Ung Thư Xương Ở Người Già

Ung thư xương ở người già là tình trạng xuất hiện khối u ác tính ở trong xương. Khối u này sẽ phát triển liên tục, xâm lấn tiêu diệt các cơ quan xung quanh và có thể di căn rất nhanh. Nếu so với khối ung thư khác thì có thể thấy tốc độ di căn của ung thư xương nhanh gấp từ 3 – 4 lần. Ung thư xương xảy ra chủ yểu ở phần xương mềm và tủy bên trong. Tủy xương là vị trí tạo máu cho nên nó dễ dàng theo dòng máu đi khắp nơi trong cơ thể.

Về cơ bản, bệnh ung thư xương ở người già cũng có những triệu chứng giống như ở trẻ nhỏ. Đau là triệu chứng khởi đầu hay gặp nhất. Ban đầu là những cơn đau nhẹ, sau đó kéo dài và thường đau tăng về đêm và khi nghỉ ngơi. Xung quanh vùng xương bị ảnh hưởng có biểu hiện sưng tấy, tuy nhiên biểu hiện sẽ không rõ cho đến khi khối u phát triển tương đối to.

Đôi khi triệu chứng gãy xương là dấu hiệu ban đầu của ung thư xương. Gãy xương bệnh lý thường gặp hơn ở những bệnh nhân ung thư di căn xương có tổn thương tiêu xương. Trường hợp ung thư nằm ở gần khớp, khối u có thể làm khớp đó cử động khó khăn và do vậy ảnh hưởng đến sự di chuyển của toàn bộ chi này. Nếu ung thư nằm ở xương sống, nó sẽ tạo sức ép lên các dây chằng trong xương sống và làm các chi yếu đi, tê liệt hoặc đau nhói.

Nước ion kiềm tươi Watapy – Điều trị ung thư xương ở người già như thế nào?

Nguyên tắc điều trị ung thư xương ở người già là điều trị triệu chứng và quan trọng nhất là giảm đau, điều trị gãy xương, tăng canxi máu, nâng cao sức đề kháng, ngặn chặn hoặc làm giảm quá trình huỷ xương, làm chậm quá trình di căn xương và kết hợp với điều trị ung thư nguyên phát nếu có thể.

– Sử dụng một số loại thuốc giảm đau: Thông thường bệnh nhân sẽ được điều trị phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu như Paracetamol, Paracetamol + codein hoặc tramadol, Morphin hoặc các dẫn xuất của Morphin, thuốc chống viêm không steroid (NSAID): Diclofenac, Piroxicam, Meloxicam, Celecoxib… Ở những bệnh nhân có biểu hiện lo lắng hay trầm cảm nhiều có thể sử dụng thêm thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau thần kinh (pregabalin, gapentin).

– Thuốc điều trị ngăn chặn hoặc giảm huỷ xương, làm chậm quá trình tiến triển di căn xương và tiến triển của bệnh: Biphosphonate, thuốc kháng RANKL, thuốc kháng cathepsin K…

– Phẫu thuật là phương pháp điều trị phổ biến nhất với ung thư xương. Vì bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu nên phẫu thuật sẽ giúp lấy bỏ khối ung thư và mô lành xung quanh nó. Nếu ung thư xương xảy ra ở một cánh tay hay chân, thì bác sĩ sẽ lấy u và một vùng mô lành xung quanh u.

– Hóa trị: Hóa trị là phương pháp dùng thuốc điều trị ung thư xương để giết chết tế bào ung thư đang phân chia nhanh. Hóa trị thường được kết hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hóa trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật.

– Xạ trị: Các bác sĩ sẽ dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Trong một số trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.

Tại Nhật Bản, và Hàn Quốc, đã tìm thấy kết quả đáng khích lệ với phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh ung thư xương ở người già. Do đó, để điều trị ung thư xương ở người già một cách đơn giản và mang lại hiệu quả cao, nước ion kiềm tươi là điều không thể thiếu.

Với những thông tin trên cho thấy, ung thư xương ở người già là một căn bệnh nguy hiểm tuy nhiên có thể điều trị bằng nhiều cách khác nhau. Nếu còn băn khoăn về công dụng cũng như cách sử dụng nước ion kiềm tươi, hãy liên lạc với chúng tôi qua hotline: 0939 282 244 để được hỗ trợ chi tiết.

Ung Thư Xương Ở Người Già: Những Điều Cần Biết Về

Ung thư xương xuất hiện chủ yếu ở trẻ em, thiếu niên từ 5-15 tuổi, đây là độ tuổi cấu trúc xương đang có sự phát triển mạnh. Tuy nhiên, có không ít trường hợp ung thư xương xảy ra ở những người lớn tuổi. Bệnh có thể gây ra tử vong khá nhanh từ khi phát hiện nếu không có phương pháp điều trị thích hợp. Do đó, thực hiện khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc ung thư sớm là điều hết sức quan trọng.

* Triệu chứng ung thư xương ở người giàUng thư xương là tình trạng xuất hiện khối u ác tính ở trong xương. Khối u này sẽ phát triển liên tục, xâm lấn tiêu diệt các cơ quan xung quanh và có thể di căn rất nhanh. Nếu so với khối ung thư khác thì có thể thấy tốc độ di căn của ung thư xương nhanh gấp từ 3 – 4 lần. Ung thư xương xảy ra chủ yểu ở phần xương mềm và tủy bên trong. Tủy xương là vị trí tạo máu cho nên nó dễ dàng theo dòng máu đi khắp nơi trong cơ thể.

Ở người già, có một số trường hợp bị gãy xương dù chỉ ngã nhẹ có thể bị nhầm lẫn do gãy xương nếu bác sĩ không chú ý đến các triệu chứng khác của ung thư xương.

Về cơ bản, bệnh ung thư xương ở người già cũng có những triệu chứng giống như ở trẻ nhỏ. Đau là triệu chứng khởi đầu hay gặp nhất. Ban đầu là những cơn đau nhẹ, sau đó kéo dài và thường đau tăng về đêm và khi nghỉ ngơi. Xung quanh vùng xương bị ảnh hưởng có biểu hiện sưng tấy, tuy nhiên biểu hiện sẽ không rõ cho đến khi khối u phát triển tương đối to.

Đôi khi triệu chứng gãy xương là dấu hiệu ban đầu của ung thư xương. Gãy xương bệnh lý thường gặp hơn ở những bệnh nhân ung thư di căn xương có tổn thương tiêu xương. Trường hợp ung thư nằm ở gần khớp, khối u có thể làm khớp đó cử động khó khăn và do vậy ảnh hưởng đến sự di chuyển của toàn bộ chi này. Nếu ung thư nằm ở xương sống, nó sẽ tạo sức ép lên các dây chằng trong xương sống và làm các chi yếu đi, tê liệt hoặc đau nhói.

Ngoài ra, dấu hiệu ung thư xương như kém ăn, mệt mỏi, nôn, táo bón, lú lẫn, sút cân, có thể thấy hạch ngoại vi.

Cũng như các loại ung thư khác, hiện nay vẫn chưa có biện pháp điều trị dứt điểm ung thư xương. Tuy nhiên, nếu phát hiện bệnh càng sớm thì hiệu quả điều trị càng cao. Khi ung thư xương đã đến các giai đoạn sau và có xu hướng di căn sang các bộ phận khác như gan, phổi, thì việc chữa trị sẽ vô cùng khó khăn và cơ hội sống sót là rất thấp.

* Điều trị ung thư xương ở người già như thế nào?Nguyên tắc điều trị ung thư xương là điều trị triệu chứng và quan trọng nhất là giảm đau, điều trị gãy xương, tăng canxi máu, nâng cao sức đề kháng, ngặn chặn hoặc làm giảm quá trình huỷ xương, làm chậm quá trình di căn xương và kết hợp với điều trị ung thư nguyên phát nếu có thể.

– Sử dụng một số loại thuốc giảm đau: Thông thường bệnh nhân sẽ được điều trị phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu như Paracetamol, Paracetamol + codein hoặc tramadol, Morphin hoặc các dẫn xuất của Morphin, thuốc chống viêm không steroid (NSAID): Diclofenac, Piroxicam, Meloxicam, Celecoxib… Ở những bệnh nhân có biểu hiện lo lắng hay trầm cảm nhiều có thể sử dụng thêm thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau thần kinh (pregabalin, gapentin).

– Thuốc điều trị ngăn chặn hoặc giảm huỷ xương, làm chậm quá trình tiến triển di căn xương và tiến triển của bệnh: Biphosphonate, thuốc kháng RANKL, thuốc kháng cathepsin K…

– Phẫu thuật là phương pháp điều trị phổ biến nhất với ung thư xương. Vì bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu nên phẫu thuật sẽ giúp lấy bỏ khối ung thư và mô lành xung quanh nó. Nếu ung thư xương xảy ra ở một cánh tay hay chân, thì bác sĩ sẽ lấy u và một vùng mô lành xung quanh u.

– Hóa trị: Hóa trị là phương pháp dùng thuốc điều trị ung thư xương để giết chết tế bào ung thư đang phân chia nhanh. Hóa trị thường được kết hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hóa trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật.

– Xạ trị: Các bác sĩ sẽ dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Trong một số trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.

– Phương pháp Miễn dịch (Đông y): Nâng miễn dịch, ngăn ngừa di căn, dưỡng xương hạn chế quá trình phá hủy xương, bổ thận sinh tủy..

Song song với việc điều trị thì việc bổ sung chất dinh dưỡng hằng ngày cũng có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho việc phục hồi sau điều trị tốt hơn. Bệnh nhân nên tăng cường khẩu phần đạm so với bình thường để cung cấp đầy đủ các loại acid amin – cân đối giữa đạm động vật và đạm thực vật, tốt nhất nên sử dụng thịt màu trắng như thịt gia cầm, sử dụng nhiều tôm cua, hải sản, trứng,..

Khi chế biến thực phẩm nên luộc, hấp thay vì chiên, xào. Nên thay mỡ bằng dầu thực vật, kiêng các loại bánh ngọt, mứt, kẹo, chocolate… và có thể bổ sung những chất béo có lợi cho cơ thể như Omega-3 có trong cá thu, cá ngừ, cá hồi…

Tăng cường sử dụng thực phẩm giàu chất xơ: cà rốt, ngô, rau dền, bắp cải, rau ngót, cần tây, giá, cà tím, khoai lang, nghệ, gấc, súp lơ, dưa leo…

======================Lương y. Phạm Quốc KhánhĐiện thoại: 0936.36.2656

Ung Thư Não Ở Người Già

Ung thư não ở người già là gì?

Ung thư não được xem là một trong nhiều bệnh của người già, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của các cụ, các ông, các bà. Người già đã trải qua một thời gian dài lao động, học tập, cơ thể cũng không còn khỏe mạnh như lúc trẻ, bên cạnh đó với sự tàn phá của thời gian hệ miễn dịch của cơ thể cũng không còn khả năng bảo vệ, chống chọi với nhiều tác nhân gây bệnh đặc biệt là ung thư não.

Nếu không may mắc phải ung thư não khi về già thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Bởi vậy, chăm sóc người già chúng ta cũng cần tinh ý quan sát sự thay đổi của người thân để có thể kịp thời phát hiện ung thư não sớm nhất nếu không may mắc phải hy vọng sẽ có cách điều trị tiêu diệt chúng.

Biểu hiện ung thư não ở người già

Giống như mọi người, nếu người già chẳng may mắc phải ung thư não cơ thể cũng sẽ mệt mỏi, nhưng với người già thì biểu hiện này rất khó phát hiện bởi chúng ta sẽ chủ quan vì nó giống với sự thay đổi cơ thể của các cụ khi thay đổi thời tiết,…

Khi khối u trong não phát triển hẳn nó sẽ chèn ép hệ thống dây thần kinh khiến cho hệ điều khiển trung ương bị ảnh hưởng, không đủ khả năng kiểm soát mọi nhận thức, hoạt động của cơ thể nên có khi các cụ có thể bị hạn chế thị giác, mất cảm giác ở tay chân, một vài trường hợp còn kèm theo tình trạng mất trí nhớ…

Nếu một cụ vẫn đi lại bình thường mà tự nhiên đi lại mất thăng bằng, có khi không thể đi nổi thì bạn cũng nên cho cụ đi kiểm tra sức khỏe ngay khi có thể vì đó cũng chính là một trong vô vàn triệu chứng ung thư não ở người già.

Buồn nôn và nôn: Biểu hiện này khá phổ biến cho ung thư não mà chúng ta nên nghi ngờ. Với bất kì bệnh nhân nào mắc phải ung thư não cũng sẽ có hiện tượng này và người già cũng không ngoại lệ, có khi người già còn buồn nôn và nôn với tần suất lớn hơn so với người bình thường do cơ thể không còn đủ sức miễn dịch bảo vệ cơ thế khỏi tác nhân nguy hiểm.

Co giật: Không có gì khác nhiều so với những bệnh nhân trẻ tuổi, khi người già không may vướng vào ung thư não họ sẽ khó tránh khỏi cơn co giật thỉnh thoảng xuất hiện gây hoảng loạn cho người xung quanh nếu không có kiến thức về căn bệnh này.

Điều trị ung thư não cho người già

Vậy điều trị ung thư não có gì khác so với mọi người không? Có lẽ câu trả lời là không. Cũng tùy theo thể trạng người bệnh, vị trí khối u và đặc điểm loại ung thư mà các y bác sĩ sẽ đưa ra quyết định phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị. Tuy nhiên, để quyết định phương án xử lý tế bào ung thư não cho người già, các bác sĩ còn phải cân nhắc, đánh giá xem hiệu quả điều trị như thế nào? Đồng thời, họ cũng cần dự đoán dựa trên kết quả kiểm tra xem thời gian sống sẽ kéo dài được thêm bao lâu đặc biệt phải dự đoán những rủi ro trong quá trình điều trị, cũng như biến chứng có thể xảy ra vì người già cơ thể không được khỏe mạnh như trước, công thêm một vài ảnh hưởng của bệnh khác sẽ khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn.

Một vài rủi ro khi điều trị ung thư não ở người già

Phương pháp phẫu thuật: tâm lý sợ dao kéo của người già, sợ đau,… sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phẫu thuật, bên cạnh đó nhiều trường hợp sau phẫu thuật vết thương rất khó lành, có khi bị nhiềm trùng, số ít cơ thể người bệnh quá yếu còn không thể vượt qua quá trình phẫu thuật.

Phương pháp xạ trị: Sẽ gặp không ít biến chứng do ảnh hưởng bởi tia phóng xạ đến các cơ quan khác trong quá trình điều trị như gây tổn thương các mô, tế bào bình thường xung quanh tế bào ung thư.

Phương pháp hóa trị: Hóa trị thời gian dài sẽ khiến người già càng mệt mỏi, chán ăn, sút cân nếu không được bổ sung đầy đủ dinh dưỡng. Bên cạnh thể trạng sức khỏe cũng sẽ hạn chế rất nhiều do ảnh hưởng của hóa chất.,

Đồng hành cùng với các y bác sĩ, người nhà bệnh nhân cũng cần thường xuyên bổ sung đầy đủ lượng dinh dưỡng hợp lý, khoa học cho người bệnh để hỗ trợ quá trình điều trị, cũng như giúp các cụ, các ông, các bà nhanh chóng hồi phục.

Ung Thư Ở Người Cao Tuổi, Người Già

Các vấn đề do ung thư đặt ra ở tuổi già không giống ở tuổi trẻ vì người già phản ứng với ung thư khác; hậu quả của bệnh đối với thời gian sống cũng khác; sự cân nhắc lựa chọn phương pháp xử trí cũng có những điềm riêng biệt.

1. Tỉ lệ mắc ung thư

Tăng lên với tuổi, số người bị ung thư trong một năm cho 100.000 dân là

Bảng 2. Tỉ lệ mắc ung thư trên 10 vạn dân trong 1 năm

Các tỉ lệ tăng không giống nhau, tùy theo vị trí ung thư. Lấy bệnh Hodg-kin, ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư phế quản, ung thư tuyến tiền liệt làm ví dụ, cũng theo các cuộc điều tra trên, thấy:

Bảng 3. Tỉ lệ mắc một số ung thư chính

Một số ung thư chỉ gặp ở người già. Một số ung thư khác có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi.

2. Phản ứng của cơ thể già đối với ung thư

Quan hệ vật chủ – ung thư theo nghĩa rộng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thực thể và tâm thần. Tình trạng hocmon của người bệnh đóng một vai trò quan trọng trong việc sinh một số ung thư, trong sự tiến triển của bệnh, và trong mức độ nhạy cảm với điều trị. Ung thư vú ít gặp ở nữ dưới 35 tuổi trong tình trạng mãn kinh do phẫu thuật hơn là ở nữ cùng lứa tuổi vẫn có kinh nguyệt bình thường. Điều trị ung thư vú bằng estrogen không kết quả trong thời gian từ 0 đến 5 năm sau mãn kinh, trong khi 35-40% có kết quả sau giới hạn đó.

Ung thư người già hay phát triển trên cơ địa đã có nhiều bệnh phối hợp. Loãng xương làm xương dễ xẹp, khi bị di căn trên xương. Suy thận làm tăng độ độc của một số hóa chất chống ung thư và lảm hạn chế khả năng sử dụng thuốc. Các bệnh tim mạch làm tăng thêm hậu quả di căn phổi, màng phổi, màng bụng. Như vậy không phải bản thân tuổi già làm cho ung thư có đặc điểm riêng biệt, mà là các bệnh phối hợp thường gặp ở tuổi già.

Thái độ tâm lí ở tuổi già cũng có ảnh hưởng. Phần lớn người già ít để ý đến những triệu chứng sớm và dễ coi thường, coi cũng như các biểu hiện khác, khi có tuổi, vì vậy chẩn đoán thường muộn, do đỏ việc điều trị cũng muộn. Chưa kể thái độ của bản thân thầy thuốc cũng có ảnh hưởng: thầy thuốc có tuổi thường bi quan trước ung thư người già hơn là thầy thuốc trẻ, do đó cũng ít tìm cách điều trị tích cực bằng phương pháp mới.

3. Ảnh hưởng của ung thư đối với thời gian sống còn lại

Vấn đề này thường đặt ra khi tiến hành điều trị ung thư ở người già. Ví dụ như ung thư tuyến tiền liệt, chưa có di căn: nên mổ cắt bỏ tuyến tiền liệt hay nên điều trị bằng hocmon? Điều trị bằng phẫu thuật thì triệt để hơn nhưng cũng có nguy hiểm trước mắt. Điều trị nội khoa bằng hocmon thì không nguy hiểm trước mắt, nhưng chỉ là điều trị tạm thời. Cho đến nay, ý kiến vẫn còn khác nhau giữa hai phương pháp đó.

Trong bệnh học người già cũng có những ung thư không ảnh hưởng gì lắm đối với đời sống cũng như thời gian sống còn lại của người bệnh. Ví dụ như bệnh bạch cầu mãn hoặc một sổ ung thư vú tiến triển chậm. Trong những trường hợp này, đa số tác giả chủ trương không nên can thiệp. Tuy nhiên, cũng cần nói là những trường hợp đó không nhiều, vả trong nhiều trường hợp phải tim cách điều trị ung thư cho người già.

Gãy Xương Ở Người Già Và 5 Lưu Ý Vàng!

1 Loãng xương chính là nguyên nhân số 1 gây nên tình trạng gãy xương ở người già

2 Những người có nguy cơ cao bị loãng xương đến sớm

Những người có nguy cơ cao bị loãng xương đến sớm bao gồm phụ nữ đã phẫu thuật cắt buồng trứng, phụ nữ chữa trị sử dụng các liệu pháp hóc môn, những người ít vận động hoặc có thời gian nằm bất động lâu (gãy xương, phẫu thuật…), béo phì hoặc quá gầy yếu, sinh đẻ nhiều, người bị bệnh mạn tính lâu ngày, người sau phẫu thuật đường tiêu hoá ảnh hưởng đến việc ăn uống hấp thu, hút thuốc hoặc uống bia rượu nhiều…Nếu thấy thấp thoáng bóng dáng mình trong đó thì cần thay đổi sớm. Sự hời hợt khi ta còn trẻ, chúng ta sẽ nhận lại những vấn đề sức khoẻ nặng nề về sau.

3 Kiểm tra mật độ xương

Hiện nay hầu hết các bệnh viện và phòng khám đều trang bị máy đo mật độ xương theo tiêu chuẩn quốc tế. Và quá trình kiểm tra độ xương loãng cũng chỉ mất mấy phút đồng hồ, vậy chúng ta nên chủ động thu xếp đưa cha mẹ, ông bà đi đo sớm để còn có kế hoạch chữa trị ngay. Đừng để người thân mình gãy xương khi biết rằng chúng ta có thể dự phòng được. Mọi người cũng lưu ý, hiện nay ở nhiều địa phương vẫn còn sử dụng máy soi để đo loãng xương qua khuỷu tay hoặc gót chân, kết quả đó không đáng tin cậy. Và tổ chức Y tế Thế giới cũng không công nhận. Bệnh nhân cần nằm trên máy đo loãng xương theo phương pháp DXA thì kết quả mới chính xác.

4 Việc chữa trị và dự phòng loãng xương, gãy xương ở người già

Tập thể dục thể thao mỗi ngày. Ai lười vận động thì nguy cơ loãng xương sẽ đến rất sớm.

Ra ngoài và tiếp xúc với ánh sáng, ánh nắng tự nhiên ít nhất 30 phút mỗi ngày. Ngồi phòng điều hoà ít thôi.

Bỏ thuốc lá, giảm rượu nếu mong muốn có bộ xương khớp khoẻ bền vững.

Giảm cân nặng nếu chúng ta đang béo phì. Cân nặng quá lớn sẽ sớm phá huỷ các khớp và bộ xương của bạn.

Tẩy giun định kỳ 6 tháng/1 lần cho tất cả mọi người.

Chữa trị và kiểm soát tốt các bệnh mạn tính (Tiểu đường, cao huyết áp…)

Luôn đảm bảo bổ sung đủ canxi và vitamin D mỗi ngày. Xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh, giàu thực phẩm có chứa canxi như sữa, cá, đậu, và các loại rau lá xanh.

Ngăn ngừa nguy cơ té ngã ở người già với những nội dung như: Mang giày gót thấp và có đế không trượt, kiểm tra nhà cửa để loại bỏ các dây điện loằng ngoằng, thảm và nền nhà trơn trượt, đèn phòng tắm và phòng ngủ đủ sáng, lắp đặt các thanh vịn ở bên trong và bên ngoài cửa phòng tắm cũng như phòng ngủ cho các cụ để đảm bảo các cụ đi lại, ngồi đứng dễ dàng.

5 Hãy tìm đến sự tư vấn của bác sĩ

Và điều cuối cùng, khi có người thân cao tuổi bị gãy xương, chúng ta cần hội chẩn và tư vấn chữa trị từ các bác sĩ chuyên khoa sâu. Vì với người già, câu chuyện phẫu thuật không đơn thuẩn chỉ là bắt cái vít, đóng cái đinh…mà nó là cả một tổng thể kết hợp giữa đánh giá trước mổ, xử lý bệnh lý kèm theo, hội chẩn gây mê hồi sức, dự trù máu, chiến lược phẫu thuật, trù liệu hậu phẫu…Khi có cái nhìn như vậy, chúng ta mới hướng đến được những ca mổ thành công cho người già.

Hãy chủ động thực hiện kiểm tra sức khỏe với ông bà cha mẹ mình, những người cao tuổi để giúp các cụ dự phòng nguy cơ gãy xương do xương loãng. Chỉ có vậy chúng ta mới phần nào giúp các cụ có thêm những năm tháng sống khoẻ mạnh đúng nghĩa bên con cháu.