinh nhiều con (từ 3 con trở lên)

Minh họa ung thư cổ tử cung (nguồn internet)

Khoa Phòng, chống bệnh không lây nhiễm – Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM

Yếu Tố Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung Từ Virut Hpv

Virut Human Pappiloma (HPV) được coi là tác nhân chủ yếu gây ra bệnh ung thư cổ tử cung, 99,7% các trường hợp ung thư cổ tử cung đều có sự xuất hiện của loại virut này.

Virut HPV là loại virut với hơn 100 týp, trong đó có khoảng 15 týp có khả năng gây ung thư gọi là týp “nguy cơ cao”, trong đó phổ biến nhất là các týp HPV 16 và 18 nguyên nhân gây ra hơn 70% trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn cầu, tiếp đó là týp 31 và 45.

Con đường lây nhiễm và biểu hiện

Loại virut HPV này lây nhiễm qua quan hệ tình dục, thậm chí ngay cả khi tiếp xúc ngoài da cũng có thể bị lây nhiễm. Tất cả phụ nữ đều có nguy cơ bị nhiễm virut HPV khi quan hệ tình dục.

Các trường hợp lây nhiễm virut HPV đều không có biểu hiện rõ ràng, bệnh có thể tự hết mà không cần điều trị sau xuất hiện vài tháng. Nếu nhiễm HPV týp có nguy cơ cao có thể tồn tại lâu dài làm biến đổi gen tế bào cổ tử cung một cách bất thường dẫn đến tổn thương ở mức độ thấp và tăng dần gây ra bệnh ung thư. Quá trình này diễn ra một cách âm thầm trong thời gian từ 10 đến 15 năm.

Phòng ngừa việc lây nhiễm virut HPV cho phụ nữ có quan hệ tình dục

Một trong những biện pháp hiệu quả để giảm nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư cổ tử cung là tiêm vắc xin phòng chống lây nhiễm của virut HPV. Đối tượng tốt nhất để tiêm ngừa là những phụ nữ dưới 25 tuổi và chưa quan hệ tình dục lần đầu. Đối với những trường hợp phụ nữ dưới 40 tuổi và đã quan hệ tình dục và đã sinh con thì hiệu quả phòng ngừa của vắc xin sẽ kém hơn.

Trong giai đoạn các cơ quan sinh dục đang phát triển và rất nhạy cảm, tức ở tuổi vị thành niên thì không nên có quan hệ tình dục. Việc quan hệ tình dục sớm sẽ dẫn đến việc lây nhiễm virut HPV với nguy cơ cao.

Xây dựng đời sống tình dục lành mạnh, an toàn và sử dụng bao cao su trong các lần quan hệ tình dục nhằm giảm nguy cơ nhiễm HPV.

Các chị em phụ nữ nên vệ sinh vùng kín sạch sẽ và thường xuyên trong các kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi quan hệ tình dục. Khi có những biểu hiện bất thường cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

Tầm soát ung thư định kỳ nhằm phát hiện tế bào ung thư cổ tử cung sớm và xét nghiệm để tiêu diệt virut HPV kịp thời làm giảm nguy cơ mắc bệnh.

Nguồn báo:

http://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/cac-loai-benh/ung-thu-co-tu-cung-va-tac-nhan-gay-benh-382239.html

Bài thuốc hữu ích:

Bác sĩ Vũ Văn Luận