Ung Thư Xương Di Căn / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thư Di Căn Xương

U di căn xương cần được nghĩ tới ở tất cả các bệnh nhân đau xương mà không rõ nguyên nhân, đặc biệt là những bệnh nhân có

Tổn thương xương do di căn từ ung thư tuyến tiền liệt thường có biểu hiện đặc xương, ung thư phổi thường là các tổn thương tiêu xương, ung thư vú có thể là tổn thương đặc xương hoặc phá hủy xương.

CT và MRI có độ nhạy cao để phát hiện ung thư di căn. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ di căn, chụp xạ hình toàn bộ cơ thể thường được chỉ định, mặc dù độ nhạy cảm không cao. Xạ hình xương nhạy hơn Xquang trong các trường hợp di căn xương giai đoạn sớm và không có triệu chứng và có thể được sử dụng để quét toàn bộ cơ thể. Các tổn thương trên xạ hình xương thường được cho là tổn thương di căn nếu bệnh nhân có bệnh ung thư đã biết. Di căn nên được nghi ngờ ở những bệnh nhân có nhiều tổn thương trên xạ hình xương. Bệnh nhân có bệnh lý ung thư đã biết nhưng tổn thương trên xương là đơn độc thì tổn thương đó có thể là di căn hoặc không, do đó sinh thiết bằng kim nhỏ tại vị trí tổn thương thường được chỉ định để xác định tổn thương di căn. Ngày nay, PET-CT toàn thân thường được sử dụng trong một số khối u; nó đặc hiệu hơn xạ hình xương trong các di căn xương và có thể xác định được nhiều khối u di căn ngoài xương.

Nếu nghi ngờ di căn xương do phát hiện tổn thương đa ổ, cần đánh giá lâm sàng để phát hiện khối u nguyên phát (đặc biệt chú ý tới vú, tuyến tiền liệt, và tuyến giáp), Xquang ngực, Xquang tuyến vú và định lượng PSA. CT ngực, bụng và xương chậu cũng có thể phát hiện khối u nguyên phát. Tuy nhiên, sinh thiết xương, đặc biệt là sinh thiết bằng kim nhỏ hoặc kim lớn, là cần thiết nếu nghi ngờ khối ung thư di căn mà không tìm được khối u nguyên phát. Sinh thiết kết hợp với nhuộm hóa mô miễn dịch có thể cung cấp các bằng chứng xác định loại u nguyên phát.

Ung Thư Xương Do Di Căn

1. ĐẠI CƯƠNG Ung thư di căn xương là tình trạng những tế bào ung thư từ ổ nguyên phát di căn đến tổ chức xương làm tổn hại đến cấu trúc của xương. Xương là cơ quan thường bị ung thư di căn đến nhất và thường gây ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cuộc sống người bệnh. Những loại ung thư gây di căn vào xương là ung thư phổi, vú (ở nữ giới), tiền liệt tuyến (nam giới), thận, tuyến giáp, dạ dày… Các biện pháp điều trị nhằm kiểm soát được các triệu chứng của ung thư di căn xương và có thể làm ngăn cản sự phát triển của ung thư. Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào mức độ phát triển ung thư của cơ quan nguyên phát. Thời gian sống trung bình có thể là một vài năm, song nếu di căn từ phổi thì thường chỉ được vài tháng.

2. CHẨN ĐOÁN: Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng sau đây:2.1. Biểu hiện lâm sàng: – Đau xương: là biểu hiện hay gặp nhất, thường đau tăng dần về đêm và khi nghỉ ngơi. – Gãy xương bệnh lý: Đôi khi triệu chứng gãy xương là dấu hiệu ban đầu của ung thư di căn xương. Vị trí thường gặp là gẫy xương dài ở chân hoặc tay, lún xẹp đốt sống, gẫy xương sườn… – Dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh xảy ra khi có di căn tại cột sống. – Tăng calci máu: do tình trạng hủy xương tăng (thường biểu hiện bởi các triệu chứng kém ăn, mệt mỏi, nôn, táo báo, lú lẫn..) – Triệu chứng khác: thiếu máu (do tổn thương tủy xương), nhiễm trùng cơ hội (do giảm sức đề kháng), xuất huyết (do giảm tiểu cầu) – Toàn thân: gầy, sút cân, có thể thấy hạch ngoại vi. – Các biểu hiện của ung thư nguyên phát: ho ra máu (ung thư phổi), đái khó (ung thư tiền liệt tuyến) …2.2. Xét nghiệm – Các dấu hiệu về viêm tăng (tăng tốc độ máu lắng, CRP tăng) – Bilan phospho – calci bất thường: phosphatase kiềm máu tăng, calci máu tăng (khi có sự hủy xương nhiều). – Hội chứng thiếu máu, đôi khi có thể giảm cả bạch cầu, tiểu cầu. – Các marker ung thư có thể tăng theo từng loại ung thư nguyên phát: PSA (K tuyến tiền liệt); alpha FP (K gan); ACE (K dạ dày, adenome carcinome); CA – 125 (K buồng trứng), Ca – 15 – 3 (K vú); CA 19 – 9 (K tụy); NSE (K phổi tế bào nhỏ)2.3. X quang quy ước xương tổn thương Có hình ảnh tổn thương xương: Có thể là các ổ tiêu xương, hoặc đặc xương hoặc hỗn hợp (tiêu xương kết hợp hủy xương). Khi đã thấy tổn thương xương trên Xquang thường quy thì bệnh nhân đã ở giai đoạn muốn.2.4. Chụp cắt lớp vi tính và Cộng hưởng từ. Chỉ định chụp tại vị trí nghi ngờ có tổn thương. Cộng hưởng từ có giá trị nhất khi phát hiện di căn tại vùng cột sống.2.5. Xạ hình xương SPECT và PET: Xạ hình xương có thể phát hiện tổn thương ung thư di căn trên toàn bộ khung xương. Ung thư di căn xương điển hình có hình ảnh tăng hoạt tính phóng xạ đa ổ với hình dạng, kích thước và tỉ trọng khác nhau, phân bố không đối xướng, không đều, rải rác trên toàn bộ hệ thống xương, đặc biệt trên cột sống xương sườn. SPECT và OET giúp phát hiện K di căn xương sớm hơn, khi ung thư mới chỉ khu trú trong tủy xương do cung cấp những hình ảnh trong không gian ba chiều và cho biết cả rối loạn chức năng tại vùng tổn thương (nếu sử dụng FDG – PET)2.6. Sinh thiết xương vùng tổn thương (trực tiếp hoặc dưới hướng dẫn của CT) làm xét nghiệm mô bệnh học phát hiện tế bào ung thư. Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán. Cần sinh thiết nhiều mẫu bệnh phẩm để tránh bỏ sót.2.7. Tủy đồ: Khoảng 25% trường hợp có thể phát hiện được tế bào ung thư tại tủy xương, có thể gợi ý ung thư nguyên phát . Tủy đồ còn giúp chẩn đoán xác định bệnh đa u tủy xương (Multiple myeloma – bệnh Kahler), là bệnh có nhiều triệu chứng tương tự ung thứ di căn xương.2.8. Các thăm dò khác nhằm chẩn đoán ung thư nguyên phát: Tùy theo triệu chứng mà chỉ định các xét nghiệm khác nhau, tuy nhiên cũng có những trường hợp không thấy ung thư nguyên phát. Ngoài ra, đo mật độ xương có thể phát hiện được tình trạng loãng xương do cơ sự mất thăng bằng giữa tạo cốt bào và hủy cốt bào.3. ĐIỀU TRỊ3.1. Mục đích điều trị – Điều trị triệu chứng: giảm đau, điều trị gãy xương, tăng calci máu, nâng cao sức đề kháng…từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. – Ngăn chặn và hoặc làm giảm quá trình hủy xương, làm chậm quá trình di căn xương. – Điều trị ung thư nguyên phát.3.2. Điều trị triệu chứng – Giảm đau + Điều trị giảm đau theo bậc thang giảm đau của WHO. Bậc 1: paracetamol (liều người lớn 500 – 1000mg mỗi 4 – 6 giờ nếu cần và không quá 4000 mg/ ngày, liều cho trẻ em < 12 tuổi là 10 – 15 mg/kg cân nặng mỗi 4 – 6 giờ. Bậc 2: paracetamol + codein ( Efferangan codein, Ultracet (37,5mg tramodol + 325 mg acetaminophen) liều dùng 1 – 2 viên mỗi 4 – 6 giờ và không quá 8 viên / ngày, dùng không quá 5 ngày, giảm liều ở những bệnh nhân suy gan, suy thận, người lớn. Bậc 3: morphin hoặc các dẫn xuất của morphin (morphin sulphats 10mg, liều tùy theo từng mức độ đau của bệnh nhân có thể sử dụng dạng uống hoặc tiêm, liều dao động 5 – 30mg mỗi 4 giờ nếu cần). + Thuốc chống viêm: không sterroid: chọn một trong các thuốc sau: diclofenac (Voltaren) 100 – 150 mg/ ngày; piroxicam (Felden, Brexin) 20mg/ ngày; meloxicam (Mobic) 7,5 – 15mg/ ngày; celecoxib (Celebrex) 200 – 400mg/ ngày; etocorxib (Arcoxia) . Dùng đường uống hoặc tiêm bắp (không nên tiêm quá 4 ngày). + Kết hợp thuốc chống trầm cảm cũng có hiệu quả giảm đau, đặc biệt ở những bệnh nhân có biểu hiện lo lắng hay trầm cảm nhiều: thuốc amitriptyline 25mg, liều 1 – 4 viên/ ngày. Dogmatil 50mg, ngày 2 – 6 viên.3.3. Điều trị tăng calci máu + Truyền dịch: truyền dung dịch natriclorua 9‰ 3 – 4 lít/ ngày (200 – 300ml/ giờ nhằm duy trì nước tiểu 100 – 200ml/ giờ) với điều kiện huyết áp cho phép. + Lợi tiểu: nên dùng nhóm furosemide 20mg ( tiêm tĩnh mạch) sử dụng trong và sau khi truyền dịch. + Calccitonin: (Miacalcic) thường truyền tĩnh mạch, pha với natriclorua 9‰ với liều 4UI – 6UI/ kg mỗi 12 giờ, tùy theo nồng độ calci máu. Thuốc có tác dụng hạ calcci máu nhanh. + Biphosphonat: dùng dạng truyền tĩnh mạch, pha với natriclorua 9‰ hoặc pamidronate (Aredia 90mg) truyền trong 2 giờ hoặc zoledronate acid (Zometa 4mg) truyền trong 30 phút. – Điều trị thiếu máu + Truyền khối hồng cầu hoặc các chế phẩm của máu khác nếu cần. + Erythropoietin tiêm dưới da 2000 – 4000 UI/ ngày tuần 3 lần.3.4. Điều trị ngăn chặn hoặc giảm hủy xương, làm chậm quá trình tiến triển di căn xương và tiến triển của bệnh. – Biphosphonate: truyền tĩnh mạch mỗi tháng một lần một trong các loại sau : pamidronate ( Aredia 30mg) liều 90mg hoặc zoledronic acid ( Zometa 4mg) liều 4mg – Một số thuốc chống hủy xương khác: Denosumab ( AMG – 162) cathepsin K (hiện chưa có ở Việt Nam) – Thuốc ức chế tăng sinh mạch của tổ chức ung thư từ đó làm chậm quá trình di căn ( ức chế endothelin – 1: Atrasentan) – Xạ trị ngoài, chiếu xạ vào những vùng tổn thương di căn với mục đích giảm đau, hạn chế sự phát triển của khối u. – Dược chất phóng xạ (xạ trị trong): có tác dụng giảm đau do ung thư di căn xương: strontium – 89 ( Metastron) và phospho – 32, Samarium – 153. – Liệu phát quang động học ( phytodymamic therapy) – Hướng điều trị trong tương lai: Tác động theo từng khâu của quá sinh sinh sinh bệnh, phát triển và di căn của tế bào ung thư : gen trị liệu, ức chế cytokin (IL11, TGF, IGF, RANKL..)3.5. Điều trị phẫu thuật : chỉ định khi có gãy xương hoặc cắt bỏ tổn thương khó có chỉ định.3.6. Vật lý trị liệu,tâm lý liệu pháp : hỗ trợ giảm đau đớn cho người bệnh.4. PHÒNG BỆNH Mục tiêu phát hiện hiện ung thư sớm nhằm tránh di căn đến xương cũng như đến các cơ quan khác bằng cách khác sức khỏe định kỳ, sàng lọc ung thư sớm.

PGS.TS Vũ Thị Thanh Thủy

Ung Thư Tuyến Giáp Di Căn Xương

Ung thư tuyến giáp giai đoạn cuối đã phát triển ra toàn bộ tuyến giáp, lây lan đến hạch bạch huyết vùng cổ, các cơ quan lân cận và ở xa, trong đó có xương. Ung thư tuyến giáp di căn xương có biểu hiện phức tạp và khó điều trị hơn rất nhiều.

Biểu hiện ung thư tuyến giáp di căn xương

Ung thư tuyến giáp là một trong những bệnh ung thư thường gặp ở vùng đầu cổ. Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định rõ ràng nhưng có rất nhiều yếu tố được xác định là làm tăng nguy cơ mắc bệnh như tiếp xúc tia phóng xạ, tiền sử gia đình có người mắc bệnh, mang gen hội chứng di truyền…

Biểu hiện ung thư tuyến giáp di căn xương thường rất phức tạp, không chỉ giới hạn ở tuyến giáp mà còn xuất phát từ vị trí khối u di căn là phổi. Một số dấu hiệu ung thư tuyến giáp di căn xương thường gặp là:

Đau xương

Xương dễ gãy

Sưng các khớp, chi, cột sống, vùng chậu, vùng háng…

Thiếu máu

Sốt, nôn mửa

Khó nuốt, đau khi nuốt thức ăn

Khối u lớn xuất hiện ở vùng cổ

Mệt mỏi, sút cân không rõ nguyên nhân…

Điều trị ung thư tuyến giáp di căn xương

Khác với những giai đoạn đầu của bệnh, ung thư tuyến giáp di căn điều trị phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều. Mục đích điều trị cho bệnh nhân giai đoạn này là điều trị giảm đau, loại bỏ khối u tuyến giáp và hạch bạch huyết vùng cổ, kiểm soát khối u tránh di căn rộng hơn đến các cơ quan…

Ngoài giai đoạn tiến triển bệnh, lựa chọn phương pháp điều trị cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp di căn xương cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như độ tuổi, thể trạng người bệnh cũng như mong muốn điều trị của bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân ung thư tuyến giáp di căn xương thường gặp khó khăn khi đi lại nên bác sĩ sẽ thường tập trung vào điều trị giảm đau xương cho bệnh nhân sau đó xem xét cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp để loại bỏ khối u, nạo vét hạch cổ hai bên. Điều trị bằng I ốt phóng xạ (I – 131), xạ trị ngoài, liệu pháp hoóc môn tuyến giáp cũng có thể được chỉ định ở giai đoạn này.

So với các bệnh ung thư thường gặp, ung thư tuyến giáp giai đoạn di căn vẫn có tiên lượng sống khả quan hơn nhiều. Theo đó, nếu được điều trị tích cực, bệnh nhân sẽ có khoảng 28 – 51% cơ hội sống trong 5 năm.

Thực tế, Bệnh nhân ung thư tuyến giáp giai đoạn di căn phải chịu nhiều áp lực về tinh thần, dễ bị trầm cảm, lo lắng quá mức hoặc có tâm lý buông xuôi. Vì vậy, bên cạnh chăm sóc y tế cho bệnh nhân người nhà cũng nên động viên tinh thần giúp người bệnh sống lạc quan hơn.

Ung Thư Phổi Di Căn Qua Xương

Ung thư phổi giai đoạn cuối đã phát triển rộng sang hai bên phổi, lan rộng đến hạch bạch huyết, các cơ quan lân cận và ở xa phổi, trong đó có xương. Ung thư phổi di căn qua xương có biểu hiện phức tạp và điều trị khó khăn hơn rất nhiều.

Biểu hiện ung thư phổi di căn qua xương

Ung thư phổi là bệnh ung thư đường hô hấp rất nguy hiểm, có tỷ lệ mắc và tử vong cao tại nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, Ung thư phổi đứng đầu trong các bệnh ung thư thường gặp ở nam giới và thứ ba ở nữ giới. Với đà tăng như hiện tại, ước tính đến năm 2020, nước ta sẽ có khoảng gần 45 nghìn nam giới và gần 20 nghìn nữ giới mắc bệnh này.

Ung thư phổi tiến triển nhanh, giai đoạn đầu ít có biểu hiện nên đa số bệnh nhân đều phát hiện khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn muộn khiến việc điều trị rất khó khăn. Ung thư phổi giai đoạn cuối có thể di căn đến xương, tuyến thượng thận, thận, não…

Ung thư phổi là một trong 3 bệnh ung thư di căn đến xương nhiều nhất. Vị trí di căn phổ biến là: cột sống, xương chậu, xương cánh tay, xương đùi, xường bàn tay, bàn chân…

Biểu hiện ung thư phổi di căn qua xương rất phức tạp, không chỉ xuất phát từ phổi mà còn tại vị trí khối u di căn.

Một số biểu hiện ung thư phổi di căn qua xương thường gặp là:

Đau tức, đau dữ dội vùng ngực, cơn đau kéo dài và xảy ra thường xuyên

Ho khan, ho ra máu nhiều

Sốt cao, nôn ói

Đau nhức vùng xương khớp

Sưng các khớp, chi, cột sống

Xương yếu, dễ gãy

Khó đi lại, cơ thể dễ bị tê liệt

Cơ thể sút cân nhanh chóng, da xanh xao, mệt mỏi

Tâm lý hoảng loạn, bất an, dễ trầm cảm, cáu gắt

Hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi di căn xương

Ung thư phổi di căn xương điều trị rất khó khăn và cơ hội sống thấp hơn rất nhiều so với những giai đoạn đầu của bệnh. Mục đích điều trị chính cho bệnh nhân giai đoạn này là kiểm soát khối u tránh di căn rộng hơn và giảm nhẹ triệu chứng bệnh, chủ yếu là các cơn đau xương. Dù chỉ có 1% cơ hội sống nhưng với sự tiến bộ của y tế trong điều trị ung thư, bệnh nhân vẫn có cơ hội kéo dài thêm sự sống.

Lựa chọn phương pháp điều trị cho bệnh nhân ung thư giai đoạn này cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tùy từng trường hợp cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc chống viêm giảm đau để giảm cơn đau khi khối u di căn vào xương hoặc xạ trị liệu. Liều lượng xạ trị có thể khác nhau ở mỗi người và nhằm mục đích giảm cơn đau, ngừa gãy xương do cấu trúc xương yếu.

Phẫu thuật cho bệnh nhân ung thư phổi di căn xương ít phổ biến, chủ yếu nhằm ổn định xương gãy.

Thực tế, bệnh nhân ung thư phổi di căn thường phải chịu áp lực tâm lý rất lớn nên bên cạnh chăm sóc y tế, người thân chăm sóc cũng cần cố gắng động viên tinh thần, giúp bệnh nhân sống lạc quan hơn, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Với mong muốn đem lại cơ hội sống cao hơn cho nhiều bệnh nhân ung thư, Bệnh viện Thu Cúc đã hợp tác với đội ngũ bác sĩ chuyên môn giỏi từ Singapore trong xây dựng phác đồ điều trị bệnh. Trực tiếp điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi có TS. BS Lim Hong Liang, thành viên Hiệp hội Nghiên cứu Quốc tế Ung thư phổi, bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm điều trị các bệnh ung thư tại nhiều nước trên thế giới.