Vacxin Ung Thu Co Tu Cung Tiem May Mui / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Nghien Cuu Dieu Tri Ung Thu Bieu Mo Khoang Mieng Co Su Dung Ky Thuat Tao Hinh Bang Vat Ranh Mui Ma

Published on

Luận án Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má.Ung thư biểu mô khoang miệng là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính niêm mạc miệng phủ toàn bộ khoang miệng bao gồm: Ung thư môi (gồm môi trên, môi dưới, mép), lợi hàm trên, lợi hàm dưới, khe liên hàm, khẩu cái cứng, lưỡi (phần di động), niêm mạc má và sàn miệng

1. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 Luận án Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má.Ung thư biểu mô khoang miệng là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính niêm mạc miệng phủ toàn bộ khoang miệng bao gồm: Ung thư môi (gồm môi trên, môi dưới, mép), lợi hàm trên, lợi hàm dưới, khe liên hàm, khẩu cái cứng, lưỡi (phần di động), niêm mạc má và sàn miệng [31]. MÃ TÀI LIỆU BQT.YHOC. 00129 Giá : 50.000đ Liên Hệ 0915.558.890 Trên thế giới, tỉ lệ ung thư biểu mô khoang miệng khác nhau tuỳ theo khu vực địa lý. Ở Hoa Kỳ, ung thư vùng đầu cổ chiếm 15% tổng số ung thư các loại với tỷ lệ mắc là 9,5 ca trên 100.000 dân. Trong đó, tỷ lệ các khối u ác tính vùng khoang miệng là 30% tổng số ung thư đầu cổ và 5% tổng số các ung thư nói chung. Tỷ lệ mắc bệnh cao ở Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á. Tại Việt nam, theo ghi nhận ung thư 1991-1995, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam là 2,7/100.000 dân (chiếm 1,8%), ở nữ là 3/100.000 dân (chiếm 3,1%). Tính đến năm 2008, ung thư biểu mô khoang miệng là một trong mười ung thư nam giới phổ biến nhất Việt nam [2], [4], [40], [62]. Chỉ định điều trị ung thư biểu mô khoang miệng khác nhau tuỳ theo giai đoạn bệnh. Ở giai đoạn I và II, phẫu thuật hoặc xạ trị đơn thuần có vai trò như nhau. Đối với giai đoạn III và IV, thường có sự phối hợp giữa phẫu thuật, xạ trị và hoá trị (có thể là phẫu thuật và xạ trị, xạ trị và hoá trị hoặc cả ba phương pháp). Tuy nhiên, chỉ định phẫu thuật bao giờ cũng được ưu tiên hàng đầu vì lợi ích của phương pháp này mang lại như không gây tổn thương mô lành, thời gian điều trị ngắn và bệnh nhân không phải chịu đựng những tác dụng phụ do xạ trị. Khoang miệng có nhiều chức năng quan trọng như phát âm, hô hấp, dinh dưỡng và thẩm mỹ. Mặt khác, phẫu thuật cắt bỏ các khối u ác tính đòi hỏi diện cắt phải đủ rộng để tránh tái phát. Vì vậy, việc tạo hình lại các khuyết hổng khoang miệng sau phẫu thuật cắt bỏ khối u là một thách thức lớn đối với phẫu thuật viên, đồng thời cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của phẫu thuật. Trên thế giới, cùng với sự tiến bộ của phẫu thuật tạo hình, nhiều loại vạt cơ và da- cơ như vạt da tại chỗ và kế cận, cơ ngực lớn, cơ ức đòn chũm, cơ lưng to, cơ thang, cơ bám da cổ sử dụng liền cuống đã mang lại hiệu quả rất lớn trong tái tạo các tổn khuyết vùng khoang miệng. Tuy nhiên những vạt trên khó đạt hiệu quả cao vì sự hạn chế vươn dài của vạt, sự quay của vạt quá cồng kềnh và làm biến dạng rất nhiều ở vùng có cuống vạt đi qua [19].

2. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 Vi phẫu thuật ra đời cho phép sử dụng các vạt da-cơ hay da-cơ-xương từ xa có cuống nuôi để nối với mạch máu dưới kính phóng đại [78]. Tiến bộ này đã mang lại cuộc cách mạng trong ngành phẫu thuật tạo hình, tuy nhiên không phải cơ sở ngoại khoa nào cũng có thể áp dụng được. Trong các vạt da tại chỗ và kế cận, vạt rãnh mũi má được coi là vạt có cuống mạch, có thể sử dụng để điều trị các tổn khuyết vùng khoang miệng. Vạt rãnh mũi má đã được sử dụng từ năm 600 trước Công nguyên [48], sau đó đến thế kỷ XIX-XX đã được nhiều tác giả nghiên cứu cải tiến sử dụng rộng rãi với rất nhiều hình thức như chuyển vạt cuống trên, cuống dưới hoặc vạt đảo để tái tạo những khuyết hổng phần mềm vùng hàm mặt. Vạt này được nhiều tác giả thừa nhận là vạt có nhiều ưu điểm về màu sắc, chất liệu, sức sống tốt, linh hoạt, đa dạng và sẹo nơi cho vạt kín đáo trùng với nếp rãnh mũi má trên mặt. Mặt khác việc tạo hình bằng vạt này cho phép tiến hành phẫu thuật trong thời gian ngắn, điều đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhân già yếu hoặc có bệnh kèm theo không chịu được phẫu thuật nặng nề và kéo dài. Ở nước ta, các nghiên cứu về ung thư biểu mô khoang miệng chưa nhiều, đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về điều trị khối u ác tính khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má. Chính vì vậy, đề tài này được thực hiện nhằm các mục tiêu sau: 1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học của ung thư biểu mô khoang miệng trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu. 2. Đánh giá kết quả điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má. MỤC LỤC Nghiên cứu điều trị ung thư biểu mô khoang miệng có sử dụng kỹ thuật tạo hình bằng vạt rãnh mũi má ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU 3 1.1.1. Hình thể 3 1.1.2. Mạch máu 5 1.1.3. Thần kinh 6 1.1.4. Bạch huyết 6 1.2. DỊCH TỄ HỌC, NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ 8 1.2.1. Dịch tễ học 8 1.2.2. Các yếu tố nguy cơ 9 1.3. CHẨN ĐOÁN 11 1.3.1. Chẩn đoán xác định 11 1.3.2. Chẩn đoán phân biệt 16

5. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 viện K”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội. 7. Huỳnh Anh Lan, Nguyễn Thị Hồng (2002), “Phòng chống UTBM khoang miệng trong thực hành và trong cộng đồng”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 6, tr. 14-17. 8. Trần Đặng Ngọc Linh (1998), “Khảo sát dịch tễ học, bệnh học lâm sàng, điều trị ung thư hốc miệng”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh viện, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 9. Trần Đặng Ngọc Linh, Phan Thanh Sơn, Phạm Chí Kiên và CS (1999), “Ung thư hốc miệng. Dịch tễ học, chẩn đoán và điều trị”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản chuyên đề ung ung bướu, 3(4), tr. 143-149. 10. Trịnh Văn Minh (1998), Giải phẫu người tập I, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr. 451-484. 11. Đoàn Hữu Nghị, Phạm Hoàng Anh, Trần Kim Chi (1995), “Bước đầu nhận xét giai đoạn bệnh những ung thư thường gặp ở bệnh viện K 1992 – 1994″, Chống đau ung thư và điều trị triệu chứng, Hà Nội, tr. 15-17. 12. Phạm Cẩm Phương (2005), ” Đánh giá hiệu quả của hoá chất tân bổ trợ phác đồ CF trong điều trị ung thư lưỡi giai đoạn III, IV (Mo) tại bệnh viện K từ năm 2002 – 2005″, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện, Trường Đại học y Hà Nội. 13. Lương Thị Thúy Phương (2005), “Đánh giá kết quả sử dụng vạt rãnh mũi má trong điều trị tổn khuyết phần mềm tầng giữa và dưới mặt”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú các bệnh viện chuyên ngành phẫu thuật tạo hình, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội. 14. Nguyễn Hữu Phúc, Nguyễn Chấn Hùng và CS (2004), “Ung thư lưỡi, dịch tễ, chẩn đoán và điều trị”, Y học thành phố Hồ Chí Minh chuyên đề ung bướu học, Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh, tr 137-145. 15. Lê Văn Quảng (2012), “Nghiên cứu điều trị ung thư lưỡi giai đoạn III, IV (M0) bằng Cisplatin – 5 Fluorouracil bổ trợ trước phẫu thuật và/hoặc xạ trị”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà nội. 16. Nguyễn Quang Quyền (1995), Bài giảng giải phẫu học tập 1, Nhà xuất bản Y học, tr. 305. 17. Lê Đình Roanh (2001), “Cấu trúc của một số u phổ biến”, Bệnh học các khối u, Nhà xuất bản y học, tr. 129-155. 18. Trần Thiết Sơn (2006), “Quá trình liền vết thương”, Phẫu thuật tạo hình, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr.19-23. 19. Lê Văn Sơn (2003), “Phục hồi các tổn khuyết vùng hàm mặt bằng vạt cân-cơ thái dương”, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội.

6. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN, LUẬN ÁN Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 20. Hàn Thị Vân Thanh, Nguyễn Quốc Bảo (2009), “Kết quả điều trị phẫu thuật ung thư sàn miệng tại bệnh viện K giai đoạn 2003-2008”, Tạp chí Y học thực hành, Bộ Y tế, 3(651), p.65-68. 21. Nguyễn Văn Thành (2002), “Khảo sát độ mô học của carcinom tế bào gai ở hốc miệng”, Tạp chí y học thực hành,431, Bộ Y tế, tr 19-24. 22. Nguyễn Hữu Thợi (2007), “Các nguyên tắc xạ trị trong ung thư”, Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư, Nhà xuất bản y học, tr. 31-38. 23. Bạch Minh Tiến (2002),”Sử dụng vạt trán và vạt rãnh mũi má điều trị tổn khuyết phần mềm vùng mũi”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà nội, Hà nội. 24. Vi Huyền Trác (2000), “U ác tính hay ung thư”, Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản y học, pp. 115-129 25. Phạm Tuân (1991), “Các ung thư vùng đầu cổ”, Ung thư học lâm sàng (sách dịch), Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr. 306-327. 26. Nguyễn Văn Vi, Huỳnh Anh Lan (2000), “Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ ung thư hốc miệng”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng hàm mặt năm 2000, Trường Đại học Y dược thànhphố Hồ Chí Minh, tr. 107-122.

Vacxin Ung Thư Cổ Tử Cung Là Gì?

Chị em đã từng quan hệ tình dục hoặc trong độ tuổi từ 9 đến 26 đều được khuyến cáo tiêm vacxin ung thư cổ tử cung (HPV) càng sớm càng tốt để phòng tránh căn bệnh ung thư nguy hiểm này ở nữ giới.

I. Đại cương về vacxin ung thư cổ tử cung?

HPV (Human Papilloma Virus) chủng 16 và 18 là nguyên nhân chính gây ra ung thư cổ tử cung. Đây là loại virus gây u nhú ở người, lây nhiễm qua đường tiếp xúc, quan hệ tình dục, từ mẹ sang con và có thể tồn tại trong cơ thể người thời gian rất lâu trước khi phát triển thành bệnh. Hiện có hơn 100 chủng HPV, trong đó, chủng 16 và 18 có nguy cơ sinh ung thư cao nhất. Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh u nhú do virus HPV gây nên, vì vậy để giảm tỉ lệ mắc bệnh chỉ có một cách duy nhất đó là tiêm ngừa vacxin

Độ tuổi an toàn để vacxin còn có hiệu quả lớn nhất là dưới 26 tuổi và chị em phụ nữ chưa lập gia đình hoặc chưa quan hệ tình dục.

Ngày nay có 2 loại vacxin phòng HPV được sử dụng tại Việt Nam là Gardasil của Mỹ và Cervarix của Bỉ. Hai loại vacxin này có một vài điểm khác nhau cơ bản về số lượng chủng virus HPV có khả năng phòng ngừa, đối tượng tiêm, lịch tiêm cũng như tác dụng phòng ngừa.

2.1 Vắc xin Gardasil của Mỹ

Công dụng: Vắc xin Gardasil còn gọi là vacxin tứ giá, để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo; và những thương tổn tiền ung thư, loạn sản; mụn cóc sinh dục…do HPV gây ra. Gardasil được sử dụng để phòng tránh 2 bệnh chính sau:

Ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo: do trong thành phần có 2 chủng HPV 16 và 18.

Mụn cóc sinh dục (sùi mào gà sinh dục): do trong thành phần có 2 chủng 6 và 11

Xuất xứ: Vắc xin Gardasil (Merck Sharp & Dohme – Mỹ)

Liều lượng: Liệu trình tiêm chủng cơ bản bao gồm 3 mũi tiêm.

Mũi 1: là ngày tiêm mũi đầu tiên.

Mũi 2: 2 tháng sau mũi đầu tiên.

Mũi 3: 6 tháng sau mũi đầu tiên.

Nếu không tiêm được đúng lịch theo phác đồ, có thể áp dụng lịch tiêm linh động như sau: Mũi 2 cách mũi 1 tối thiểu 1 tháng, và mũi 3 cách mũi 2 tối thiểu 3 tháng.

Cách sử dụng:

Vắc xin Gardasil được chỉ định tiêm bắp chỗ cơ delta cánh tay hoặc vào vùng trước phía trên đùi.

Vắc xin đơn liều 0,5ml được sử dụng nguyên dạng, không phải hoàn nguyên hoặc pha loãng vacxin.

Cần lắc kỹ lọ trước khi tiêm. Sau khi lắc, Gardasil sẽ là dịch đục màu trắng. Trước khi dùng nếu quan sát thấy vật lạ hoặc triệu chứng vật lý không bình thường thì cần phải loại bỏ, không được tiêm vacxin.

Dùng kim tiêm vô khuẩn lấy 0,5ml vacxin từ lọ. Vắc xin cần được tiêm ngay sau khi lấy ra khỏi lọ.

Đối tượng dùng Vắc xin được chỉ định cho bé gái và phụ nữ từ 9 đến 26 tuổi

2.1 Vắc xin Cervarix của Bỉ

Công dụng: Cervarix hay còn gọi là vacxin nhị giá, là vắc-xin phòng tránh các thương tổn tiền ung thư ác tính và ung thư cổ tử cung gây ra bởi vài chủng virus papilloma có khả năng gây ung thư ở người. Chủ yếu phòng 2 chủng HPV số 16 và 18. Vắc-xin Cervarix không chỉ bảo vệ 100% đối với 2 chủng HPV có trong Vắc-xin mà còn tạo miễn dịch chéo bảo vệ những chủng HPV có nguy cơ cao khác với tổng hiệu lực lên đến 93%. Điều này giúp cho nhiều chị em được bảo vệ khỏi ung thư cổ tử cung hơn so với vắc-xin chỉ phòng tránh được 2 chủng HPV 16 & 18.

Xuất xứ: Vắc xin Cervarix (GlaxoSmithKline – Bỉ)

Liều lượng: Liệu trình tiêm chủng cơ bản bao gồm 3 mũi tiêm.

Mũi 1: là ngày tiêm mũi đầu tiên.

Mũi 2: 1 tháng sau mũi đầu tiên.

Mũi 3: 6 tháng sau mũi đầu tiên.

Nếu cần thiết phải thay đổi lịch tiêm chủng, mũi thứ 2 có thể được tiêm vào thời điểm từ 1 đến 2,5 tháng sau mũi thứ nhất và mũi thứ 3 tiêm vào thời điểm từ 5 đến 12 tháng sau mũi thứ nhất.

Cách sử dụng: Cervarix được dùng để tiêm bắp vào vùng cơ delta

Đối tượng sử dụng: Tiêm cho nữ giới từ 10 tuổi đến 25 tuổi.

Hiện tại 2 loại vacxin phòng HPV được dùng ở nước ta đều có mặt tại các bệnh viện ung bướu trên toàn quốc, tùy vào nhu cầu phòng tránh mà có lựa chọn vacxin cho phù hợp.

Sau Khi Quan Hệ Có Tiêm Được Vacxin Hpv (Vacxin Ngăn Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung)

Theo thông tin từ HPV Information Centre, mỗi ngày Việt Nam có khoảng 7 phụ nữ tử vong do ung thư cổ tử cung. Trong đó, thủ phạm gây bệnh chính là vi rút HPV tuýp 16,18.

Nếu đã nhiễm HPV, cơ thể có cơ chế tạo miễn dịch thụ động. Trong khi đó, vắcxin phòng ngừa nhiễm HPV có cơ chế tạo miễn dịch chủ động. Vì vậy, việc tiêm phòng HPV vẫn được khuyến khích cho dù bạn đã từng quan hệ tình dục

Một trong những cách phòng ngừa ung thư cổ tử cung hiệu quả hiện nay là tiêm phòng vắc xin HPV. Nhưng rất nhiều người thắc mắc: “đã quan hệ rồi thì có tiêm HPV hay không” “tiêm phòng HPV sau bao lâu thì có thể quan hệ” “trong thời gian tiêm HPV có phải kiêng quan hệ hay không?

Đã quan hệ rồi thì có nên tiêm HPV nữa không?

Việc tiêm phòng vắc xin ngừa HPV đạt lợi ích tối đa khi tiêm cho bé gái và phụ nữ từ 9-26 tuổi và chưa từng quan hệ tình dục để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo và mụn sinh dục… Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nếu đã từng quan hệ tình dục rồi thì tiêm vắc xin sẽ không có tác dụng nữa.

Theo các chuyên gia, những người đã từng quan hệ tình dục và đã có gia đình vẫn nên tiến hành tiêm phòng HPV.

HPV có nhiều tuýp khác nhau. Trên thực tế, chị em có thể nhiễm một hoặc vài chủng virus HPV sau khi quan hệ tình dục. Việc tiêm ngừa sẽ giúp phòng chống các chủng HPV khác mà chị em chưa mắc phải. Ngoài ra, HPV dễ tái nhiễm. Miễn dịch tự nhiên của cơ thể không phòng được tái nhiễm nhưng vắc xin ngừa được vấn đề này.

Tiêm phòng vắc xin ngừa HPV là cách phòng ung thư cổ tử cung hiệu quả nhất, tuy nhiên, cũng giống như tất cả loại vắc-xin tiêm phòng khác, không phải cứ tiêm phòng là có thể hoàn toàn yên tâm 100% không mắc bệnh. Do đó, bên cạnh việc tiêm phòng, bạn vẫn cần tự chăm sóc sức khỏe bản thân bằng cách duy trì lối sống sinh hoạt khoa học, tập thể dục điều độ, nên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục và không nên quan hệ với nhiều bạn tình.

Đã quan hệ hay chưa vẫn nên tiêm phòng ung thư cổ tử cung

Tiêm phòng HPV sau bao lâu thì có thể quan hệ?

Vậy, tiêm phòng HPV có phải kiêng quan hệ hay không? Hiện tại, không có khuyến cáo cụ thể về việc kiêng quan hệ sau khi tiêm phòng

vắc xin ngừa HPV. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và yên tâm, bạn nên có biện pháp bảo vệ nếu quan hệ tình dục trong thời điểm đang tiêm vắc xin, bởi khi đó vắc xin có thể chưa tạo ra kháng thể giúp chống lại virus HPV, bạn vẫn có thể lây nhiễm HPV khi quan hệ tình dục không an toàn.

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc tiêm phòng HPV phải đạt tối thiểu hai mũi mới đủ mức độ bảo vệ chống ung thư cổ tử cung

Riêng đối với trường hợp dự định mang thai, chỉ nên mang thai sau khi tiêm mũi cuối tốt nhất là 3 tháng hoặc ít nhất phải 1 tháng. Nếu có thai trong giai đoạn chưa hoàn thành 3 mũi tiêm thì cần hoãn tiêm chủng để tiếp tục thai kỳ.

Cần lưu ý, việc tiêm phòng ung thư cổ tử cung cũng không thể thay thế cho việc sàng lọc ung thư cổ tử cung. Vì thế, bạn vẫn nên đến những bệnh viện, trung tâm uy tín tiến hành thăm khám, tầm soát ung thư cổ tử cung.

Đặc biệt, những phụ nữ đã có gia đình, cần thực hiện khám phụ khoa và tầm soát ung thư định kỳ, ít nhất mỗi năm 1 lần để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở những giai đoạn sớm của bệnh.

Nguồn vnvc

Điều Kiện Tiêm Vacxin Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Là Gì?

Tiêm ngừa virus HPV là cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh ung thư cổ tử cung ở nữ giới, độ tuổi thích hợp nhất là 9-26 tuổi, chưa quan-he-tinh-dục. Tiêm vacxin HPV an toàn tuyệt đối, không cần phải làm xét nghiệm.

[adinserter block=”1″]

Điều kiện tiêm ngừa ung thư cổ tử cung là

Điều kiện để tiêm phòng ngừa lây nhiễm HPV từ 9 tới 26 tuổi, chưa từng quan hệ TD

Chích ngừa ung thư cổ tử cung tuyệt đối an toàn, không gây đau đớn, một số nơi đây là hoạt động hằng năm để ngăn chặn, tầm soát ung thư hiệu quả.

Ai không nên chích ngừa ung thư cổ tử cung?

Khuyến cáo tiêm phòng tránh lây nhiễm HPV với các đối tượng sau:

Phụ nữ đã từng quan hệ TD.

Phụ nữ đang mang thai và cho con bú.

Phụ nữ mắc 1 số bệnh nặng.

Bị di ứng nghiêm trọng như: dị ứng với nấm men hoặc cao su latex.

Trong các trường hợp kể trên, đối tượng phụ nữ từ 9 tới 26 nhưng đã quan-he việc chích ngừa HPV vẫn có thể ngăn chặn được căn bệnh nguy hiểm này. Tuy nhiên, trong trường hợp đã lây nhiễm HPV mang bệnh việc tiêm phòng là vô tác dụng.

Chích ngừa ung thư cổ tử cung bao nhiêu tiền?

Vắcxin HPV (ngừa ung thư cổ tử cung) có hai loại khác nhau và chi phí thường được tính chung cho các cơ sở y tế công lập và tư nhân: Giá gần như thống nhất như sau:

GARDASIL: 1.300.000 đồng/ lần

CERVARIX: 850.000 đồng/ lần

Tiêm vacxin ngừa ung thư cổ tử cung ở đâu?

Viện Pasteur TPHCM

252 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TPHCM

(góc đường Võ Thị Sáu – Nam Kỳ Khởi Nghĩa)

ĐT: 08 3823 0352, 08 3820 7150

BV Đại học Y dược

215 Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5, TPHCM

ĐT: 08 3855 4269

Email: bvdh@hcm.vnn.vn

Website: www.bvdaihoc.com.vn

Trung tâm Chẩn đoán Y khoa Medic – Hòa Hảo

254 đường Hòa Hảo, Phường 4, Quận 10, TPHCM

ĐT: 08 3927 0284 – Fax: 08 3927 2543

Website: www.medic.com.vn/

Bạn đang xem: http://gonhub.com/dieu-kien-tiem-vacxin-ngua-ung-thu-co-tu-cung-la-gi/

tu khoa

chích ngừa ung thư cổ tử cung ở viện pasteur 2019 7

chích ngừa ung thư cổ tử cung có cần xét nghiệm

quan hệ rồi có chích ngừa ung thư cổ tử cung được không

tiêm phòng ung thư cổ tử cung ở đâu tại hà nội

chích ngừa ung thư cổ tử cung ở bệnh viện từ dũ

chích ngừa ung thư cổ tử cung có cần xét nghiệm

Kiến thức – Tags: ung thư