Biểu Hiện Viêm Đại Tràng Và Ung Thư Đại Tràng

Có tới 5 -20% người Việt Nam mắc bệnh viêm đại tràng nhưng rất ít người biết được căn bệnh này có nguy cơ rất cao chuyển hóa thành ung thư đại tràng – 1 trong 5 căn bệnh ung thư nguy hiểm nhất gây tử vong tại Việt Nam. Vậy, biểu hiện viêm đại tràng chuyển hóa thành ung thư đại tràng?

Người Việt Nam và bệnh viêm đại tràng

Bệnh viêm đại tràng có thể biến chứng thành các căn bệnh nguy hiểm như: giãn đại tràng cấp tính (2-6%), thủng đại tràng (2,8%), chảy máu nặng (1-5%). Viêm loét đại tràng chảy máu lâu ngày làm tăng tỉ lệ ung thư đại tràng: 2,5% số người bệnh bị ung thư đại tràng sau 10 năm, 7,6% sau 30 năm và 10,8% sau 50 năm.

Biểu hiện của viêm đại tràng và ung thư đại tràng

Các triệu chứng của viêm đại tràng khá giống với các triệu chứng của ung thư đại tràng: Đau bụng, Ợ hơi, chướng bụng, Rối loạn tiêu hóa, Đại tiện ra máu…

Quá trình chuyển hóa từ viêm đại tràng thành ung thư đại tràng. Cách điều trị viêm đại tràng

Đây là một trong các cách điều trị viêm đại tràng tại nhà hiệu quả. Bạn nên hạn chế uống sữa tươi, dưa cà muối, trứng, nem rán, thịt mỡ, đậu đen, hành sống, mật ong, bánh kẹo ngọt, rau sống, bắp luộc, ngô luộc, thuốc lá, cafe, trà, socola, những thức ăn sinh hơi, những thức ăn nhiều gia vị, thức uống có cồn.

Nên ăn ăn cơm, khoai tây, thịt nạc, cá nạc, các loại rau xanh nhiều lá như rau ngót, rau muống

Uống Phong Liễu Tràng Vị Khang:

Hiện nay, Phong liễu Tràng Vị Khang là thuốc chữa viêm đại tràng mạn tính nguồn gốc Đông Y đã được đông đảo bác sĩ, dược sĩ, bệnh nhân tin tưởng sử dụng trong suốt 16 năm qua!

Phương pháp điều trị viêm đại tràng bằng Phong liễu Tràng Vị Khang được nhiều người sử dụng, do đảm bảo an toàn và hiệu quả. Dược phẩm có nguồn gốc thảo dược, giảm nhanh các triệu chứng đau bụng, đi ngoài, đầy hơi, khó tiêu, rối loạn tiêu hoá và điều hòa chức năng sinh lý dạ dày – ruột, điều trị viêm đại tràng mạn tính. Phong liễu Tràng Vị Khang được bào chế dưới dạng cốm hòa tan, giúp bệnh nhân hấp thụ thuốc dễ dàng và nhanh hơn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các bệnh nhân bị các bệnh lý về đường tiêu hóa; khi mà hệ tiêu hóa đang bị tổn thương, việc hòa tan và hấp thu thuốc trở nên khó khăn hơn bình thường.

Viêm Đại Tràng Và Nguy Cơ Ung Thư Đại Trực Tràng

Theo thống kê của bộ y tế năm 2024, khoảng 5 – 20 % dân số Việt Nam đang phải đối mặt với các bất ổn của đại tràng, cứ 3 người trưởng thành lại có 1 người mắc bệnh viêm đại tràng. Tuy là bệnh lành tính nhưng nếu không điều trị kịp thời, viêm đại tràng mãn tính có thể dẫn đến nguy cơ ung thư đại trực tràng vô cùng nguy hiểm

Viêm đại tràng thường được biết đến với các dấu hiệu đặc trưng như rối loạn tiêu hoá, đầy hơi, khó tiêu, chướng bụng, rối loạn phân …. Thương xuyên đau quặn từng cơn, thậm chí với người mắc phải viêm đại tràng cấp cơn đau này thường tái đi tái lại nhiều lần gây khá nhiều phiền toái trong sinh hoạt, cuộc sống.

Viêm đại tràng rất khó chữa trị dứt điểm, nếu bệnh nhân không điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến mãn tính, khi đó người bệnh sẽ chỉ còn cách “sống chung với lũ” trong nhiều năm, hoặc có thể là cả đời.

Ung thư đại trực tràng có thể coi là một biến chứng nguy hiểm của bệnh viêm đại tràng mãn tính. Tỉ lệ mắc phải ung thư đại trực tràng ở những bệnh nhân viêm đại tràng lâu năm cao gấp 25% so với người bình thường. Sau 8 – 10 năm mắc phải viêm đại tràng mãn tính, nguy cơ ung thư hoá các tế bào niêm mạc dần bắt đầu.

Quá trình chuyển hoá từ viêm đại tràng sang ung thư đại tràng

Sau một thời gian dài bị tổn thương, viêm nhiễm cùng với việc sử dụng quá nhiều các chất kháng sinh đường ruột khiến hệ vi sinh mất cân bằng, các tế bào niêm mạc đại tràng do ảnh hưởng từ nhiều yếu tố đã không còn có thể phát triển bình thường. Từ đó việc phân chia không trật tự dẫn đến các tế bào tăng trưởng quá mức, hệ tiêu hoá bắt đầu xuất hiện các tế bào lạ và đây chính là căn nguyên ban đầu của bệnh ung thư – tế bào tiền ung thư.

Quá trình phát triển của bệnh ung thư đại tràng qua các giai đoạn Vậy đâu là biện pháp ngăn ngừa ?

Ăn uống điều độ, lành mạnh: tuân thủ một chế độ ăn uống nghiêm ngặt lành mạnh là điều không thể thiếu với bệnh nhân viêm đại tràng. Người bệnh nên dùng cơm, khoai tây, thịt nạc, cá nạc, các loại rau xanh nhiều lá như rau ngót, rau muống … Ngoài ra nên kiêng cử sữa, mật ong, cà phê, trứng, thịt mỡ và những thực phẩm sinh hơi khác.

Kiểm tra sức khoẻ định kỳ: thăm khám sức khoẻ định kỳ hằng năm giúp chúng ta có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bệnh tật của cơ thể và áp dụng điều trị một cách kịp thời. Ngoài ra với người viêm đại tràng, việc tầm soát kịp thời giúp tăng khả năng điều trị bệnh cũng như ngăn ngừa biến chứng của viêm đại tràng. Sau 8 năm nên tầm soát đại tràng toàn thể, sau 10 năm thì là đại tràng trái, và sau 50 tuổi nên kiểm tra viêm loét ống hậu môn.

Điều trị đúng cách, dứt điểm: thường khi gặp phải các triệu chứng đặc trưng của bệnh đại tràng như rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, táo bón … bệnh nhân thường nghĩ ngay đến việc sử dụng kháng sinh để điều trị. Phương pháp này có thể làm giảm ngay các triệu chứng chỉ trong thời gian ngắn nhất, tuy nhiên đó chỉ là phần ngọn khi các loại kháng sinh đó đã tiêu diệt luôn cả những lợi khuẩn đường ruột – được xem như lá chắn tự nhiên bảo vệ các tế bào niêm mạc đại tràng. Điều đó sẽ khiến bệnh dễ tái phát và dần chuyển biến thành mãn tính. Việc quan trọng nhất ở đây là giúp bề mặt niêm mạc đại tràng mau chóng phục hồi, khôi phục sức khoẻ đường tiêu hoá. Việc sử dụng các loại TPCN bảo vệ sức khoẻ, đặc biệt các sản phẩm có chứa thành phần trợ sinh miễn dịch Immunepath-IP, thực chất là các Peptidoglycan có khả năng tăng cường hệ thống lợi khuẩn đường ruột, cân bằng hệ vi sinh được xem như một liệu pháp hỗ trợ điều trị an toàn, hiệu quả và trên hết là không gây ra hiện tượng ” lờn thuốc, lờn kháng sinh “

TPBVSK Tràng Tam Quốc là sự kết hợp ưu việt giữa 10 thành phần gồm thảo dược thiên nhiên và y học hiên đại giúp hỗ trợ điều trị, giúp giảm các triệu chứng của bệnh viêm đại tràng cấp và mãn tính, viêm đại tràng co thắt, tiêu chảy, đau bụng đi ngoài nhiều lần, rối loạn tiêu hoá . Giúp tăng cường sức khoẻ đại tràng và đường tiêu hóa

.

Viêm Đại Tràng Mạn Tính Và Nguy Cơ Ung Thư

Có tới 20 – 25% dân số Việt Nam mắc viêm đại tràng mạn tính nhưng ít ai biết rằng, căn bệnh này có thể dẫn tới ung thư đại tràng – một loại ung thư có tỷ lệ tử vong đứng thứ 4 trên thế giới, chỉ sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan. Bệnh càng lâu nguy cơ ung thư càng cao

Viêm đại tràng mạn tính thực chất là tình trạng tổn thương niêm mạc với các vết loét nông hoặc sâu tùy vào mức độ bệnh. Các ổ loét này là nơi chứa đựng các loại vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng… Khi thời gian bị bệnh kéo dài và không được điều trị dứt điểm, tình trạng loét có thể lan rộng và lấn sâu qua lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc tới lớp cơ và thanh mạc (lớp ngoài cùng của đại tràng) gây ra nhiều biến chứng đe dọa đến sức khỏe và tính mạng người bệnh.

Một trong những biến chứng nguy hiểm và đáng sợ nhất của bệnh viêm đại tràng mạn tính là ung thư đại tràng. Nguy cơ ung thư tích lũy theo thời gian và có thể bắt đầu xuất hiện khi bị viêm đại tràng mạn tính từ 7 – 8 năm trở đi. Theo các nghiên cứu, viêm đại tràng mạn tính làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng từ 20 -25% và có tới 30% người bị viêm toàn bộ đại tràng kéo dài trong 25 năm sẽ có nguy cơ bị ung thư đại tràng.

Quá trình ung thư hóa của các trường hợp viêm đại tràng mạn tính được các bác sỹ chuyên khoa giải thích như sau: Khi niêm mạc đại tràng bị viêm loét kéo dài hoặc tình trạng viêm loét tái phát liên tục, các tế bào biểu mô niêm mạc sẽ có nguy cơ bị loạn sản và chuyển thành ác tính, gây ra ung thư đại tràng.

Đáng nói là, triệu chứng của ung thư đại tràng hết sức nghèo nàn. Bệnh chỉ gây rối loạn tiêu hóa, đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, đi ngoài ra máu…và rất dễ nhầm với một số bệnh về đường tiêu hóa khác nên thường không được phát hiện sớm.

Bên cạnh biến chứng ung thư, viêm đại tràng mạn tính kéo dài còn gây suy nhược cơ thể, làm cho sức khỏe người bệnh suy yếu và có thể dẫn đến một số hậu quả khác như thủng đại tràng, chảy máu nặng, giãn đại tràng cấp tính….

Điều trị sớm ngăn ngừa biến chứng

Theo các chuyên gia y tế, để ngăn chặn những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, đặc biệt là nguy cơ ung thư, người bệnh viêm tràng mạn tính không nên coi thường và chủ quan khi thấy các triệu chứng của bệnh như đau bụng ẩm ỉ, đi ngoài phân nát hoặc lỏng, đầy bụng, chán ăn… Tốt nhất, nên điều trị tích cực nhằm dứt điểm bệnh ngay khi xuất hiện các biểu hiện đầu tiên.

Hiện nay, giải pháp điều trị viêm đại tràng mạn tính bằng thuốc tây vẫn được nhiều người bệnh lựa chọn do chúng có tác dụng nhanh chóng, giúp người bệnh cải thiện rõ rệt các triệu chứng. Tuy nhiên, thuốc tây lại không điều trị tận gốc bệnh và khi sử dụng nhiều lại rất dễ gây ra tình trạng phụ thuộc thuốc, nhờn thuốc và các tác dụng không mong muốn như suy giảm chức năng gan, thận, viêm dạ dày…

Vì vậy, người bệnh chỉ nên sử dụng thuốc tây để điều trị khi thật cần thiết trong các đợt cấp tính, còn về lâu dài thì nên điều trị bằng các loại thuốc Đông dược được bào chế từ các bài thuốc cổ phương như “Hương sa lục quân” , “Sâm linh bạch truật” … . Do có thành phần là các thảo dược thiên nhiên lành tính nên loại thuốc này rất an toàn, ít tác dụng phụ, giúp điều trị bệnh tận gốc bệnh bằng tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, bổ Tỳ ích tràng giúp cân bằng và phục hồi chức năng hệ tiêu hóa.

Tuy nhiên, người bệnh cần lưu ý lựa chọn các sản phẩm thuốc Đông dược được sản xuất tại các nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP – WHO, đã khẳng định được uy tín, chất lượng và lưu hành trên thị trường lâu năm.

Ngoài ra, để phòng bệnh tái phát sau điều trị, người bệnh cần có một chế độ ăn uống hợp lý, duy trì thói quen đại tiện đúng giờ, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao và tránh những căng, thẳng stress.

TT

Ung Thư Đại Tràng Và Trực Tràng

Tên khác: ung thư đại-trực tràng hoặc trực-đại tràng.

Tỷ lệ mắc bệnh

Đây là loại ung thư gặp nhiều nhất ở những người không hút thuốc lá; tỷ lệ mắc ung thư đại-trực tràng đang ngày càng tăng ở những nước phát triển, ở châu Âu cứ 100.000 dân thì có 20- 30 người mắc bệnh, ở nước Pháp có khoảng 25.000 trường hợp mới mắc bệnh hàng năm. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn hai lần so với nữ giới. Bệnh thường xuất hiện giữa 50 và 60 tuổi.

Những yếu tố thuận lợi

Di truyền: những thể gia đình thường khu trú ở đại tràng phải và xuất hiện trước 50 tuổi. Có thể thấy mất đoạn ở các nhiễm sắc thể 5, 17, và 18.

Polyp dạng tuyến và lông, bệnh polyp gia đình.

Viêm trực-đại tràng loét xuất huyết sau 10 năm diễn biến, bệnh Crohn tuy hiếm hơn.

Chế độ ăn ít chất sợi hoặc quá nhiều mỡ động vật.

Giải phẫu bệnh

Trong 95% số trường hợp ung thư đại-trực tràng là carcinom tuyến với những tế bào hình trụ tạo nên những tuyến không đều đặn, thường chế tiết chất mucin (chất nhày), và thường phát triển trên những polyp có sẵn. Vị trí: 15% ở đại tràng lên và manh tràng, 10% ở đại tràng ngang, 5% ở đại tràng xuống, 25% ở đại tràng sigma, và 45% ở trực tràng. Trong 50% số trường hợp khối u có xu hướng phát triển theo kiểu “đai thùng” (tế bào u xâm lấn vào trong thành ruột gây tắc). Ung thư có thể xâm lấn qua cả thành ruột và lan toả vào phúc mạc (gọi là bệnh carcinom phúc mạc). Khi tế bào ung thư lan tràn theo đường bạch huyết thì di căn sẽ tới các hạch bạch huyết địa phương và hạch mạc treo ruột. Khi tế bào ung thư lan theo đường máu thì di căn sẽ tới gan, phổi và não.

Triệu chứng

Ung thư đại tràng thường diễn biến lâu ngày trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Thường chỉ có khám bệnh hệ thống (định kỳ sàng lọc) mới phát hiện được sớm. Các triệu chứng bao gồm:

Đau bụng hoặc đau vùng thắt lưng.

Chuyển vận chất ở ruột bị rối loạn: có những đợt táo bón xen kẽ với ỉa chảy.

Ung thư đại tràng phải nằm ở đoạn dưới (thấp) thường có biểu hiện phân có máu (ỉa phân đen) hoặc dấu hiệu thiếu máu thiếu sắt vì chảy máu ẩn.

Ung thư đại tràng trái có thể gây chướng bụng và những triệu chứng báo hiệu tắc ruột.

Khi đã tới giai đoạn muộn thì ung thư có thể xâm lấn vào hệ thống tiết niệu-sinh dục gây ra đa tiểu tiện (tiểu tiện nhiều lần), tiêu tiện có máu, lỗ rò âm đạo.

Thăm trực tràng bằng ngón tay cho phép đánh giá kích thưổc, vị trí, và tính di động của khối u nằm ở nửa dưới trực tràng.

Trong 25% số trường hợp, di căn gan được phát hiện ngay từ đầu mà không nhận ra ung thư nguyên phát từ trước.

Biến chứng:tắc ruột cấp tính (nhất là với trường hợp ung thư đại tràng trái), apxe quanh khối u, di căn tới gan và phúc mạc, thủng đại tràng và viêm phúc mạc.

X quang: đối với ung thư đại tràng, kỹ thuật thụt baryt kinh điển và đôi pha kép cho thấy hình ảnh vết khuyết của ổ loét hoặc hình ảnh của chỗ hẹp. Tuy nhiên, thụt baryt kém tin cậy hơn trong việc phát hiện ung thư trực tràng, so với phát hiện ung thư đại tràng. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cắt lớp siêu âm trong trường hợp nghi ngờ di căn vào gan.

Nội soi

Soi đại tràng sigma bằng ống nội soi mềm, soi đại tràng đồng thời làm sinh thiết:2/3 trường hợp ung thư đại tràng có thể nhìn thấy khối u nhờ soi đại tràng sigma, là kỹ thuật bổ sung cho kỹ thuật thụt baryt, nhằm khẳng định chính xác các hình ảnh nghi ngờ, và để phát hiện những khối ung thư không phát hiện được bằng X quang. Nội soi đại tràng còn cho phép làm sinh thiết khối u để xét nghiệm mô bệnh học và đánh giá mức lan tràn của ung thư.

Soi trực tràng và làm sinh thiết cũng cho phép khẳng định chẩn đoán và đánh giá mức lan rộng của khối u trực tràng.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Tìm máu ẩn trong phân.

Thiếu máu nhược sắc thiếu sắt: hay xảy ra.

Định lượng kháng nguyên ung thư-phôi thaihoặc CEA (xem từ này): là có ích, nhất là trong việc theo dõi diễn biến của bệnh sau phẫu thuật. Giá trị bình thường của kháng nguyên này là < 5 ng/ml (hoặc pl).

Phải nghĩ tới ung thư đại tràng ở mọi đối tượng trên 40 tuổi mà thói quen đại tiện bị rối loạn hoặc có máu ẩn hoặc máu đại thể (nhìn thấy máu) trong phân.

Chẩn đoán phân biệt

Với táo bón và những tổn thương chảy máu ở đại-trực tràng (như bệnh trĩ, bệnh túi thừa, viêm đại tràng thiếu máu cục bộ, viêm đại tràng trực loét xuất huyết, loạn sản mạch máu đại tràng). Ung thư đại tràng sigma có thể rất khó chẩn đoán phân biệt với bệnh túi thừa gây hẹp nếu không có nội soi đại tràng.

Phát hiện bệnh

Thăm trực tràng bằng ngón tay: chỉ cho phép phát hiện được một tỷ lệ nhỏ những khối u trực tràng, chủ yếu là những khối u nằm trong tầm của ngón tay thày thuốc khi đưa vào trực tràng.

Tìm máu ẩn trong phân:test này dương tính trong 1-5% dân số trên 40 tuổi. Mặc dù kém đặc hiệu, nhưng nếu cho kết quả dương tính nhiều lần thì phải khám xét đại tràng thật kỹ càng.

Soi đại tràng sigma:là phương pháp rõ ràng nhạy hơn, cho phép phát hiện những tổn thương chỉ nhỏ khoảng 5 mm đường kính và cho phép cắt ngay những polyp tiền ung thư. Có lẽ nên soi đại tràng sigma một lần cho mọi đối tượng từ 50 đến 60 tuổi (khám sàng lọc), tuy nhiên tỷ lệ người chấp nhận thủ thuật chỉ đạt khoảng 50%.

Theo dõi nghiêm ngặt những đối tượng có nguy cơ cao: nhất là những người trong gia đình của bệnh nhân ung thư đại-trực tràng, những người đã được cắt polyp u tuyến, những người bị viêm đại tràng loét-xuất huyết, hoặc có bệnh polyp gia đình.

Tiên lượng (theo phân loại Dukes):

DUKES Bl: xâm lấn tới một phần của lớp áo cđ. Không có hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 năm: 70-85%.

DUKES B2: xâm lấn toàn bộ bề dày của lớp áo cơ. Không có hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 nám: 54%.

DUKES Cl: xâm lấn toàn bộ thành ruột + hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 năm: 30-60%

DUKES C2: xâm lấn vượt quá thành ruột + hạch sưng. Thời gian sống thêm 5 năm: 22%

DUKES D: di căn ở xa (gan, phổi, xương). Thời gian sống thêm 5 năm: 5%.

Thời gian sống thêm 5 năm của ung thư đại-trực tràng đã vượt quá 50% và không thay đổi trong những năm gần đây, vì trong nhiều trường hợp ung thư vẫn tiếp tục chỉ được chẩn đoán ở giai đoạn đã quá muộn. Trong từ 25-30% số trường hợp, vào lúc chẩn đoán được đặt ra thì ung thư đã không còn ở giai đoạn có thể phẫu thuật được nữa.

Đối với ung thư đại tràng, thì chỉ định cắt khối u ở mức độ rộng thích đáng, đồng thời nạo hạch bạch huyết, tiếp sau thì dùng liệu pháp hoá chất bổ sung với Auorouracil và levamisol theo đường toàn thân, tiêm vào tĩnh mach cửa, hoặc tiêm vào ổ phúc mạc trong vòng 6-12 tháng, cắt khối ung thư ở đoạn dưới trực tràng ngày nay có thể thực hiện mà vẫn bảo tồn được cơ thắt hậu môn. Trong trường hợp ung thư đã lan tràn rộng, thì điều trị triệu chứng bằng nối thông bên trong hoặc bên ngoài. Những typ ung thư này thường không nhạy cảm với liệu pháp bức xạ. Liệu pháp hoá chất tiêm vào động mạch tại chỗ có thể hữu ích trong trường hợp có di căn nhỏ ở gan. Theo dõi sau phẫu thuật thay đổi tuỳ theo trường phái: thụt baryt để chụp X quang 6-12 tháng một lần, trong 2 năm liền, rồi sau đó cứ 2-3 năm làm lại một lần.

Ung Thư Đại Tràng Và Các Loại Xét Nghiệm Ung Thư Đại Tràng

Ung thư đại tràng là bệnh ung thư đường tiêu hóa phổ biến, thường xuất hiện ở người có độ tuổi từ 40 trở lên. Giống như hầu hết các loại ung thư khác, ung thư đại trực tràng thường không biểu hiện các triệu chứng đặc hiệu ở giai đoạn sớm. Do đó, xét nghiệm và các biện pháp cận lâm sàng khác rất quan trọng để chẩn đoán chính xác bệnh.

1. Ung thư đại tràng và đặc điểm

Hiện nay, ung thư đại tràng đang xếp thứ 2 thế giới về số lượng người mắc, ngang hàng với ung thư gan nguyên phát. Tuy nhiên, khả năng chữa khỏi ung thư đại tràng cao hơn so với các bệnh ung thư đường tiêu hóa khác. Các chuyên gia ghi nhận, số bệnh nhân ung thư đại tràng sau phẫu thuật sống thêm được 5 năm nhiều hơn bệnh nhân ở ung thư gan, ung thư dạ dày hay ung thư thực quản.

Đại tràng con người dài khoảng 1,5m, có hình cái khung, bắt đầu từ manh tràng đến tận cùng chỗ nối tiếp với trực tràng. Kích thước đại tràng to hơn nhiều so với ruột non, trên thành có nhiều dải dọc và bờm mỡ to nhỏ khác nhau. Hiện nay vẫn chưa xác định chính xác nguyên nhân gây ung thư đại tràng, mặc dù có nhiều giả thuyết và đánh giá được đưa ra.

Các biểu hiện sớm của ung thư đại trực tràng như:

Rối loạn tiêu hóa

Không điển hình lẫn với các triệu chứng bệnh khác: ợ hơi, chậm tiêu, chướng bụng, đau bụng nhẹ, rối loạn đi ngoài: hay mót đại tiện, táo bón, khó rặn,…

Các triệu chứng kéo dài, kém đáp ứng với điều trị.

Các rối loạn bài tiết phân

Biểu hiện toàn thân: Mệt mỏi, gầy sút cân không giải thích được

Giai đoạn muộn: Sờ thấy khối u, đau bụng nhiều,…

Khối u ung thư đại tràng có thể nằm ở nhiều vị trí

2. Các vị trí ung thư đại tràng và chẩn đoán

Ung thư đại tràng có thể gặp ở vị trí đại tràng trái, phải và ngang, với biểu hiện triệu chứng, xét nghiệm chẩn đoán và phương pháp điều trị khác nhau.

Ung thư đại tràng phải

Nếu khối u ở đại tràng lên hay ở góc gan phải, hoặc khối u đã dính vào thành bụng, cơ quan lân cận thì ít di động. Còn khối u ung thư ở manh tràng, 1/3 phải đại tràng ngang thì khối u di động nhiều. Khối u di động càng nhiều, phẫu thuật càng dễ và ít biến chứng.

U ung thư đại tràng dễ gây tắc ruột

Khối u ung thư ở đại tràng phải thường hay bị nhiễm khuẩn và kích thước to hơn ở vị trí đại tràng trái, nhưng ít khi phải làm hẹp và gây tắc ruột. Khối u bên trong thành hoặc mặt trên có nhiều ổ mủ, do đó xét nghiệm và chẩn đoán dễ nhầm sang áp xe túi mật, áp xe ruột thừa.

Khối u nằm ở manh tràng dễ chẩn đoán nhầm sang bệnh lao góc hồi – manh tràng và u ở gan hoặc thận.

Ung thư đại tràng ngang

Ung thư đại tràng ngang là vị trí ít gặp nhất. Do đại tràng ngang dài, di động dễ nên khối u có thể nằm ở bất cứ vùng nào của hố bụng. Ung thư đại tràng ngang thường tiến triển dính với mật, gan, dạ dày, ruột non, phần phụ, đại tràng xích ma, tử cung, bàng quang.

Khối u thường ít khi gây tắc ruột, nhưng dễ bị nhiễm khuẩn, gặp 3 dạng tổn thương là dạng u, dạng thắt và dạng loét. Chẩn đoán ung thư đại tràng ngang giai đoạn đầu rất khó, khối u dễ chẩn đoán nhầm sang u ở cơ quan khác.

Ung thư đại tràng trái

Khối u ung thư đại tràng trái thường có kích thước nhỏ, xu hướng làm hẹp lòng đại tràng. Chẩn đoán xác định ung thư này cần dựa vào nhiều xét nghiệm, chẩn đoán cận lâm sàng như: Siêu âm, chụp X – quang, nội soi trực tràng – đại tràng,…

Tầm soát và chẩn đoán sớm ung thư đại tràng ở giai đoạn sớm thường được thực hiện bằng xét nghiệm tầm soát, chia thành 2 nhóm chính sau:

Xét nghiệm tìm máu trong phân là xét nghiệm sàng lọc ung thư đại tràng

3.1. Xét nghiệm phân

Bình thường trong phân người không có máu, khi máu xuất hiện thì thường gợi ý dấu hiệu bất thường bệnh lý như: viêm loét đường ruột, khối polyp hay ung thư. Ung thư đại tràng có đặc điểm là gây tăng sinh mạch nhiều, mạch máu dễ bị tổn thương chảy máu, dính vào phân.

Máu trong phân nhiều có thể phát hiện bằng mắt thường, nhưng nếu máu ít thì cần xét nghiệm để kiểm tra. Do đó, xét nghiệm máu trong phân có giá trị sàng lọc và kiểm tra ung thư dạ dày.

Hiện có 2 phương pháp dùng xét nghiệm máu ẩn trong phân là:

Xét nghiệm máu trong phân Guaiac

Xét nghiệm dựa trên phản ứng hóa học để xác định sự có mặt của máu trong phân, đạt độ nhạy khá cao. Tuy nhiên, người bệnh cần lấy máu từ 3 mẫu phân khác nhau, chỉ xác định là có máu trong phân, không biết đường máu trực tràng hay phần khác của đường tiêu hóa.

Xét nghiệm máu trong phân miễn dịch hóa học iFOBT

Xét nghiệm nhằm tìm protein hemoglobin có trong tế bào hồng cầu người trong phân. Phương pháp này có độ nhạy cao, độ đặc hiệu cao, có thể phân biệt máu chảy từ đại tràng hay vị trí cao hơn của đường tiêu hóa. Hơn nữa, bệnh nhân không phải kiêng ăn, chỉ cần lấy 1 mẫu test.

Ngoài ra, xét nghiệm ADN tìm tế bào đột biến trong phân cũng thường được thực hiện, để xác định người bệnh có bị ung thư đại tràng, đại trực tràng hay có tế bào polyp hay không. Do các bệnh lý này thường có ADN đột biến ở 1 số gen, xuất hiện trong phân người bệnh. Kết quả xét nghiệm sẽ định hướng nội soi nếu cần thiết.

Nội soi đại tràng là phương pháp chẩn đoán ung thư đại tràng hiệu quả

3.2. Xét nghiệm hình thái cấu trúc

Xét nghiệm hình thái cấu trúc gồm các kỹ thuật:

Nội soi đại trực tràng: Nội soi ống mềm, nội soi không dây.

Chẩn đoán hình ảnh: Chụp cắt lớp vi tính đại tràng, chụp X – quang với thuốc cản quang, chụp cộng hưởng từ hạt nhân,…

Mỗi loại xét nghiệm ung thư đại tràng hiện nay đều có ưu nhược điểm và hạn chế riêng, vì thế nếu chỉ áp dụng 1 xét nghiệm đơn lẻ thì khó có thể chẩn đoán và sàng lọc hoàn toàn bệnh. Do đó, bác sỹ thường chỉ định thực hiện kết hợp nhiều xét nghiệm và kỹ thuật chẩn đoán để có kết quả chính xác nhất.

Hiện, MEDLATEC là địa chỉ tin cậy để tiến hành xét nghiệm ung thư đại tràng. Với đội ngũ y bác sỹ giàu kinh nghiệm cùng hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, MEDLATEC nhận được sự tin tưởng và đánh giá cao từ bệnh nhân.

Nếu cần tư vấn về xét nghiệm ung thư đại tràng cũng như các vấn đề sức khỏe nói chung, liên hệ MEDLATEC để được hỗ trợ hoàn toàn miễn phí.