Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Sept.edu.vn

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư xảy ra trong các tế bào của cổ tử cung phần dưới của tử cung kết nối với âm đạo. Khi tiếp xúc với vi-rút, hệ thống miễn dịch của cơ thể thường ngăn chặn vi-rút gây hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, virus tồn tại trong nhiều năm, góp phần vào quá trình khiến một số tế bào cổ tử cung trở thành tế bào ung thư. Để giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung, bạn nên kiểm tra sàng lọc và tiêm vắc-xin HPV.

Ung thư cổ tử cung xảy ra khi sự phát triển bất thường của các tế bào (loạn sản) được tìm thấy trên cổ tử cung, nằm giữa âm đạo và tử cung. Nó thường phát triển trong vài năm. Vì có rất ít triệu chứng, nhiều phụ nữ thậm chí không biết mình mắc bệnh.

Thông thường ung thư cổ tử cung được phát hiện trong phết tế bào Pap, khi khám phụ khoa. Nếu nó được tìm thấy kịp thời, nó có thể được xử lý trước khi nó gây ra vấn đề lớn.

Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV) là một trong những yếu tố nguy cơ bị ung thư cổ tử cung quan trọng nhất để các tế bào phát triển thành ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố khác có thể khiến bạn gặp nguy hiểm.

Ung thư cổ tử cung bắt đầu khi các tế bào khỏe mạnh trong cổ tử cung phát triển những thay đổi (đột biến) trong DNA của chúng. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và nhân lên với tốc độ xác định, cuối cùng sẽ chết theo thời gian định sẵn. Các đột biến của các tế bào phát triển và nhân lên khỏi tầm kiểm soát và chúng không chết. Các tế bào bất thường tích lũy tạo thành một khối (khối u). Các tế bào ung thư xâm lấn các mô gần đó và có thể vỡ ra từ một khối u để di căn (di căn) ở những nơi khác trong cơ thể.

Không rõ nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung, nhưng chắc chắn rằng HPV là một trong những yếu tố nguy cơ. HPV rất phổ biến và hầu hết những người nhiễm virus không bao giờ bị ung thư. Điều này có nghĩa là các yếu tố khác – chẳng hạn như môi trường hoặc lựa chọn lối sống của bạn – cũng quyết định đến việc bạn có bị ung thư cổ tử cung hay không.

3.1. Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV)

HPV có thể lây nhiễm các tế bào trên bề mặt da, và những tế bào lót của bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng và cổ họng, nhưng không phải máu hoặc các cơ quan nội tạng như tim hoặc phổi.

HPV có thể lây lan từ người này sang người khác trong quá trình tiếp xúc da kề da. HPV cũng thông lây qua hoạt động tình dục, bao gồm cả quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và thậm chí bằng miệng.

Các loại HPV khác nhau gây ra mụn cóc trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Một số nguyên nhân gây ra mụn cóc phổ biến ở tay và chân; một số trường hợp gây ra mụn cóc trên môi hoặc lưỡi.

3.2. Quan hệ tình dục

Có nhiều bạn tình, số lượng bạn tình càng nhiều thì nguy cơ bị nhiễm virus càng cao. Một số đối tác có nguy cơ cao như người bị nhiễm HPV hoặc có nhiều bạn tình.

Lạc nội mạc tử cung là một bệnh lý ngày càng nhận được sự quan tâm trong thời gian gần đây, trong đó các mô đáng lẽ phát triển trong tử cung lại được tìm thấy ở các bộ phận khác trên cơ thể. Những mô này có thể có đáp ứng hoặc có chức năng khác so với mô phát triển trong tử cung.

3.4. Hút thuốc

Khi ai đó hút thuốc, họ và những người xung quanh tiếp xúc với nhiều hóa chất gây ung thư ảnh hưởng đến các cơ quan khác ngoài phổi. Những chất có hại này được hấp thụ qua phổi và được máu mang đi khắp cơ thể.

Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp đôi so với người không hút thuốc. Các thành phần của thuốc lá đã được tìm thấy trong chất nhầy cổ tử cung của phụ nữ hút thuốc. Các nhà nghiên cứu tin rằng những chất này làm hỏng DNA của các tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống lại nhiễm trùng HPV.

3.5. Có một hệ thống miễn dịch yếu

Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), loại virus gây ra AIDS, làm suy yếu hệ thống miễn dịch và khiến mọi người có nguy cơ nhiễm trùng HPV cao hơn.

Hệ thống miễn dịch rất quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư và làm chậm sự phát triển và lây lan của chúng. Ở phụ nữ nhiễm HIV, tiền ung thư cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư xâm lấn nhanh hơn bình thường.

Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung là những người dùng thuốc để ngăn chặn phản ứng miễn dịch của cơ thể như những người đang điều trị bệnh tự miễn (trong đó hệ thống miễn dịch coi các mô của cơ thể là ngoại lai và tấn công họ).

3.6. Nhiễm Chlamydia

Chlamydia là một loại vi khuẩn tương đối phổ biến có thể lây nhiễm vào hệ thống sinh sản. Nó được lan truyền bởi tiếp xúc tình dục. Phụ nữ bị nhiễm chlamydia thường không có triệu chứng và họ có thể không biết rằng họ bị nhiễm bệnh trừ khi khám phụ khoa. Nhiễm chlamydia có thể là nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung, gây viêm vùng chậu, dẫn đến vô sinh.

Một số nghiên cứu đã cho thấy nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn ở những phụ nữ có xét nghiệm máu và chất nhầy cổ tử cung đã từng nhiễm chlamydia trong quá khứ hoặc hiện tại. Một số nghiên cứu cho thấy vi khuẩn Chlamydia có thể giúp HPV phát triển và sống trong cổ tử cung có thể làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.

3.7. Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài

Có bằng chứng cho thấy uống thuốc tránh thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu cho thấy rằng nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng lên khi phụ nữ dùng thuốc tránh thai lâu dài, nhưng nguy cơ lại quay trở lại sau khi dừng sử dụng thuốc tránh thai và trở lại bình thường sau nhiều năm.

3.8. Mang thai nhiều lần

Phụ nữ đã mang thai đủ 3 lần trở lên có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn. Người ta cho rằng điều này có lẽ là do sự gia tăng phơi nhiễm với nhiễm trùng HPV với hoạt động tình dục. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ vì có thể khiến phụ nữ dễ bị nhiễm vi-rút hoặc tăng trưởng ung thư. Một suy nghĩ khác là phụ nữ mang thai có thể có hệ thống miễn dịch yếu hơn, khiến cơ thể bị nhiễm HPV và phát triển thành ung thư.

3.9. Tuổi trẻ khi mang thai đủ tháng

Phụ nữ dưới 20 tuổi mang thai lần đầu tiên sẽ có khả năng bị ung thư cổ tử cung sớm hơn so với những phụ nữ mang thai sau 25 tuổi.

3.10. Tình trạng kinh tế

Nhiều phụ nữ có thu nhập thấp không dễ dàng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ, bao gồm sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV. Điều này có nghĩa là họ có thể không được sàng lọc hoặc điều trị ung thư cổ tử cung.

Để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, bạn nên tiêm phòng vắc-xin HPV. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang triển khai dịch vụ tiêm chủng với nhiều loại vắc-xin đa dạng cho các đối tượng khác nhau, từ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người lớn, phụ nữ trước và trong khi mang thai. Trong đó có vắc-xin phòng bệnh ung thư cổ tử cung. Những ưu điểm khi tiêm vắc-xin tại Vinmec bao gồm:

Bệnh nhân sẽ được các bác sĩ chuyên khoa thăm khám, sàng lọc đầy đủ các vấn đề về thể trạng và sức khỏe, tư vấn về vắc-xin phòng bệnh và phác đồ tiêm, cách theo dõi và chăm sóc sau tiêm chủng trước khi ra chỉ định tiêm vắc-xin theo khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế & Tổ chức Y tế thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả tốt nhất và an toàn nhất cho trẻ.

Đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng nhi giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hiểu tâm lý trẻ và áp dụng cách giảm đau hiệu quả cho trẻ trong quá trình tiêm chủng.

100% bệnh nhân được tiêm chủng được theo dõi 30 phút sau tiêm và đánh giá lại sức khỏe trước khi ra về.

Được theo dõi đa khoa trước, trong và sau tiêm chủng tại Hệ thống y tế Vinmec và luôn có ekip cấp cứu sẵn sàng phối hợp với phòng tiêm chủng xử trí các trường hợp sốc phản vệ, suy hô hấp – ngừng tuần hoàn, đảm bảo xử lý kịp thời, đúng phác đồ khi có sự cố xảy ra.

Vắc-xin được nhập khẩu và bảo quản tại hệ thống kho lạnh hiện đại, với dây chuyền bảo quản lạnh (Cold chain) đạt tiêu chuẩn GSP, giữ vắc-xin trong điều kiện tốt nhất để đảm bảo chất lượng.

Để đăng ký tiêm phòng, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp đến Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc đặt hẹn TẠI ĐÂY.

Những Yếu Tố Nguy Cơ Gây Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Biết về các yếu tố nguy cơ giúp chúng ta có thể tập trung vào những yếu tố có thể thay đổi được (ví dụ như hút thuốc lá hay nhiễm virus Human Papilomavirus- HPV) chứ không phải là các yếu tố không thể thay đổi được (như tuổi tác và tiền sử gia đình).

Tuy nhiên biết về các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được cũng rất quan trọng vì bạn có thể chủ động khám bệnh để phát hiện sớm ung thư, ví dụ ở những phụ nữ có yếu tố nguy cơ về tiền sử gia đình sẽ được khuyến cáo làm xét nghiệm PAP test thường xuyên để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung.

Yếu tố nguy cơ là những yếu tố làm thay đổi khả năng mắc bệnh. Những bệnh ung thư khác nhau thì có các yếu tố nguy cơ khác nhau. Ví dụ nhưng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cường độ cao là yếu tố nguy cơ gây ung thư da. Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ của nhiều loại ung thư. Nhưng có một, thậm chí một vài yếu tố nguy cơ không có nghĩa là bạn sẽ mắc bệnh.

Một vài yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ không có các yếu tố nguy cơ này sẽ hiếm khi mắc ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên cũng có những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ này mà không mắc ung thư. Khi một phụ nữa mắc ung thư cổ tử cung hay có những thay đổi tiền ung thư thì cũng không thể nói rằng đó là do các yếu tố nguy cơ gây nên.

Nhiễm Human Papilomavirus – HPV (virus sinh u nhú ở người)

Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư cổ tử cung là nhiễm HPV. HPV là một nhóm gồm hơn 150 virus, một trong số đó gây ra sự phát triển của u nhú, thường được gọi là mụn cóc.

HPV có thể lây nhiễm sang các tế bào ở trên bề mặt da ở miệng, họng, cơ quan sinh dục, hậu môn, nhưng không có trong máu, nội tạng như tim, phổi.

HPV có thể lan truyền từ người qua tiếp xúc trực tiếp da-da, lây truyền qua quan hệ tình dục từ âm đạo, hậu môn, miệng.

Các bác sĩ tin rằng một người phụ nữ chắc chắn bị nhiễm HPV nếu mắc ung thư cổ tử cung. Mặc dù có thể do nhiễm trùng bất kì type nguy cơ cao nào, nhưng 2/3 số phụ nữ bị ung thư cổ tử cung do nhiễm 2 type HPV 16 và 18.

Nhiễm HPV thường xảy ra nhưng hầu hết các lần nhiễm cơ thể có thể tự loại bỏ được. Tuy nhiên, có những trường hợp nhiễm HPV và cơ thể không tự đẩy lùi được và trở thành nhiễm HPV mạn tính. Nhiễm HPV mạn tính, đặc biệt là nhiễm các type nguy cơ cao, cuối cùng có thể dẫn tới ung thư cổ tử cung.

Mặc dù chưa có cách để chữa khỏi nhiễm HPV nhưng có nhiều cách để điều trị mụn cóc và các tế bào phát triển bất thường do HPV gây nên.

Hút thuốc lá

Khi một ai đó hút thuốc thì họ và những người xung quanh có nguy cơ phơi nhiễm với các hóa chất gây ung thư các cơ quan khác ngoài phổi. Những chất có hại được hấp thu qua phổi, vào máu và đi khắp cơ thể.

Suy giảm miễn dịch

HIV là virus gây ra AIDS, phá hủy hệ thống miễn dịch và làm phụ nữ có nguy cơ cao bị nhiễm HPV. Đó là lí do tại sao những phụ nữ bị AIDS có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung.

Hệ thống miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc phá hủy các tế bào ung thư cũng như làm chậm sự phát triển và lan truyền của chúng. Ở phụ nữ bị nhiễm HIV thì các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư xâm lấn với tốc độ nhanh hơn bình thường.

Một nhóm phụ nữ khác cũng có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung là những người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch, ví dụ như những người đang điều trị bệnh tự miễn hay cấy ghép nội tạng.

Nhiễm Chlamydia

Chlamydia là loại vi khuẩn phổ biến gây nhiễm trùng ở cơ quan sinh dục và lây truyền qua quan hệ tình dục. Nhiễm Chlamydia có thể gây viêm vùng chậu và dẫn tới vô sinh.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những phụ nữ có kết quả máu cho thấy đã nhiễm Chlamydia trong quá khứ hoặc hiện tại, có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung so với những phụ nữ có kết quả xét nghiệm máu bình thường. Những phụ nữ bị nhiễm Chlamydia thường không có triệu chứng. Thực tế, họ chỉ biết mình bị nhiễm khi xét nghiệm máu.

Chế độ ăn ít rau và hoa quả

Những phụ nữ có chế độ ăn không đủ rau và hoa quả làm tăng nguy cơ bị ung thư cổ tử cung.

Thừa cân

Những phụ nữ quá béo có khả năng phát triển ung thư biểu mô tuyến ở cổ tử cung

Sử dụng thuốc tránh thanh kéo dài (viên uống tránh thai)

Có bằng chứng chỉ ra rằng sử dụng thuốc tránh thai đường uống kéo dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư tăng lên ở những phụ nữ uống thuốc tránh thai kéo dài, nhưng nguy cơ cũng giảm xuống sau dừng thuốc. Ở nghiên cứu này, nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng gấp 2 lần ở những phụ nữ uống thuốc tránh thai kéo dài trên 5 năm, nhưng nguy cơ trở về mức bình thường sau khi họ dừng thuốc 10 năm.

Sử dụng dụng cụ tử cung (vòng tránh thai)

Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những phụ nữ đã từng sử dụng dụng cụ tử cung có nguy cơ thấp bị ung thư cổ tử cung. Ảnh hưởng này được tìm thấy trên những phụ nữ sử dụng dụng cụ tử cung dưới một năm và hiệu quả bảo vệ vẫn còn sau khi dụng cụ tử cung đã được tháo bỏ.

Mang thai nhiều lần

Những người có 3 con trở lên làm tăng nguy cơ bị ung thư cổ tử cung. Một giả thuyết cho rằng một phụ nữ phải quan hệ không được bảo vệ mới có thai vì vậy họ đã phơi nhiễm với HPV nhiều hơn.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho rằng sự thay đổi hóc-môn khi mang thai có thể làm cho phụ nữ dễ nhiễm HPV và phát triển ung thư. Mặt khác, khi mang thai hệ thống miễn dịch yếu hơn cũng tạo điều kiện cho nhiễm HPV và ung thư phát triển.

Có thai lần đầu khi nhỏ hơn 17 tuổi

Phụ nữ có thai lần đầu trước 17 tuổi có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung cao gấp 2 lần so với những phụ nữ có thai lần đầu sau 25 tuổi.

Điều kiện kinh tế thấp

Điều kiện kinh tế thấp cũng là một yếu tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung. Những phụ nữ có thu nhập thấp không có điều kiện tiếp cận với các chăm sóc y tế đầy đủ, bao gồm cả xét nghiệm PAP test. Điều này có nghĩa là họ không được sàng lọc hoặc điều trị các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung.

Diethylstilbestrol (DES)

DES là thuốc nội tiết tố được tiêm cho phụ nữ để phòng sảy thai từ năm 1940 đến 1971. Những phụ nữ sử dụng DES khi họ mang thai phát triển các tế bào ung thư biểu mô tuyến ở âm đạo và cổ tử cung nhiều hơn so với bình thường. Loại ung thư này cực kì hiếm gặp ở những phụ nữ không sử dụng DES. Nó gặp ở khoảng 1/1.000 phụ nữ có mẹ sử dụng DES trong suốt thai kì. Điều này có nghĩa là 99,9% những “cô gái DES” không phát triển ung thư này.

Tiền sử gia đình có người mắc ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung có thể xuất hiện ở một số gia đình. Nếu mẹ hoặc chị gái bị mắc ung thư thì nguy cơ mắc của bạn tăng gấp 2-3 lần so với những phụ nữ không có tiền sử gia đình như vậy.

Các nhà khoa học nghi ngờ rằng những phụ nữ ở các gia đình này có ít khả năng chống lại nhiễm HPV hơn những phụ nữ khác. Trong khi đó thì những phụ nữ này có nhiều khả năng để có một hoặc nhiều hơn các yếu tố không di truyền đã được mô tả ở trên.

Nguyên Nhân Và Yếu Tố Gây Nguy Cơ Ung Thư Cổ Tử Cung Cho Phụ Nữ / 2023

Có đến 99,7% trường hợp ung thư cổ tử cung có sự hiện diện của virus HPV – tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục. Virus HPV (Human Papilloma Virus) có thể lây lan từ người này sang người khác khi tiếp xúc da với da. HPV lây truyền qua quan hệ tình dục, bao gồm cả âm đạo, hậu môn và thậm chí quan hệ tình dục bằng miệng.

Có hai loại HPV:

– HPV nguy cơ cao: Nổi bật là HPV 16, HPV 18, HPV 31, HPV 33 và HPV 45. Trong đó HPV 16 và HPV 18 là thủ phạm gây ra 70% trường hợp ung thư cổ tử cung, 30% còn lại là do các tuýp khác. Ngoài ra, HPV loại nguy cơ cao cũng là nguyên nhân gây ung thư âm đạo, ung thư âm hộ, ung thư hậu môn, ung thư dương vật, ung thư miệng họng.

Vài năm sau khi bắt đầu sinh hoạt tình dục, người phụ nữ có khả năng nhiễm HPV và nguy cơ mắc bệnh tăng theo số bạn tình trong đời. Phần lớn, cơ thể con người có miễn dịch tạo ra kháng thể để tiêu diệt virus. Tuy nhiên, một số trường hợp người phụ nữ không diệt được siêu vi trùng và bị nhiễm dần nặng lên. Sau vài năm, ADN của virus chui vào được DNA của tế bào người, làm tế bào cổ tử cung sinh sôi nảy nở không ngừng gây ung thư cổ tử cung.

Vì vậy, những người có yếu tố nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung đồng nghĩa với những người có nguy cơ cao bị nhiễm HPV. Đó là những người quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, người mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục. Không phải ai bị HPV cũng sẽ bị ung thư cổ tử cung. Nhưng ngược lại, có đến 95% các trường hợp ung thư cổ tử cung phát hiện thấy virus HPV.

Bao cao su có thể bảo vệ trước hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS, nhưng lại không hoàn toàn chống lại được HPV. Bởi vì virus HPV có thể lây truyền trực tiếp thông qua tiếp xúc tại vùng da không được bao phủ bởi bao cao su, theo VnExpress.

Triệu chứng của ung thư cổ tử cung

Phụ nữ bị ung thư cổ tử cung sớm và tiền ung thư thường không có triệu chứng. Triệu chứng sẽ xuất hiện trong giai đoạn muộn, khi đó ung thư đã xâm lấn. Khi điều này xảy ra, các triệu chứng phổ biến nhất là:

– Chảy máu âm đạo bất thường, chẳng hạn như chảy máu sau khi quan hệ tình dục, chảy máu khi mãn kinh, chảy máu giữa chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau khi thụt rửa hoặc sau khi khám phụ khoa.

– Đau khi quan hệ tình dục.

– Đau lưng.

– Đi tiểu bị đau hoặc tiểu khó khăn và nước tiểu đục.

– Rò rỉ nước tiểu hoặc chất cặn hôi từ âm đạo.

Yếu tố tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung

– Nhiễm HPV

Đây là yếu tố nguy cơ phổ biến của ung thư cổ tử cung. HPV (vi-rút gây u nhú ở người) là loại vi-rút lây truyền qua đường tình dục). Có hơn 100 loại HPV và ít nhất 13 trong số chúng có thể là nguyên nhân gây ung thư. Vắc-xin ngừa HPV có trên thị trường chỉ có thể chữa được 2 chủng vi-rút và do vậy, cần phải kiểm tra sàng lọc ung thư cổ tử cung thường xuyên.

– Có nhiều bạn tình

Có nhiều bạn tình hoặc có quan hệ tình dục sớm có thể là một yếu tố nguy cơ ung thư cổ tử cung. Vì HPV lây truyền qua đường tình dục nên việc có nhiều bạn tình sẽ làm tăng nguy cơ bị nhiễm loại vi-rút này.

– Mang thai sớm

Phụ nữ sinh con trước tuổi 17 có nguy cơ cao hơn đáng kể bị ung thư cổ tử cung.

– Mang thai nhiều lần

Phụ nữ mang thai từ 3 lần trở lên có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung cao hơn đáng kể so với những phụ nữ chưa bao giờ sinh con.

– Hệ miễn dịch suy yếu

Nguy cơ cao hơn ở những người bị nhiễm HIV hoặc AIDS và những người bị ghép tạng cần sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.

– Mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục

Nhiễm Chlamydia, lậu, giang mai làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung.

– Hút thuốc

Hút thuốc làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung và các loại ung thư khác. Nicotine và thuốc lá làm suy yếu hệ miễn dịch, kết quả là stress oxy hóa làm thay đổi cân bằng của các gien sinh ung thư trong cơ thể và dẫn đến sự phát triển ung thư, theo SKĐS.

– Phụ nữ béo phì, thừa cân

Phụ nữ béo phì, thừa cân, tình trạng mất cân bằng nội tiết tố trong cơ thể dẫn đến tình trạng thừa lượng mỡ trong cơ thể từ đó dẫn tới tăng sinh nội mạc tử cung gây ra ung thư.

– Chu kỳ kinh nguyệt không đều

Người có chu kỳ kinh nguyệt không đều thường không có đối kháng progesterone, do đó sẽ xuất hiện hiện tượng tăng sinh nội mạc tử cung, dẫn đến ung thư cổ tử cung, Vietnamnet cho hay.

Tổng hợp

Các Yếu Tố Nguy Cơ Của Ung Thư Vú / 2023

Ung thư vú được hình thành bởi một hay rất nhiều yếu tố nguy cơ trong đó có yếu tố nguy cơ chúng ta có thể thay đổi và có những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi.

Hiện nay, rất nhiều phụ nữ mặc dù không có bất kỳ dấu hiệu của yếu tố ung thư nào nhưng vẫn bị ung thư vú và ngược lại, có những phụ nữ có rất nhiều yếu tố nguy cơ nhưng không hề phát hiện ra bệnh. Việc xác định các yếu tố nguy cơ chỉ là một phần rất nhỏ trong việc có thể chấn đoán được bệnh ung thư vú sớm ở phụ nữ ngày nay.

1. Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được

Giới tính, độ tuổi, gen di truyền là một trong các yếu tố nguy cơ của ung thư vú bạn không thể thay đổi được. Những yếu tố này là yếu tố chính khiến có nguy cơ mắc ung thư vú của bạn trở lên cao hơn. Tuy nhiên, khi bạn có những yếu tố này chưa chắc bạn đã bị mắc ung thư vú.

Điều đơn giản nhất bạn có thể hiểu, khi bạn là phụ nữ thì đó chính là yếu tố nguy cơ hàng đầu của ung thư vú. Tuy nhiên, ung thư vú chỉ bị ở phụ nữ là hiểu lầm khá phổ biến trong nhận thức của mọi người. Ở nam giới, vẫn có nguy cơ mắc ung thư vú nhưng khả năng mắc bệnh thường ít hơn 100 lần so với phụ nữ, nguyên nhân có thể do nam có ít estrogen và progesterone, những hormone sinh dục nữ có khả năng xúc tiến sự trưởng thành của các tế bào ung thư vú.

Sau giới tính thì tuổi là yếu tố nguy cơ lớn thứ nhì của ung thư vú. Phần lớn ung thư vú được phát hiện sau tuổi 50 và hầu hết ung thư vú xâm lấn được tìm thấy ở phụ nữ trên 55 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay độ tuổi mắc ung thư vú đang dần trẻ hóa nên các bạn nữ cũng nên chú ý đến các dấu hiệu nguy cơ để có thể phát hiện bệnh sớm.

c, Một số gien di truyền nhất định

Khoảng 5-10% số ca bị ung thư vú được cho là do di truyền một số đột biến gien từ cha mẹ, mà thông thường là do do đột biến gien BCRA1 và BCRA2. (Bình thường, hai gien này tổng hợp các protein giúp ngăn ngừa sự tăng sinh tế bào bất thường. Khi bị đột biến, chúng mất đi khả năng kiểm soát tế bào, dẫn tới ung thư.) Ngoài ra, còn một số đột biến gien khác cũng có thể dẫn đến ung thư vú di truyền, nhưng BCRA1 và BCRA2 là có thể tầm sóat khi thử nghiệm gien.

d, Tiền sử gia đình bị ung thư vú

Cần lưu ý rằng khoảng 8/10 phụ nữ bị ung thư vú không có người nào trong gia đình mắc bệnh này, tuy nhiên:

– Phụ nữ nếu có người thân trong gia đình bị ung thư vú sẽ có nguy cơ bị bệnh cao hơn.

– Phụ nữ có một người thuộc thế hệ thứ nhất (mẹ, chị, con gái) bị ung thư vú sẽ tăng nguy cơ bản thân lên gấp 2 lần. Nếu có hai người thuộc thế hệ này bị bệnh, nguy cơ sẽ tăng 3 lần.

– Nguy cơ cũng sẽ tăng lên nếu phụ nữ có ba hoặc một anh trai bị bệnh này.

e, Tiền sử bản thân bị bệnh vú lành tính ở vú hay bị ung thư vú

Phụ nữ mắc một bệnh lành tính ở vú thì tăng 3.5 đến 5 lần nguy cơ bị ung thư vú.

Hơn nữa, một người phụ nữ bị ung thư 1 vú tăng nguy cơ phát triển ung thư ở vú còn lại hay ở vùng khác ở cùng bên vú bệnh (khác với sự tái phát của bệnh ung thư lần đầu).

Nhìn chung, phụ nữ da trắng tăng nhẹ nguy cơ phát triển ung thư vú hơn phụ nữ Mỹ gốc châu Phi, nhưng khi mắc bệnh, nguy cơ tử vong ở phụ nữ Mỹ gốc châu Phi lại cao hơn. Phụ nữ châu Á, châu Mỹ và châu Mỹ latin nguy cơ mắc và tử vong vì ung thư vú thấp hơn.

Như đã biết, mô vú được tạo thành từ mô mỡ, mô sợi và mô tuyến. Mô vú được gọi là đặc (phát hiện trên nhũ ảnh) khi có nhiều mô tuyến và mô sợi, và có ít mô mỡ. Phụ nữ có mô vú đặc nguy cơ bị ung thư vú tăng gấp 1.2 đến 2 lần so với mô vú bình thường. Một số yếu tố có thể ảnh hưởng tới độ đặc của mô vú như tuổi, tình trạng mãn kinh, sử dụng thuốc (dùng hormone thay thế sau mãn kinh), thai kỳ, và di truyền.

h, Có kinh sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh muộn (sau 55 tuổi)

Phụ nữ có nhiều chu kỳ kinh, vì có kinh sớm hoặc mãn kinh muộn đều tăng nguy cơ mắc ung thư vú, do họ có nhiều thời gian tiếp xúc với hormone estrogen và progesterone hơn.

Xạ trị vùng ngực để chữa cho một loại ung thư khác (như bệnh Hogkin và lymphoma non-Hogkin) làm tăng đáng kể nguy cơ bị ung thư vú, bắt đầu từ 10 năm sau tiếp xúc tia xạ và kéo dài sau đó. Yếu tố nguy cơ này phụ thuộc vào liều và độ tuổi tiếp xúc với tia xạ: tăng cao nhất khi tiếp xúc ở tuổi dậy thì (mô vú đang phát triển) và hầu như không tăng khi xạ trị sau 40 tuổi.

Lượng rượu tiêu thụ làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Giả thiết được đặt ra là rượu làm hạn chế khả năng kiểm soát lượng estrogen trong máu của gan, dẫn tới tăng khả năng ung thư vú.

Thừa cân hay béo phì sau mãn kinh là yếu tố nguy cơ của ung thư vú. Tình trạng này được giải thích bởi sau mãn kinh, mô mỡ là nguồn estrogen chính của cơ thể, khi hai buồng trừng ngừng sản xuất hormone này. Có nghĩa là mô mỡ càng nhiều thì lượng estrogen càng cao, và nguy cơ ung thư vú càng tăng.

Ít vận động là một yếu tố nguy cơ của ung thư vú. Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa tập thể dục đều đặn 4 đến 7 giờ mỗi tuần và sự giảm nguy cơ ung thư vú. Tập thể dục giúp tiêu thụ và kiểm soát lượng đường huyết, hạn chế nồng độ insulin – hormone có thể ảnh hưởng tới sự phát triển mô vú. Mặt khác, người có thói quen tập thể dục thường khỏe mạnh, ít mỡ thừa hơn so với người ít vận động. Mỡ tạo estrogen, và mỡ thừa tạo estrogen thừa.

Nhìn chung, phụ nữ không có con hay có con đầu sau 30 tuổi tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú.

Nuôi con bằng sữa mẹ có thể giảm nhẹ nguy cơ ung thư vú, nhất là kéo dài 1.5 đến 2 năm. Nguyên nhân được cho là cho con bú làm giảm số chu kỳ kinh, dẫn đến giảm lượng estrogen, đồng thời, trong khoảng thời gian này, phụ nữ thường có xu hướng ăn nhiều thức ăn bổ dưỡng và duy trì lối sống lành mạnh (không uống rượu hay hút thuốc).

f, Điều trị kết hợp hormone thay thế

Điều trị kết hợp hormone thay thế estrogen – progesterone (HT) sau mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc và tử vong vì ung thư vú. Nguy cơ này bắt đầu tăng sau 2 năm sử dụng liệu pháp và trở về bình thường sau 5 năm ngừng sử dụng.

Chế độ ăn được cho là đóng khoảng 30 – 40% nguyên nhân gây ung thư nói chung. Không có loại thực phẩm hay chế độ ăn nào giúp phòng ngừa ung thư vú, nhưng dưỡng chất từ các loại thực phẩm sạch (không thuốc trừ sâu hay thuốc tăng trưởng) như trái cây, rau củ quả, ngũ cốc giúp bảo vệ cơ thể khỏi những đột biến tế bào có hại.

Mặc dù rất nhiều nghiên cứu trên phụ nữ ở Mỹ chưa tìm ra được mối liên hệ giữa ung thư vú và lượng chất béo ăn vào, nhưng thống kê cho thấy ung thư vú ít gặp ở các nước có chế độ ăn ít chất béo toàn phần.

– Gây tổn hại phổi khi điều trị xạ trị ung thư vú.

– Khó lành vết thương sau phẫu thuật và tái tạo hình vú.

– Tăng nguy cơ tạo cục máu đông khi điều trị hóa trị liệu.

Một vài nghiên cứu cho rằng phụ nữ làm việc ban đêm, như công nhân, bác sĩ, điều dưỡng, có thể tăng nguy cơ ung thư vú. Giả thiết được đặt ra là do sự hạ thấp nồng độ melatonin khi cơ thể tiếp xúc với ánh sáng nhân tạo vào ban đêm.

4. Các yếu tố chưa được chứng minh hay còn đang tranh cãi

Liệu mặc áo ngực có thể gây tắc nghẽn dẫn lưu bạch huyết và dẫn đến ung thư vú không? Cho tới hiện tại, câu trả lời là không. Một nghiên cứu gần đây trên hơn 1 500 phụ nữ cho thấy không có sự liên hệ nào giữa hai sự việc này.

Một số nghiên cứu đã cung cấp các dữ liệu mạnh mẽ rằng phá thai hay sảy thai tự nhiên cũng không ảnh hưởng gì đến nguy cơ ung thư vú.

Mặc dù nâng ngực bằng silicone có thể tạo mô sẹo ở ngực, nhưng vẫn các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy nguy cơ nào dẫn đến ung thư vú. Tuy nhiên, cần lưu ý là nâng ngực khiến mô vú khó quan sát trên nhũ ảnh chuẩn, do đó, nếu ngực bạn có túi silicone, phải thông báo với kĩ thuật viên để chụp thêm một số hình ảnh giúp chẩn đoán mô vú chính xác hơn.

Tóm lại, bản thân phụ nữ đã là một nguy cơ của ung thư vú, và mỗi người lại có thêm những nguy cơ riêng – một số thay đổi được, một số không. Bằng cách chọn cho mình một lối sống lành mạnh nhất, cùng với việc thường xuyên tham khảo ý kiến bác sĩ về yếu tố ung thư vú của mình, thì bạn đã trao cho bản thân khả năng giảm thiểu tối đa những nguy cơ này.

Nguồn bài viết: Ruy băng tím – Kiến thức phòng chống ung thư cho mọi người