Xếp Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Chẩn Đoán, Xếp Loại Giai Đoạn Ung Thư Tuyến Giáp

Ung thư tuyến giáp là ung thư về tuyến giáp, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Nó là ung thư tuyến nội tiết thường gặp nhất.

Đa số ung thư tuyến giáp là carcinôm biệt hoá tốt, tiến triển âm thầm, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài, điều trị chính yếu là phẫu thuật.

Đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.

Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ

Dịch tễ học

Tại Hoa Kỳ ung thư tuyến giáp có khoảng 2 – 4 ca mới/100.000 dân/năm, tỷ lệ nam/nữ là 1/2,7 và tỉ lệ tử vong hằng năm là 0,2 – 2,8/ 100.000 dân.

Các trường hợp thường gặp là nhỏ hơn 20 hoặc lớn hơn 50 tuổi.

Theo ghi nhận của Tổ chức Chống ung thư toàn cầu (Inernational Union against Cancer: IUAC) năm 2002, ở Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 2,7/100.000 dân đối với nữ và 1,3/100.000 đối với nam.

Các yếu tố nguy cơ

· Tiền căn xạ trị vùng cổ lúc nhỏ vì bệnh lành tính hoặc bị nhiễm phóng xạ (ví dụ sau tai nạn hạt nhân Chernobyl tỉ lệ ung thư tuyến giáp của cư dân vùng này tăng lên) làm gia tăng nguy cơ carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt với đỉnh cao nguy cơ từ 12 đến 25 năm sau tiếp xúc.

· Vùng phình giáp dịch tễ thường gặp carcinôm dạng nang hay carcinôm không biệt hoá. Carcinôm dạng nhú thường gặp ở vùng đầy đủ iod.

· Hoạt hoá các gene tyrosine kinase: tái sắp xếp gene sinh ung RET/PTC ở nhiễm sắc thể 10 xảy ra trong 5-35% carcinôm dạng nhú tự phát.

· Gia tăng biểu lộ gene sinh ung MET có trong 70% carcinôm dạng nhú.

· Đột biến gene sinh ung RET cũng thấy trong carcinôm dạng tuỷ có tính gia đình.

· Gen sinh ung RAS và đường dẫn truyền tín hiệu tế bào: đột biến RAS thường gặp trong carcinôm dạng nang ở vùng thiếu iod.

· Gen đèn nén bướu p53: đột biến điểm gen p53 làm bất hoạt hoá gen này, thấy trong 80% carcinôm không biệt hoá.

Bệnh học và diễn tiến

Bệnh học

Phân loại carcinôm tuyến giáp theo nguồn gốc tế bào:

Carcinôm tuyến giáp dạng nhú thường gặp nhất chiếm 80% ung thư tuyến giáp. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú có kích thước nhỏ hơn hay bằng 1 cm được gọi là carcinôm kích thước nhỏ hoặc tiềm ẩn. Loại này ít có ý nghĩa lâm sàng do diễn tiến chậm.Biểu hiện lâm sàng carcinôm tuyến giáp thường là một hạt giáp và không gây rối loạn chức năng. Bướu có thể lan tràn theo mạch bạch huyết trong tuyến giáp giải thích tình trạng đa ổ. Carcinôm dạng nhú rất ưa di căn hạch vùng, tuy nhiên di căn hạch không ảnh hưởng đến tiên lượng sống còn. Các loại carcinôm dạng nhú biệt hoá kém có diễn tiến trung gian gồm các biến thể: loại đảo, loại tế bào cao, tế bào sáng và loại xơ hoá. Carcinôm tuyến giáp dạng nhú ở trẻ con thường có bướu lớn và di căn hạch sớm.

Carcinôm dạng nang chiếm 5-10% ung thư tuyến giáp, thường gặp trong vùng thiếu iod, biểu hiện lâm sàng bởi hạt giáp, và thường là đơn ổ với vỏ bao rõ. Carcinôm dạng nang hay lan tràn qua đường máu và cho di căn xa. Nhìn chung carcinôm dạng nang có tiên lượng xấu hơn carcinôm tuyến giáp dạng nhú. Carcinôm tế bào Hurthle, biến thể của carcinôm dạng nang, có độ biệt hóa kém và diễn tiến mạnh hơn.

Carcinôm dạng tuỷ, nguồn gốc từ tế bào cận nang C, tế bào này sản xuất ra calcitonin. Khoảng 25% carcinôm dạng tuỷ có tính di truyền, liên hệ đến hội chứng đa bướu nội tiếtMEN 2a, MEN 2b, có đột biến gene RET và di truyền theo kiểu tế bào tự thân kiểu trội. Carcinôm dạng tuỷ di truyền có thể tăng calcitonin và CEA trong huyết thanh. Carcinôm dạng tuỷ tự phát biểu hiện lâm sàng bằng khối bướu đơn độc và ưa di căn hạch.

Carcinôm không biệt hoá hiếm gặp, chiếm 1% ung thư tuyến giáp, thường gặp ở ngưới lớn tuổi, phát triển nhanh và cho di căn xa. Loại này có thể bắt nguồn từ carcinôm dạng nang, diễn tiến chậm trong các bệnh nhân ở vùng phình giáp dịch tễ thiếu iod. Hầu hết các trường hợp gây tử vong do bướu xâm lấn tại chỗ, thường là chèn ép khí quản.

Chẩn đoán

Lâm sàng

Tình huống lâm sàng thường gặp nhất là một hạt giáp không có triệu chứng. Đánh giá lâm sàng cần liên hệ đến các yếu tố nguy cơ của hạt giáp. Các yếu tố nguy cơ đó là:

· Hạt giáp lớn nhanh

· Mật độ cứng khi sờ

· Dính vào các cấu trúc lân cận

· Tiền căn gia đình có ung thư tuyến giáp

· Liệt dây thanh (gây khàn tiếng)

· Có hạch cổ

Khối u nhỏ nghi ngờ ung thư phát hiện tình cờ qua siêu âm vùng cổ, qua đánh giá phình giáp đa hạt hoặc bệnh Graves.

Hạch cổ di căn tiềm ẩn của carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

Các phương tiện chẩn đoán

Siêu âm

Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn của tuyến giáp. Phương tiện này có lợi điểm là an toàn, không độc hại, rẻ tiền và rất hiệu quả để đánh giá cấu trúc của tuyến giáp. Ngoài ra siêu âm có thể đánh giá chính xác kích thước, vị trí của hạt giáp và rà tìm các hạt giáp không sờ thấy lâm sàng. Siêu âm ngày càng được sử dụng nhiều để hướng dẫn làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA: Fine Needle Aspiration) hạt giáp.

Các dấu hiệu của một hạt giáp nghi ngờ trên siêu âm:

· Tăng sinh mạch máu ở trung tâm

· Hạt giáp phản âm kém

· Bờ không đều

· Vi vôi hoá bên trong

Xạ hình

Xạ hình tuyến giáp dùng để đánh giá sự hấp thu iod của các hạt giáp. Các hạt nóng ít có nguy cơ ác tính hơn các hạt lạnh. Các hạn chế của phương tiện này là: độc hại phóng xạ, mắc tiền và độ ly giải hình ảnh kém. Ngày nay ung thư tuyến giáp thường được chẩn đoán bằng FNA và xạ hình tuyến giáp hiếm khi cần trong đánh giá thường qui của một hạt giáp.

Chụp cắt lớp điện toán và chụp cộng hưởng từ

Chụp cắt lớp điện toán (computerized tomography hay CT) và chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging hay MRI) là phương tiện để đánh giá sự lan rộng ung thư tuyến giáp vào cấu trúc lân cận và di căn hạch. CT có chích chất cản quang iod cho thấy hình ảnh chi tiết tuyến giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn MRI, CT cũng ít tốn kém hơn MRI.

Hạn chế của CT khi dùng chất cản quang iod làm ngăn cản khả năng hấp thu iod trên xạ hình sau đó và có thể gây độc giáp trạng trong các trường hợp sử dụng chất cản quang iod có liều cao và ở bệnh nhân có cường giáp tiềm ẩn. MRI có ưu điểm là không dùng chất cản quang iod và không độc hại do phóng xạ và có thể cho thấy rõ tuyến giáp và cấu trúc lân cận.

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (fine needle aspiration hay FNA) là phương tiện được lựa chọn hàng đầu để đánh giá hạt giáp. Phương tiện này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 90%.

Kết quả FNA gồm: ác tính, lành tính, không xác định được và không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.

Kết quả FNA không xác định được thường là tổn thương dạng nang có thể lành hoặc ác. Các bệnh nhân này cần được cắt thuỳ tuyến giáp toàn phần và cắt lạnh.

Nhóm FNA không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán chiếm 10-12% khi không dùng siêu âm hướng dẫn và tỉ lệ này cải thiện còn 0% khi có sử dụng hướng dẫn của siêu âm.

Xếp hạng lâm sàng theo T,N,M (Xếp loại giai đoạn ung thư tuyến giáp theo TNM)

· Tx Bướu nguyên phát không thể đánh giá được

· T0 Không có bướu nguyên phát

· T1 Bướu <2 cm

· T4a Bướu ăn lan khỏi vỏ bao giáp và xâm lấn bất cứ cấu trúc nào sau đây: mô mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản, thần kinh hồi thanh quản

· T4b Bướu xâm lấn màng cân trước cột sống, mạch máu trung thất hoặc bọc quanh động mạch cảnh

· T4a* Bướu (bất kể kích thước) khu trú trong tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

· T4b* Bướu (bất kể kích thước) ăn lan khỏi tuyến giáp (chỉ dành cho carcinôm không biệt hoá)

· Mx Di căn xa không thể đánh giá được

· M0 Không có di căn xa

· M1 Có di căn xa

Xếp giai đoạn ung thư tuyến giáp theo TNM

Nguyên tắc

· Phẫu trị là phương pháp điều trị chính yếu cho tất cả các loại carcinôm tuyến giáp.

· Liệu pháp kích tố đè nén được chỉ định cho hầu hết các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt.

· Liệu pháp 131I được chỉ định cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt có nguy cơ cao như lớn tuổi (trên 45 tuổi), bướu lớn (trên 4 cm), xâm lấn vỏ bao giáp hoặc di căn xa.

· Xạ trị ngoài và hoá trị dành cho các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá kém hay không biệt hoá.

Phương pháp

· Phẫu thuật: mức độ rộng của phẫu thuật còn bàn cãi dựa vào kích thước, mức độ xâm lấn, diễn tiến của bướu, phẫu thuật để tạo thuận lợi cho điều trị hỗ trợ sau đó và theo dõi bệnh.

· Các loại phẫu thuật được chấp nhận hiện nay là:

· Cắt thuỳ giáp toàn phần.

· Cắt giáp quá bán (subtotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 2-4 gram mô giáp.

· Cắt giáp gần toàn phần (neartotal thyroidectomy) chừa lại khoảng 1 gram mô giáp và

· Cắt giáp toàn phần.

· Biến chứng phẫu thuật: liệt thần kinh hồi thanh quản và suy giáp khoảng 1%.

· Nạo hạch cổ chức năng (nhóm II, III,IV, VI) thường được lựa chọn nhất

· Liệu pháp kích tố đè nén: dựa vào cơ chế phản hồi ngược, dùng thyroxin liều cao để ức chế TSH, kìm hãm sự phát triển của bướu trong các trường hợp carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt. Liều dùng được cân nhắc với tác dụng phụ của điều trị trên tim mạch, xương, và độc giáp trạng nhất là ở người lớn tuổi. Nồng độ TSH trong máu được duy trì trong khoảng 0,1-0,5 mU/L ở nhóm nguy cơ thấp và nhỏ hơn 0,01 mU/l ở nhóm nguy cơ cao

· Liệu pháp 131I: dựa vào cơ chế hấp thu iốt của các carcinôm biệt hoá tốt. Liệu pháp này được dùng hỗ trợ sau mổ để diệt mô giáp hay bướu còn sót và trong các trường hợp di căn xa có bắt iốt. Liều 131I từ 30 mCi đến 200 mCi tuỳ vào tuổi, mức độ xâm lấn của các bướu hoặc vị trí di căn xa.

· Xạ trị ngoài dành cho các trường hợp carcinôm biệt hoá không phẫu thuật được hoặc không bắt iod, hỗ trợ sau mổ các trường hợp carcinôm dạng tuỷ hoặc carcinôm không biệt hoá.

· Hoá trị ít có vai trò trong carcinôm biệt hoá tốt.

Chỉ định

· Cắt trọn thuỳ chỉ định cho các trường hợp kích thước bướu nhỏ hơn hay bằng 1,5 cm và có nguy cơ thấp kèm theo thyroxin sau mổ

· Cắt giáp gần toàn phần hay toàn phần dùng cho các trường hợp có nguy cơ cao. Sau đó dùng liệu pháp 131I và thyroxin sau mổ.

· Nạo hạch cổ được chỉ định khi có hạch cổ sờ thấy trên lâm sàng hay siêu âm nghi ngờ, hoặc trong lúc mổ nghi ngờ hạch di căn có thể cắt lạnh để quyết định điều trị.

Đối với carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt

Cắt giáp toàn phần, nạo hạch cổ phòng ngừa một bên khi bướu lớn hơn 1 cm và hai bên trong các trường hợp di truyền và xạ trị bổ túc sau mổ khi có nguy cơ tái phát cao. Không có vai trò của liệu pháp 131I.

Đối với carcinôm dạng tuỷ

Cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ phòng ngừa nếu bướu còn khu trú, phẫu thuật giảm thiểu bướu không có lợi vì bướu phát triển nhanh. Xạ trị ngoài và hoá trị được chỉ định trong các trường hợp bệnh tiến xa

Đối với carcinôm không biệt hoá

Tiên lượng theo các yếu tố và giai đoạn ung thư tuyến giáp

Phân nhóm nguy cơ

Tham khảo

· Roman S., Udelsman R.. Endocrine Tumors. UICC Manual of Cinical Oncology 2004, 8th edition, p359-p379.

· Sherman S.I.. Thyroid Carcinoma. Lancet 2003; 361: 501-511. PMID 12583960

· Boone R.T., Fan C.Y., Hanna E.Y.. Well-differentiated Carcinoma of the Thyroid. Otolaryngologic Clinics of North America 2003; 36: 73-90. PMID 12803010

· Kinder B. K.. Well differentiated Thyroid Cancer. Current Opinion in Oncology 2003; 15: 71-77. PMID 12490765

· Lairmore T.C., Moley J.F.. Cancer of the Endocrine System. Cancer: Principles and Practice of Oncology (CD-Rom) 2005, 7th edition. Chapter 34.

· Doulas L. F., Monica S., Virginia L. Thyroid carcinoma. Cancer: Principles and Practice of Oncology, 6th edition. Lippincott Williams & Wilkins, 2001.

Ung Thư Tuyến Giáp Giai Đoạn Đầu

Bệnh nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu có cơ hội sống gần như tuyệt đối 100% nếu có phương án điều trị tích cực.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu là gì?

Ung thư tuyến giáp bắt nguồn từ sự phát triển và phân chia không trật tự của các tế bào tại tuyến giáp – tuyến nội tiết quan trọng và lớn nhất của cơ thể nằm ở cổ có chức năng sản xuất hoóc môn điều hòa chuyển hóa năng lượng, sự phát triển của cơ thể và hệ thần kinh. Bệnh khá hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1% trong số các bệnh ung thư.

Ung thư tuyến giáp có 4 giai đoạn phát triển. Đặc điểm của ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu là có kích thước nhỏ (dưới 2cm), chưa lan đến các hạch bạch huyết hay các mô lân cận.

Biểu hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu

Ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu thường khó nhận biết do không có biểu hiện rõ ràng và ít tác động đến cơ thể người bệnh. Càng về giai đoạn sau, biểu hiện bệnh càng rõ.

Một số biểu hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu là:

Khàn tiếng: đây là dấu hiệu không khó để nhận biết nhưng rất dễ bị nhầm lẫn. Nguyên nhân của triệu chứng này xuất phát từ sự phát triển của các tế bào ác tính tại tuyến giáp chèn ép lên dây thanh âm ở vùng cổ khiến việc phát âm bị ảnh hưởng. Không chỉ là dấu hiệu cảnh báo ung thư tuyến giáp, khàn tiếng cũng có thể là dấu hiệu của một số bệnh ung thư đầu cổ khác hoặc những bệnh lý ít nghiêm trọng hơn.

Nổi u hạch ở cổ: hạch xuất hiện ở cổ là tình trạng nổi cục nhỏ tại cổ, thường dễ nhận biết khi ăn, nuốt nước bọt. Đa phần hạch cổ là lành tính nhưng không thể loại trừ nguyên nhân từ bệnh ung thư. Đặc điểm của loại hạch ác tính là lớn đần theo thời gian và dính chặt ở cổ.

Khó nuốt: nhiều bệnh nhân ung thư tuyến giáp cảm thấy khó nuốt ngay từ những giai đoạn đầu của bệnh, mặc dù triệu chứng này khá mơ hồ và rất dễ nhầm lẫn với viêm, sưng hạch ở cổ.

Điều trị ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu bằng cách nào?

So với các bệnh ung thư khác, ung thư tuyến giáp có tiên lượng sống rất tốt và gần như tuyệt đối ở những giai đoạn đầu. Theo đó, cơ hội sống (trong 5 năm) cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp là khoảng 100%.

Điều trị ung thư tuyến giáp còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Thông thường, bệnh nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu thường được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ một thùy hoặc toàn bộ tuyến giáp để loại bỏ khối u. Nếu ở giai đoạn chuyển tiếp giai đoạn 1 và tế bào ung thư di căn sang hạch cổ thì có thể kết hợp nạo vét hạch cổ và điều trị bằng I – 131. Đây là loại I ốt phóng xạ rất nhạy với các tế bào vùng tuyến giáp nhưng lại ít tác động đến các tế bào lành nên cơ thể ít chịu tác dụng phụ hơn.

Phát hiện và điều trị sớm bệnh ung thư là điều tiên quyết trong nâng cao cơ hội sống cho người bệnh. Ung thư tuyến giáp cũng không ngoại lệ. Vì vậy, ngay khi thấy những biểu hiện bất thường của bệnh, hãy đến ngay các cơ sở y tế để chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

Để đặt lịch khám, điều trị hoặc nhận thêm thông tin tư vấn trực tiếp về ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu, vui lòng liên hệ Hotline 0904 970 909.

Bệnh Ung Thư Tuyến Giáp Giai Đoạn Cuối

1. Biểu hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối

1.1. Đau cổ, hàm hoặc tai

Một trong những biểu hiện đầu tiên là sự xuất hiện của khối u, khối u khá lớn lan rộng lên góc hàm và mang tai khiến bạn đau nhức trong vùng họng hoặc hàm. Tuy nhiên, khám lâm sàng không thể phát hiện được mà phải tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng phát hiện ung thư tuyến giáp tại các địa chỉ khám uy tín. Ngoài ra, vùng cổ sẽ xuất hiện những nốt hạch to, mềm, nếu quá chủ quan sẽ khiến bạn bị đau rát và đây là một trong những triệu chứng ban đầu của biểu hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối.

1.2. Cảm giác vướng khi nuốt thức ăn và uống nước

Khối u tuyến giáp sẽ gây ra triệu chứng khó nuốt, nuốt nghẹn kèm đau khi nuốt do khối u tạo áp lực trực tiếp lên vùng thực quản nằm ngay phía dưới khí quản. Cần tầm soát ung thư tuyến giáp ngay khi triệu chứng này kéo dài không khỏi.

1.3. Bị khó thở

Bên cạnh đó, tình trạng khó thở sẽ xuất hiện khi khối u đã phình to ra, và đó cũng chính là một trong các biểu hiện ở giai đoạn cuối đáng báo động.

1.4. Bị khàn tiếng

Khi khối u tuyến giáp lan rộng ra gây tổn thương dây thanh quản, từ đó bạn gặp tình trạng khàn giọng, khó giao tiếp,… tình trạng này nếu kéo dài bạn nên đi kiểm tra để nắm rõ hơn về tình hình sức khỏe.

2. Nguyên nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối

2.1. Phơi nhiễm bức xạ liều cao

Khi nhiễm xạ do mắc bệnh phải điều trị bằng phóng xạ hoặc cũng có thể phơi nhiễm trong các sự cố hạt nhân… sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối do bệnh chỉ xuất hiện sau vài tháng hoặc vài năm sau khi phơi nhiễm.

2.2. Tiền sử trong gia đình có người mắc bệnh

2.3. Nhiễm chất độc màu da cam

Chất độc màu da cam đã gây ra hậu quả y học và sinh học lâu dài đối với sức khỏe con người, không những cựu chiến binh chiến tranh mà còn cả các thế hệ sau của họ. Như đã biết, thời gian phát triển bệnh khi nhiễm phóng xạ hóa học có thể vài năm hoặc vài chục năm sau khi tiếp xúc, nên đó cũng là nguyên nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối. Bạn cần thường xuyên làm các xét nghiệm chức năng tuyến giáp để nắm rõ tình trạng sức khỏe của mình.

2.4. Đột biến gen

Các đột biến về gen sinh ung hoặc gen đè nén bướu trong ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối. Hoạt hoá các gene tyrosine kinase: tái sắp xếp gene sinh ung RET/PTC ở nhiễm sắc thể 10 xảy ra trong 5-35% carcinom dạng nhú tự phát. Gia tăng biểu lộ gene sinh ung MET có trong 70% carcinom dạng nhú. Gen đè nén bướu p53: đột biến điểm gen p53 làm bất hoạt hoá gen này, thấy trong 80% carcinôm không biệt hoá.

2.5. Không điều trị hoặc điều trị không đáp ứng các giai đoạn trước đó

Ung thư tuyến giáp vào giai đoạn đầu thường có những biểu hiện phát bệnh chưa rõ ràng và khiến bạn lại nhầm lẫn sang bệnh khác mà không được điều trị kịp thời và đúng cách. Ung thư tuyến giáp nếu được điều trị sớm sẽ cho tiên lượng điều trị tốt. Tuy nhiên, không phải điều trị lúc nào cũng mang lại kết quả tốt. Nếu không thể kiểm soát và chữa khỏi thì ung thư sẽ tiến triển đến giai đoạn cuối.

3. Ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối sống được bao lâu?

Ung thư tuyến giáp tồn tại ở 4 thể:

Thể nhú: thể này nhiều người mắc nhất ở căn bệnh ung thư này, chiếm khoảng 70-80%. Thời gian phát triển bệnh ở thể chậm và di căn sang hạch cổ, lan đến phổi hoặc xương. Thời gian sống của bệnh nhân ở kì cuối của dạng này trên 5 năm là 51% nếu được điều trị kịp thời.

Thể nang: phổ biến chỉ sau thể nhú (khoảng 10-15%), thường xảy ra ở những người thiếu i-ốt trong cơ thể. Loại này tiến triển nhanh hơn và di căn xa hơn vào xương và phổi. Thời gian sống trên 5 năm ở thể này là 50%.

Thể tủy: trường hợp mắc thể này ít hơn 2 loại trên (5-10%), nguyên nhân do các yếu tố di truyền và các yếu tố nội tiết. Thể này được chẩn đoán khi đã muộn (khi đã lan đến các hạch bạch huyết ở gan, phổi). Tỷ lệ sống sót trên 5 năm vào kì cuối là 28%.

Thể không biệt hóa: là loại rất nguy hiểm trong 4 thể, lan nhanh và rất phức tạp. Tuy nhiên xác suất mắc thể này cũng rất thấp, tỷ lệ sống trên 5 năm là 7% và đều phát hiện khi đã vào giai đoạn cuối.

Như vậy, ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối sống được bao lâu là tùy thuộc vào thời gian phát hiện bệnh, tùy vào loại bệnh mắc phải để đưa ra phương pháp điều trị, chế độ sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng với các thực phẩm tốt cho sức khỏe dành cho người mắc ung thư tuyến giáp.

4. Ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối có chữa được không?

Nếu bạn thắc mắc ung thư tuyến giáp có chữa được không, thì ung thư tuyến giáp ở giai đoạn cuối không thể thực hiện phẫu thuật vì lúc này khối u đã di căn tới các bộ phận khác trên cơ thể. Căn cứ vào mức độ di căn của tế bào ung thư, sức khỏe của người bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp.

5. Cách điều trị ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối

5.1. Phẫu thuật cắt bỏ khối u (nếu còn có thể)

Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong chữa trị ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối, phương pháp phẫu thuật cắt bỏ khối u kết hợp nạo vét hạch cổ là sự lựa chọn tối ưu. Song, vẫn phải tùy thuộc vào tình trạng và loại ung thư mắc phải.

Với dạng ung thư tuyến giáp biệt hóa tốt, việc cắt bỏ u tuyến giáp tận gốc xem như đã điều trị thành công, tuy nhiên nếu phát hiện quá trễ thì xác suất khỏi bệnh sẽ không cao. Ung thư thể tủy cũng thế, phẫu thuật sẽ là phương pháp điều trị hàng đầu, nếu không loại bỏ khối u tận gốc thì phải tiến hành xạ trị.

5.2. Xạ trị

Xạ trị là một trong những cách điều trị ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối khi đã di căn sang các vùng trọng yếu ở cổ như khí quản, thanh quản hoặc thực quản. Phương pháp này làm giảm mức độ phát triển và tốc độ lan tràn của các tế bào ác tính sau phẫu thuật. Bên cạnh đó, phương pháp sử dụng Iod phóng xạ đồng vị I-131 được khuyến nghị điều trị khá cao và phù hợp đối với bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hoặc thể nang và cho các bệnh nhân thể biệt hóa khi đã lan tới hạch bạch huyết hoặc di căn xa.

5.3. Điều trị kèm thuốc

Liệu pháp hormone thay thế là phương pháp chữa trị căn bệnh ung thư này được chỉ định sau khi điều trị I131hậu phẫu, hay sau khi cắt toàn bộ tuyến giáp hoặc có di căn lan tràn sau khi điều trị triệt căn thất bại. Bên cạnh mục đích thay thế hormone giáp cần thiết cho cơ thể thì điều trị kèm thuốc hormon giáp còn làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư biệt hóa sau khi đã phẫu thuật.

Như vậy, bệnh ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối có thể chữa trị nếu kịp thời và tuân thủ phác đồ điều trị. Nó sẽ ảnh hưởng suốt đời nếu người bệnh chủ quan dù đã điều trị, bạn nên kiểm tra thường xuyên cùng với chế độ dinh dưỡng ngon miệng sau điều trị phù hợp để ngăn ngừa bệnh tái phát. Thực hiện tầm soát ung thư phát hiện sớm, thoát khỏi án tử, lên kế hoạch theo dõi, chăm sóc sức khỏe và định hướng chữa bệnh hiệu quả

Các Giai Đoạn Của Bệnh Ung Thư Tuyến Giáp

Ung thư tuyến giáp được chia thành 4 giai đoạn với mức độ nguy hiểm khác nhau, tỉ lệ sống sót và điều trị triệt để phụ thuộc vào giai đoạn ung thư, công tác điều trị ung thư.

4 giai đoạn của bệnh ung thư tuyến giáp: biểu hiện và mức độ nguy hiểm

Đối với căn bệnh ung thư nói chung, mức độ nguy hiểm và tỉ lệ sống sót của người bệnh phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn phát triển của bệnh. Rất hiếm khi phát hiện ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu, 1 phần do biểu hiện bệnh không rõ ràng, 1 phần do tâm lí chủ quan của người bệnh vì những biểu hiện đó khá giống với những bệnh lí thông thường, và chỉ phát hiện ra bệnh khi khối u phát triển đủ lớn.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu

Ung thư tuyến giáp giai đoạn đầu là giai đoạn mà tế bào ung thư mới hình thành trong tuyến giáp, giai đoạn này bệnh chưa có biểu hiện gì rõ rệt, kích thước khối u nhỏ dưới 2cm, nếu sờ kĩ vào vùng cổ thì mới phát hiện ra có khối hạch nhỏ. Đặc biệt giai đoạn này ung thư chưa lan truyền sang các cơ quan khác, nên việc điều trị khá dễ dàng và điều trị khỏi 100%, thế nhưng lại ít người bệnh phát hiện ra bệnh trong giai đoạn 1 này.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn 2

Khi ung thư tuyến giáp giai đoạn 2, khối u tiếp tục phát triển với kích thước lớn hơn từ 2 – 4 cm, bắt đầu có những biểu hiện như: có dấu hiệu vướng ở cổ, nuốt thức ăn có cảm giác gợn. Lúc này tế bào ung thư vẫn chưa lây lan, di căn tại các bộ phận khác của cơ thể.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn 3

Ung thư tuyến giáp giai đoạn 3 là thời kì khối u tiếp tục phát triển kích thước, chưa di căn tới các bộ phận khác, nhưng bắt đầu lây lan hạch tại vùng cổ. Khối u ngày một lớn chèn ép dây khí quản, thanh quản gây khó thở, khó nuốt và khàn tiếng ở bệnh nhân.

Ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối (giai đoạn 4)

Ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối là giai đoạn tế bào ung thư bắt đầu lây lan sang các mô lân cận, hình thành tại các cơ quan khác như não, gan, xương, phổi,… gây nên những biến chứng nghiêm trọng tới sức khỏe và tính mạng người bệnh.

– Giai đoạn IVA: tế bào ung thư phát triển ra ngoài tuyến giáp, lây lan sang các vùng lân cận, hạch bạch huyết ở cổ thậm chí lan tới ngực.

– Giai đoạn IVB: Các khối u phát triển đến thành xương sống, lan dần đến các mạch máu lớn, nguy cơ ngấm vào đường máu và di chuyển tế bào ung thư tới các bộ phận khác trong cơ thể.

– Giai đoạn IVC: tế bào ung thư tuyến giáp di căn, hình thành khối u tại nhiều vùng khác trên cơ thể như phổi, xương, gan, não,… vô cùng nguy hiểm.