Virus Ung Thu Ruot / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thu Khoang Mieng, Ung Thu, Dieu Tri Ung Thu Khoang Mieng, Benh Ung Thu Khoang Mieng, Nguyen Nhan Mac Benh Ung Thu, Phuong Phap Dieu Tri Ung Thu

Khái niệm về ung thư khoang miệng: bệnh ung thư khoang miệng là một loại bệnh có khối u ác tính trong khoang miệng thường hay gặp. Ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu khá giống với bệnh viêm loét khoang miệng, có rất nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu thường lầm tưởng là mình bị nhiệt miệng, loét miệng đơn thuần hoặc chỉ là một căn bệnh về miệng nào đó, chính điều này đã làm bỏ lỡ mất cơ hội điều trị bệnh sớm nhất và tốt nhất.

Nguy cơ gây ung thư khoang miệng:

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư khoang miệng cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng trong đó vẫn có các yếu tố sau: hút thuốc lá và uống bia rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh trong một thời gian dài: niêm mạc miệng bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào hoặc bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ở Việt Nam, những người ăn trầu thuốc (thuốc lào) trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư này. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém… có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Bệnh cũng thường gặp ở nhóm nam giới trên 40 tuổi;…

Ung thư khoang miệng có những triệu chứng

1. Đau đớn: giai đoạn đầu thông thường không đau hoặc chỉ một chỗ nào đó trong miệng có cảm giác bất thường khi chạm vào, nếu như xuất hiện vết loét da miệng gây cảm giác đau, theo đà xâm lấn của khối u tới những dây thần kinh xung quanh, có thể dẫn đến đau trong tai và khoang mũi họng.

2. Thay đổi sắc da: Niêm mạc khoang miệng nếu như thay đổi màu sắc, màu nhợt hoặc màu đen lại, có nghĩa là khi đó tế bào biểu mô niêm mạc miệng đang thay đổi. Đặc biệt là niêm mạc miệng chuyển thô, dày hơn hoặc xơ cứng lại, xuất hiện niêm mạc miệng trắng bợt hoặc ban đỏ, rất có thể là biến chứng của ung thư.

3. Loét không khỏi: Vết loét miệng thông thường không thể quá 2 tuần mà không khỏi, nếu như có cảm giác nóng rát, đau quá thời gian 2 tuần vẫn không đỡ nên cảnh giác với ung thư khoang miệng.

4. Sưng hạch: ung thư hạch thường di căn đến vùng hạch cổ gần đó, có khi ổ bệnh nguyên phát rất nhỏ, thậm chỉ triệu chứng còn chưa rõ, nhưng hạch vùng cổ đã bị di căn. Do đó, khi hạch vùng cổ đột ngột sưng to, cần đi kiểm tra chụp CT, để kiểm tra có phải hạch do ung thư hay không.

5. Bên trong khoang miệng chảy máu: Chảy máu là một tín hiệu nguy hiểm lớn của bệnh ung thư khoang miệng. Vì khối u phát triển trong khoang miệng tiếp xúc nhẹ cũng sẽ gây chảy máu.

6. Chức năng gặp trở ngại: Khối u có thể xâm lấn cơ đóng mở miệng và xương cằm làm cho vận động đóng mở của cơ miệng bị giới hạn, gây ra hiện tượng ngậm mở miệng khó khăn.

7. Xương hàm và răng: một vị trí nào đó tại xương hàm sưng to, làm cho mặt bị lệch. Đột nhiên xuất hiện hiện tượng răng lung lay, rụng, khi nhai đồ ăn khó khăn, có cảm giác khó nhai như người lắp răng giả, vùng khoang mũi họng tê, đau, sau khi điều trị thì bệnh không có chuyển biến, nên cảnh giác là căn bệnh ung thư khoang miệng.

8. Vận động của lưỡi và tri giác: tính linh hoạt của lưỡi bị hạn chế, dẫn đến nhai, nuốt hoặc nói khó khăn, hoặc một bên lưỡi mất cảm giác, tê, tất cả đều cần kiểm tra xác định nguyên nhân sớm.

Ngoài ra còn xuất hiện các hiện tượng khác như sự bất thường ở thần kinh mặt, cảm giác tê, chảy máu mũi không rõ nguyên nhân…, cũng phải lập tức đến bệnh viện sớm để kiểm tra tìm nguyên nhân chính xác.

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Ung thư khoang miệng được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 và 2 được coi là giai đoạn sớm. Tùy theo giai đoạn của khối u mà bệnh nhân sẽ được điều trị các biện pháp thích hợp. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị ung thư khoang miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao, người bệnh có thể bảo tồn được chức năng của khoang miệng cũng như đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Còn ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hiệu quả điều trị kém, gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh.

Do đó khi thấy một trong các dấu hiệu đã nêu trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Ngoài ra để phòng và hạn chế nguy cơ gây ung thư khoang miệng cần thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, không nên hút thuốc lá, uống rượu, ăn trầu,… giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán ung thư miệng

1. Kiểm tra hình ảnh học

(1) Kiểm tra đồng vị phóng xạ có thể cho biết tình trạng tuyến giáp và di căn xương của ung thư miệng.

(2) Chụp Xquang và chụp cắt lớp, có thể giúp bác sỹ nắm được thông tin tương đối có giá trị về tình trạng bệnh khi ung thư miệng di căn đến xương hàm trên, hàm dưới, xoang mũi và các khoang cạnh mũi.

2. Xét nghiệm tế bào học và sinh thiết

(1)Xét nghiệm tế bào học phù hợp cho tiền ung thư chưa có triệu chứng hoặc ung thư giai đoạn đầu mà phạm vi xâm lấn của ung thư chưa rõ ràng, sử dụng cho những trường hợp kiểm tra sàng lọc, sau đó đối với những kết quả dương tính và hoài nghi ung thư sẽ tiếp tục tiến hành sinh thiết xác định chính xác bệnh.

(2)Đối với chuẩn đoán ung thư miệng biểu mô tế bào vảy thông thường áp dụng chọc hút hoặc cắt một phần khối u đi sinh thiết. Vì niêm mạc bề mặt thường loét hoặc không bình thường, vị trí nông, nên tránh tổ chức hoại tử, lấy tế bào tại nơi tiếp xúc giữa tổ chức ung thư với các tổ chức bình thường xung quanh, khiến cho những tiêu bản lấy được vừa có tế bào ung thư vừa có tế bào thường.

3. Tự kiểm tra

(1)Kiểm tra vùng đầu: Tiến hành quan sát sự đối xứng, chú ý sự thay đổi màu sắc da với vùng đầu và cổ.

(2) Kiểm tra vùng cổ: dùng tay kiểm tra, từ sau tai sờ đến xương hàm, chú ý khi sờ có thấy đau và sưng hay không.

(3) Kiểm tra môi: Trước tiên lật bên trong môi dưới, quan sát môi và niêm mạc trong môi, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái lật môi dưới từ trong ra ngoài, từ bên trái qua bên phải, sau đó kiểm tra môi trên cũng giống như vậy, sờ xem có khối u hay không, quan sát xem có tổn thương gì hay không. Tiếp đó dùng phương pháp tương tự kiểm tra bên trong môi trên.

(4) Kiểm tra lợi: Kéo môi ra, quan sát lợi, và kiểm tra bằng cách sờ vùng má xem có bất thường gì không.

(5) Kiểm tra lưỡi: đưa lưỡi ra, quan sát màu sắc và kết cấu lưỡi, dùng gạc vô trùng bọc đầu lưỡi lại sau đó kéo lưỡi hướng sang phải, rồi sang trái để quan sát 2 bên cạnh của lưỡi.

(6) Kiểm tra vòm miệng phía trên : đối với kiểm tra vòm miệng cần dùng phần tay cầm của bàn chải đánh răng đè lưỡi bẹt xuống, đầu hơi ngả về phía sau, quan sát màu sắc và hình thái của ngạc mềm và ngạc cứng.

Virus Hp/Virus Hp Là Nguyên Nhân Hàng Đầu Gây Bệnh Ung Thư Dạ Dày.

Virus hp hay còn gọi là Helicobacter pylori là loại virus xâm nhập vào cơ thể và cư trú bên trong dạ dày. Người bệnh thường bị nhiễm vi rút hp từ khi còn bé và đây cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm loét dạ dày – tá tràng về sau, thậm chí là ung thư dạ dày. Tỉ lệ bị xâm nhập bởi virus hp có thể lên đến 50% dân số trên thế giới.

Virus hp là loại virus có tính dễ lây lan, đề kháng cao nên việc tiêu diệt vi khuẩn hp không phải điều dễ dàng, nhất là khi chưa hiểu về cơ chế sống và hoạt động của vi khuẩn hp.

Sự phát triển của virus HP trong dạ dày là 1 trong những gây nên bệnh lý viêm viêm loét dạ dày tá tràng. Vì vậy việc điều trị bệnh cũng cần phải kết hợp từ giảm tiết acid dạ dày đến tiêu diệt khuẩn HP.

Virus HP thích nghi trong môi trường dạ dày.

Virus hp hay còn gọi là Helicobacter pylori là loại virus xâm nhập vào cơ thể và cư trú bên trong dạ dày. Người bệnh thường bị nhiễm vi rút hp từ khi còn bé và đây cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm loét dạ dày – tá tràng về sau, thậm chí là ung thư dạ dày. Tỉ lệ bị xâm nhập bởi virus hp có thể lên đến 50% dân số trên thế giới.

Như nghiên cứu chứng minh, vi khuẩn HP tồn tại song song cùng với sự tiến hóa của con người, nên chúng cũng tiến hóa để thích nghi và phát triển trong môi trường acid đậm đặc của dạ dày. Vi khuẩn HP sở hữu men Urease có tá dụng chuyển hóa Ure trong dạ dày thành khí Amoniac và Cacbonic làm trung hòa môi trường acid dạ dày. Hệ thống lông roi linh hoạt giúp virus HP di chuyển nhanh chóng trong dạ dày, tránh tác động kéo dài của acid dịch vị. Ngoài ra vi khuẩn HP còn phát triển 1 số biện pháp tránh né miễn dịch làm cho miễn dịch cơ thể trở lên vô hiệu trước chúng.

Đa số người bị nhiễm loại vi rút hp sẽ không biết rằng mình đang bị nhiễm, nguyên nhân là do loại vi khuẩn này khi xâm nhập không gây ra bất kỳ triệu chứng đặc hiệu nào cho sự nhiễm khuẩn. Thông thường, bệnh nhân phát hiện ra virus hp dạ dày là khi thực hiện các xét nghiệm được chỉ định bởi các bác sĩ do có xuất hiện các biểu hiện hoặc các dấu hiệu cho thấy bệnh nhân đang bị mắc bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng. Chính vì thế vi khuẩn hp được mệnh danh là “kẻ lây lan không tiếng động”

Các yếu tố nguy cơ khiến virus HP gây bệnh.

VIRUS HP- NGUYÊN NHÂN HÀNG ĐẦU GÂY UNG THƯ DẠ DÀY.

Các bệnh lí dạ dày như: Trào ngược dạ dày, đau dạ dày tá tràng, viêm loét dạ dày… do nguyên nhân vi khuẩn HP gây ra phụ thuộc vào những yếu tố sau:

Di truyền: Thông thường trong gia đình, nếu mà đã có 1 người bị nhiễm vi khuẩn HP thì các thành viên còn lại có tỉ lệ nhiễm khuẩn rất cao. Khi mà bố mẹ đã bị nhiễm khuẩn HP, thì nên đưa các thành viên đi xét nghiệm ngay lâp tức để sớm phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn.

Nhóm máu: Người có nhóm máu O có nguy cơ bị loét dạ dày cao hơn thông thường, trong khi đó người nhóm máu A có nguy cơ bị Ung thư dạ dày do HP cao hơn hẳn các nhóm máu khác. Chủng vi khuẩn HP: Chủng vi khuẩn HP ở Việt Nam, Nhật Bản có độc tính gây bệnh cao hơn chủng vi khuẩn HP ở phương Tây.

Tuổi tác: Trẻ nhỏ thường ít bệnh do vi khuẩn HP gây ra trong dạ dày, tỷ lệ mắc bệnh gia tăng theo độ tuổi do quá trình sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn theo thời gian.

Làm sao để loại trừ virus HP?

Bệnh nhân cần được chăm sóc bởi các chuyên gia y tế nếu xuất hiện các triệu chứng đường tiêu hóa một cách dai dẳng. Đặc biệt nếu đó là các triệu chứng như cảm giác đau bụng một cách dữ dội hoặc đau bụng kéo dài không giảm, khó nuốt khi ăn thức ăn hoặc khi uống nước, đi cầu phát hiện thấy phân có kèm máu đỏ tươi hoặc có màu đen như nhựa đường, ói ra máu hoặc khi ói có thấy dịch màu đen hay màu nâu đen. Thêm vào đó người bệnh thường chưa hiểu và đánh giá được hết sức hoạt động của loại virus này nên thường chủ quan.

Thông thường người Việt Nam thường có thói quen để ủ bệnh, đến khi nào bệnh xuất hiện triệu chứng: trào ngược dạ dày, viêm loét dạ dày, Ung thư dạ dày… mới bắt đầu đi thăm khám và điều trị. Như vậy quá trình chữa bệnh sẽ vô cùng tốn kém và mất thời gian; hiệu quả trị bệnh cũng không được cao. Vì vậy nếu có nguy cơ nhiễm khuẩn bạn lên đi thăm khám ngay để phát hiện bệnh sớm và điều trị hiệu quả nhất.

Quá trình điều trị bệnh bằng tây y tại các bệnh viện TW thường rất tốn kém mà lại gây tác dụng phụ có hại cho bệnh nhân. Vậy nên hiện nay người bệnh thường có xu hướng tìm đến các bài thuốc đông y trong dân gian để sử dụng và điều trị bệnh an toàn lại có hiệu quả lâu dài, dứt điểm.

✓ Phác đồ điều trị vi khuẩn hp mới nhất được cập nhật

Vi khuẩn hp là loại virus tồn tại phổ biến ở dạ dày người nhưng không có nghĩa là không có hại, ngược lại virus hp có thể gây ra rất nhiều căn bệnh nguy hiểm kể trên. Chính vì vậy thực hiện một chế độ sống khoa học, tích cực rèn luyện để nâng cao sức khỏe, giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung… là những yếu tố hết sức quan trọng để tránh nhiễm loại vi rút hp này.

✓ Kết hợp bài thuốc kháng sinh đông y để đặc trị virus Hp

Bài thuốc đông y gia truyền Phú_yên_vị_tán của nhà thuốc Xuân Qúy đã được lưu truyền 6 đời, cùng với tâm đức của người thầy thuốc Nguyễn Xuân Quý cam kết điều trị triệt để bệnh lí nhiễm khuẩn HP dạ dày.

Ưu điểm vượt trội của Bài thuốc:

Thành phần thảo dược thiên nhiên phổ biến trong các bài thuốc đặc trị dạ dày như: dạ nhím, dạ cẩm, bồ công anh,… Giup cải thiện bệnh và chấm dứt các triệu chứng sau 5- 7 ngày sử dụng.

Thuốc bào chế dạng bột tăng khả năng hấp thụ vào thành dạ dày nên không những điều trị nhanh mà còn lâu dài.

Thương hiệu nhà thuốc lưu truyền 6 đời cam kết cho niềm tin người bệnh.

Nhà thuốc gỗ trợ tư vấn miễn phí cho tất cả bệnh nhân vào tất cả các ngày trong tuần.

Keywords: chữa nhiễm virus hp, nhiễm virus hp, thuốc ức chế virus hp, virus hp, virus hp gây ung thư dạ dày, virus hp nguy hiểm

Virus Hpv Gây Ung Thư Cổ Tử Cung

Virus HPV là loại virus gây mụn cóc sinh dục. Chúng để lại hệ quả nguy hiểm là gây ra ung thư cổ tử cung. Ước tính tỷ lệ ung thư cổ tử cung do virus này gây ra lên đến 90%.

Tuy nhiên, không phải ai trong số chúng ta cũng đều biết rằng virus HPV còn có thể lây và phát bệnh trên mặt chứ không chỉ bị ở vùng sinh dục. Vì niêm mạc ở bộ phận sinh dục mỏng, dễ trầy xước trong quá trình giao hợp, nên dễ bị nhiễm bệnh nếu quan-hệ tnh-dục không an toàn. Niêm mạc ở miệng cũng rất mỏng, nên khả năng lây nhiễm sẽ rất cao khi tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết ra trong quá trình “quan hệ” với người mang mầm bệnh cho dù không xảy ra trầy xước.

1. HPV lây lan qua đường nào?

Con đường lây nhiễm HPV ở miệng chủ yếu qua hoạt động quanhệ tình-dục. Ngày nay, việc “yêu” đường miệng đã trở nên phổ biến hơn, đó cũng chính là lý do tại sao tỉ lệ chị em mắc các bệnh tình dục ở miệng (chủ yếu là nhiễm HPV) ngày càng tăng.

Nói một cách đơn giản hơn, virus HPV có thể lây nhiễm qua đường miệng nếu bạn có tiếp xúc với miệng hoặc “vùng kín” của người nhiễm bệnh. Virus HPV có thể xâm nhập vào cơ thể bạn qua các vết xước trên “vùng kín” của “đối tác” hoặc vết thương hở trong miệng của bạn.

Những người có nhiều “đối tác” tình dục càng có nhuy cơ nhiễm trùng HPV cao hơn những người khác. Nếu bạn có ít nhất 20 “đối tác” tình dục khác nhau, nguy cơ gia tăng nhiễm HPV cao hơn tới 20%. Những người hút thuốc lá cũng dễ bị nhiễm HPV do hệ miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể bị giảm đi đáng kể.

2. Các triệu chứng nhiễm virus HPV giai đoạn sớm

Sự thật là đa số những người bị nhiễm HPV dù ở miệng hay ở bộ phận sinh dục đều không có triệu chứng cụ thể ở giai đoạn đầu. Điều này có nghĩa rằng người bệnh sẽ rất khó để nhận ra mình đang bị nhiễm bệnh cho tới khi bệnh chuyển sang nặng và biểu hiện ra bên ngoài hoặc lây cho người khác và người bị lây có dấu hiệu phát bệnh.

Nếu bạn bị lây nhiễm HPV ở miệng và không được điều trị kịp thời, hiệu quả, nó có thể dẫn đến ung thư vòm họng.

Khi bị nhiễm HPV ở miệng, rất nhiều người có những triệu chứng sau đây:

Phát ban, mẩn đỏ, lở loét… ở trong khoang miệng

Gặp khó khăn trong việc nuốt

Ho ra máu, khản giọng

Có khối u trong má hoặc ở cổ

Tuy nhiên, khi thấy đầy đủ các triệu chứng này xuất hiện thì rất có thể bệnh đã đang trong giai đoạn cuối. Ngoài ra, khi bị nhiễm HPV, người bệnh có thể có những triệu chứng dễ nhầm với bệnh ung thư như: đau họng, có một mảng màu đỏ hoặc màu trắng trên amiđan, tê lưỡi, sưng hoặc đau ở xương hàm… Vì vậy, nếu thấy xuất hiện những triệu chứng này, bạn cần đi khám để xác định đó là triệu chứng của bệnh ung thư hay chỉ là nhiễm trùng HPV để có phương pháp điều trị thích hợp.

Nếu bạn thấy có các dấu hiệu cảnh báo nhiễm HPV ở miệng trong hơn 2 tuần, bạn cần đi khám ngay, tránh để bệnh nặng thêm và khó điều trị.

3. Chẩn đoán HPV bằng cách nào?

Sự xuất hiện của các mụn cóc vùng sinh dục là một cách để chẩn đoán HPV. Bác sĩ có thể chỉ cần xem xét để chẩn đoán. Tuy nhiên, các loại HPV có kèm theo mụn cóc thường không phải là những loại dẫn đến ung thư.

Những phụ nữ bị nhiễm HPV gây ung thư có thể sớm phát hiện ra nhờ vào kết quả kiểm tra Pap bất thường. Kiểm tra Pap là cách chính yếu để bác sĩ có thể tìm thấy ung thư cổ tử cung hoặc các thay đổi báo trước bệnh ung thư ở cổ tử cung.

Xét nghiệm này thường hiếm khi diễn ra định kỳ ở phụ nữ dưới 30 tuổi bởi vì có nhiều phụ nữ trẻ hơn bị phơi nhiễm HPV và cơ thể họ thường loại bỏ virút mà không cần điều trị. Xét nghiệm ADN có thể gây nên những lo lắng không cần thiết. Một số chuyên gia cũng tin rằng ở những phụ nữ trẻ thì cổ tử cung có thể chịu đựng tốt HPV hơn so với phụ nữ khi về già.

Ở nam giới, cũng như nữ giới, các mụn cóc vùng sinh dục phản ánh việc bị nhiễm HPV. Nhưng không có một kiểm tra cụ thể nào về các loại HPV gây ung thư chon am giới ở thời điểm này.

4. Điều trị HPV ở phụ nữ như thế nào?

Tùy thuộc vào bao nhiêu mô tế bào bị loại bỏ và lấy ra, ít hay nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến “đường ra” của em bé và gây nên chứng suy cổ tử cung. Tình trạng này rất dễ khiến mẹ bầu bị sảy thai bởi cổ tử cung không đủ chắc để giữ thai nhi. Khi mang thai, nếu mẹ bầu bị nhiễm HPV vẫn duy trì chuyện “yêu đương”, rất có thể bệnh sẽ lây cho ông xã nếu không có biện pháp bảo vệ. Hơn nữa, vi rút còn có “khả năng” di chuyển qua dây nhau và gây mụn cóc ở dâu thanh quản của bé con trong bụng.

Hiện đã có vắc-xin phòng ngừa từ ban đầu cho bệnh ung thư cổ tử cung. Tại Singapore, hai loại thương mại hiện có là Cervarix và Gardasil. Cả hai loại vắc-xin đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc bảo vệ chống lại HPV 16 và 18, nguyên dân dẫn đến 70% trường hợp ung thư cổ tử cung. Tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh sản được khuyến khích tiêm chủng loại ung thư có thể được ngăn ngừa này.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIV , tư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ chuyên gia.

Chín Mé Do Virus Herpes

Triệu chứng lâm sàng      Chín mé do herpes có thời gian ủ bệnh khoảng 2-20 ngày. Các triệu chứng toàn thân như sốt và mệt mỏi có thể xuất hiện như là biểu hiện đầu tiên của bệnh, nhưng ít gặp. Các dấu hiệu hay gặp hơn là cảm giác đau, rát bỏng, châm chích ở đốt ngón tay có nhiễm virus herpes. Sau đó, đốt ngón tay trở nên đỏ, phù nề, xuất hiện các đám mụn nước có đường kính 1-3 mm trên nền da đỏ, tồn tại trong 7-10 ngày. Các mụn nước có thể bị loét, vỡ ra, thường chứa dịch trong suốt, hoặc có màu đục hoặc có máu. Hạch vùng nách ít khi to. Sau 10-14 ngày, các triệu chứng cải thiện, thương tổn đóng vảy tiết và lành. Sau đợt nhiễm trùng đầu tiên, virus herpes từ ngón tay xâm nhập vào đầu mút của các dây thần kinh cảm giác ở da, di chuyển vào các hạch thần kinh ngoại vi và tế bào Schwann, sống tiềm ẩn ở đó trong thời gian rất lâu. Khi gặp điều kiện thuận lợi như suy giảm miễn dịch, sang chấn tâm lý, tiếp xúc với tia xạ, tia cực tím, laser, virus tái hoạt động, di chuyển ra da, tạo nên hình ảnh lâm sàng của nhiễm herpes thứ phát. Thông thường, các triệu chứng lâm sàng của nhiễm herpes tiên phát rầm rộ nhất, còn nhiễm thứ phát thì nhẹ hơn với thời gian ngắn hơn. Chẩn đoán      Chẩn đoán chín mé do herpes chủ yếu dựa vào các đặc điểm lâm sàng như đã mô tả ở trên, tiền sử nghi ngờ phơi nhiễm hoặc ở trẻ em có thói quen mút ngón tay. Ngoài ra có thể thực hiện các xét nghiệm chứng minh sự có mặt của virus herpes như chẩn đoán tế bào học, phản ứng khuếch đại chuỗi polymerase (PCR) với HSV-1 và HSV-2, nuôi cấy virus. Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, chúng tôi thực hiện hai xét nghiệm đầu tiên. Đặc biệt, chẩn đoán tế bào học là một xét nghiệm đơn giản, dễ thực hiện, cho kết quả nhanh, độ nhạy cao. Bệnh phẩm được lấy từ nền của mụn nước, dàn lên lam kính, sau đó thực hiện các bước của kỹ thuật nhuộm Giemsa. Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, có thể thấy các đặc điểm của tế bào viêm, tế bào biểu mô. Hình ảnh đặc trưng của nhiễm herpes là các tế bào biểu mô có nhiều nhân.

  

.

Ảnh 1.    Trẻ gái 6 tuổi có thói quen mút ngón tay, xuất hiện nhiều mụn nước thành đám trên nền da sưng đỏ đầu ngón tay, mụn nước chứa dịch máu. Trẻ đau nhiều, không sốt.    

(Nguồn: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội)

.

Ảnh 2.  Trẻ được xét nghiệm tế bào học. Hình ảnh quan sát dưới kính hiển vi ở độ phóng đại x10 cho thấy các tế bào biểu mô nhiều nhân đứng thành đám.  

(Nguồn: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội)

Ảnh 3. Hình ảnh tế bào biểu mô nhiều nhân ở độ phóng đại x40.  (Nguồn: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội)

Điều trị và phòng bệnh      Với các nhân viên y tế: đi găng tay khi chăm sóc người bệnh, khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh. Với trẻ em, tránh thói quen mút tay. Thuốc điều trị: Nhiễm trùng tiên phát – Người lớn: acyclovir 200 mg uống 5 lần/ngày; acyclovir 400 mg uống 3 lần/ngày; valacyclovir 1000 mg uống 2 lần/ngày; famciclovir 250 mg uống 03 lần/ngày. – Trẻ em: acyclovir 15 mg/kg uống 5 lần/ngày. – Thời gian điều trị : 5-7 ngày. Nhiễm trùng tái phát – Ở người lớn: có thể dùng thuốc bôi acyclovir, cidofovir; uống acyclovir 400 mg 5 lần/ngày trong 4-5 ngày; famciclovir 500 mg 2-3 lần/ngày trong 01 ngày; valacyclovir 2000 mg 2 lần/ngày trong 01 ngày. – Ở trẻ em: acyclovir 20-30 mg/kg uống 5 lần/ngày trong 4-5 ngày. Dự phòng tái phát: người lớn uống acyclovir 400 mg 2 lần/ngày.

Bài và ảnh: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương; Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội. Đăng bài: Phòng CNTT&GDYT