Ung Thu Xoang Mieng / 2023 / Top 14 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thu Khoang Mieng, Ung Thu, Dieu Tri Ung Thu Khoang Mieng, Benh Ung Thu Khoang Mieng, Nguyen Nhan Mac Benh Ung Thu, Phuong Phap Dieu Tri Ung Thu / 2023

Khái niệm về ung thư khoang miệng: bệnh ung thư khoang miệng là một loại bệnh có khối u ác tính trong khoang miệng thường hay gặp. Ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu khá giống với bệnh viêm loét khoang miệng, có rất nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu thường lầm tưởng là mình bị nhiệt miệng, loét miệng đơn thuần hoặc chỉ là một căn bệnh về miệng nào đó, chính điều này đã làm bỏ lỡ mất cơ hội điều trị bệnh sớm nhất và tốt nhất.

Nguy cơ gây ung thư khoang miệng:

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư khoang miệng cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng trong đó vẫn có các yếu tố sau: hút thuốc lá và uống bia rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh trong một thời gian dài: niêm mạc miệng bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào hoặc bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ở Việt Nam, những người ăn trầu thuốc (thuốc lào) trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư này. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém… có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Bệnh cũng thường gặp ở nhóm nam giới trên 40 tuổi;…

Ung thư khoang miệng có những triệu chứng

1. Đau đớn: giai đoạn đầu thông thường không đau hoặc chỉ một chỗ nào đó trong miệng có cảm giác bất thường khi chạm vào, nếu như xuất hiện vết loét da miệng gây cảm giác đau, theo đà xâm lấn của khối u tới những dây thần kinh xung quanh, có thể dẫn đến đau trong tai và khoang mũi họng.

2. Thay đổi sắc da: Niêm mạc khoang miệng nếu như thay đổi màu sắc, màu nhợt hoặc màu đen lại, có nghĩa là khi đó tế bào biểu mô niêm mạc miệng đang thay đổi. Đặc biệt là niêm mạc miệng chuyển thô, dày hơn hoặc xơ cứng lại, xuất hiện niêm mạc miệng trắng bợt hoặc ban đỏ, rất có thể là biến chứng của ung thư.

3. Loét không khỏi: Vết loét miệng thông thường không thể quá 2 tuần mà không khỏi, nếu như có cảm giác nóng rát, đau quá thời gian 2 tuần vẫn không đỡ nên cảnh giác với ung thư khoang miệng.

4. Sưng hạch: ung thư hạch thường di căn đến vùng hạch cổ gần đó, có khi ổ bệnh nguyên phát rất nhỏ, thậm chỉ triệu chứng còn chưa rõ, nhưng hạch vùng cổ đã bị di căn. Do đó, khi hạch vùng cổ đột ngột sưng to, cần đi kiểm tra chụp CT, để kiểm tra có phải hạch do ung thư hay không.

5. Bên trong khoang miệng chảy máu: Chảy máu là một tín hiệu nguy hiểm lớn của bệnh ung thư khoang miệng. Vì khối u phát triển trong khoang miệng tiếp xúc nhẹ cũng sẽ gây chảy máu.

6. Chức năng gặp trở ngại: Khối u có thể xâm lấn cơ đóng mở miệng và xương cằm làm cho vận động đóng mở của cơ miệng bị giới hạn, gây ra hiện tượng ngậm mở miệng khó khăn.

7. Xương hàm và răng: một vị trí nào đó tại xương hàm sưng to, làm cho mặt bị lệch. Đột nhiên xuất hiện hiện tượng răng lung lay, rụng, khi nhai đồ ăn khó khăn, có cảm giác khó nhai như người lắp răng giả, vùng khoang mũi họng tê, đau, sau khi điều trị thì bệnh không có chuyển biến, nên cảnh giác là căn bệnh ung thư khoang miệng.

8. Vận động của lưỡi và tri giác: tính linh hoạt của lưỡi bị hạn chế, dẫn đến nhai, nuốt hoặc nói khó khăn, hoặc một bên lưỡi mất cảm giác, tê, tất cả đều cần kiểm tra xác định nguyên nhân sớm.

Ngoài ra còn xuất hiện các hiện tượng khác như sự bất thường ở thần kinh mặt, cảm giác tê, chảy máu mũi không rõ nguyên nhân…, cũng phải lập tức đến bệnh viện sớm để kiểm tra tìm nguyên nhân chính xác.

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Ung thư khoang miệng được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 và 2 được coi là giai đoạn sớm. Tùy theo giai đoạn của khối u mà bệnh nhân sẽ được điều trị các biện pháp thích hợp. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị ung thư khoang miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao, người bệnh có thể bảo tồn được chức năng của khoang miệng cũng như đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Còn ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hiệu quả điều trị kém, gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh.

Do đó khi thấy một trong các dấu hiệu đã nêu trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Ngoài ra để phòng và hạn chế nguy cơ gây ung thư khoang miệng cần thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, không nên hút thuốc lá, uống rượu, ăn trầu,… giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán ung thư miệng

1. Kiểm tra hình ảnh học

(1) Kiểm tra đồng vị phóng xạ có thể cho biết tình trạng tuyến giáp và di căn xương của ung thư miệng.

(2) Chụp Xquang và chụp cắt lớp, có thể giúp bác sỹ nắm được thông tin tương đối có giá trị về tình trạng bệnh khi ung thư miệng di căn đến xương hàm trên, hàm dưới, xoang mũi và các khoang cạnh mũi.

2. Xét nghiệm tế bào học và sinh thiết

(1)Xét nghiệm tế bào học phù hợp cho tiền ung thư chưa có triệu chứng hoặc ung thư giai đoạn đầu mà phạm vi xâm lấn của ung thư chưa rõ ràng, sử dụng cho những trường hợp kiểm tra sàng lọc, sau đó đối với những kết quả dương tính và hoài nghi ung thư sẽ tiếp tục tiến hành sinh thiết xác định chính xác bệnh.

(2)Đối với chuẩn đoán ung thư miệng biểu mô tế bào vảy thông thường áp dụng chọc hút hoặc cắt một phần khối u đi sinh thiết. Vì niêm mạc bề mặt thường loét hoặc không bình thường, vị trí nông, nên tránh tổ chức hoại tử, lấy tế bào tại nơi tiếp xúc giữa tổ chức ung thư với các tổ chức bình thường xung quanh, khiến cho những tiêu bản lấy được vừa có tế bào ung thư vừa có tế bào thường.

3. Tự kiểm tra

(1)Kiểm tra vùng đầu: Tiến hành quan sát sự đối xứng, chú ý sự thay đổi màu sắc da với vùng đầu và cổ.

(2) Kiểm tra vùng cổ: dùng tay kiểm tra, từ sau tai sờ đến xương hàm, chú ý khi sờ có thấy đau và sưng hay không.

(3) Kiểm tra môi: Trước tiên lật bên trong môi dưới, quan sát môi và niêm mạc trong môi, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái lật môi dưới từ trong ra ngoài, từ bên trái qua bên phải, sau đó kiểm tra môi trên cũng giống như vậy, sờ xem có khối u hay không, quan sát xem có tổn thương gì hay không. Tiếp đó dùng phương pháp tương tự kiểm tra bên trong môi trên.

(4) Kiểm tra lợi: Kéo môi ra, quan sát lợi, và kiểm tra bằng cách sờ vùng má xem có bất thường gì không.

(5) Kiểm tra lưỡi: đưa lưỡi ra, quan sát màu sắc và kết cấu lưỡi, dùng gạc vô trùng bọc đầu lưỡi lại sau đó kéo lưỡi hướng sang phải, rồi sang trái để quan sát 2 bên cạnh của lưỡi.

(6) Kiểm tra vòm miệng phía trên : đối với kiểm tra vòm miệng cần dùng phần tay cầm của bàn chải đánh răng đè lưỡi bẹt xuống, đầu hơi ngả về phía sau, quan sát màu sắc và hình thái của ngạc mềm và ngạc cứng.

Ung Thư Xoang Là Gì? / 2023

Các khối u mũi và xoang là các khối u có thể lành tính hoặc ác tính (ung thư) xảy ra trong mũi xoang. Ung thư ở khoang mũi hoặc các khối u ở xoang rất hiếm gặp.

Triệu chứng và cách chữa viêm xoang

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ!

Tôi muốn hỏi bác sĩ về biểu hiện và cách điều trị viêm xoang. Xin bác sĩ trả lời các thắc mắc của tôi.

Xin cảm ơn!

Chào bạn.

Xoang là những khoảng không gian rỗng nằm trong khối xương đầu mặt và xoang thông với mũi. Vùng trán: có xoang trán. Vùng mũi: có xoang sàng và xoang bướm. Vùng hàm trên: có xoang hàm. Vùng xương bướm thuộc nền sọ: có xoang bướm. Tùy theo xoang nào viêm mà có triệu chứng khác nhau. Viêm xoang còn có thể do dị ứng hay nhiễm trùng, nhiễm nấm,… Viêm xoang có nhiều thể: thể cấp tính và mãn tính.

Viêm xoang cấp tính

Triệu chứng:

Toàn thân: thường chỉ thấy mệt mỏi, sốt nhẹ nhưng cũng có trường hợp thường ở trẻ em có sốt cao, thể trạng nhiễm khuẩn rõ. Triệu chứng cơ năng:

– Đau: đau vùng mặt là dấu hiệu chính, thường đau về sáng do đêm bị ứ đọng xuất tiết, đau thành từng cơn gây nhức đầu. Đau nhức nhất là vùng quanh mắt, đau thành cơn, đau theo nhịp đập. Ấn đau ở phía dưới ổ mắt, cơn đau có chu kỳ, đúng khoảng thời gian nhất định trong ngày thường đau vào lúc từ 8 đến 11 giờ.

– Ngạt tắc mũi: tuỳ theo tình trạng viêm, ngạt tắc mũi 1 hay cả 2 bên, mức độ vừa nhẹ, từng lúc hay tắc mũi liên tục gây mất ngửi, ngạt nhiều bên đau, ngạt tăng về ban đêm.

– Chảy mũi: chảy mũi vàng đục làm hoen bẩn khăn tay, có mũi hôi. Đôi khi xì mạnh thường gây đau và lẫn tia máu.

Thực thể:

– Soi mũi: khám mũi thấy niêm mạc mũi nề đỏ, cuốn mũi dưới cương to, đặt bông thấm Ephedrine 1% còn co hồi lại tốt. Cuốn mũi giữa nề, cần lưu ý quan sát ngách mũi giữa thấy có mủ đọng bám.

Trường hợp viêm xoang do răng số 5, 6, 7 hàm trên, thấy bị áp xe quanh răng đau, răng đau nhức theo nhịp đập, lợi quanh đó bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối. Khi ấn ngón tay ở mặt trước xoang gây đau: cụ thể ấn vùng hố nanh tương ứng với xoang hàm. Điểm Grunwald ấn góc trên trong hốc mắt với xoang sàng và điểm Ewing ấn đầu trên trong lông mày với xoang trán.

Điều trị:

Nghỉ ngơi, tránh các yếu tố kích thích. Đảm bảo dẫn lưu tốt mũi xoang, rỏ mũi để đảm bảo thông thoáng, xì mũi hoặc hút để tránh ứ đọng. Tại chỗ: xông hơi nóng với các tinh dầu thơm, khí dung với kháng sinh và corticoid. Toàn thân: dùng kháng sinh nếu có sốt cao, nhiễm khuẩn rõ. Uống hoặc tiêm trong 5 – 7 ngày, chống viêm, giảm đau hạ sốt và cho thêm vitamin C. Chỉ chọc rửa xoang hàm khi đã giảm viêm nhiễm (hết sốt, bạch cầu trong máu trở lại bình thường). Trường hợp do răng, cần nhổ và chữa răng.

Viêm xoang sàng cấp tính ở trẻ em

Triệu chứng mãn tính

Cơ năng:

– Đau: viêm mạn tính thường không đau, trừ những đợt hồi viêm. Thường chỉ là cảm giác nặng đầu, vị trí tuỳ theo loại xoang viêm. Viêm xoang trước thường nhức quanh mắt, hố nanh. Viêm xoang sau thường nhức sâu trong mắt hoặc ở vùng đỉnh chẩm.

– Ngạt tắc mũi thường xuyên. Chảy mũi kéo dài ra cửa mũi trước, mủ xanh hoặc mủ vàng, nếu là viêm xoang trước mạn tính. Viêm xoang sau: mủ hoặc chất nhầy chảy xuống họng, bệnh nhân phải khịt, khạc, nhổ thường xuyên. Hay có biến chứng mắt như viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu, viêm mống mắt thể mi…

Thực thể:

Triệu chứng viêm nhóm xoang trước mãn tính.

Ngách mũi giữa nề và ướt hoặc mủ chảy từ ngách mũi giữa xuống cuốn mũi dưới, hoặc có ít mủ đọng khô ở bờ dưới cuốn mũi giữa. Cuốn mũi dưới nề to. Niêm mạc ngách mũi giữa phù nề, có khi thoái hoá thành polyp. Xuất hiện gờ Kauffman (do phì đại niêm mạc ở ngách mũi giữa thành một đường gờ dài, trông như một cuốn mũi thứ hai nằm ngoài cuốn mũi giữa). Soi mũi sau: mủ đọng ở sàn mũi hoặc ở đuôi cuốn mũi dưới.

Triệu chứng viêm nhóm xoang sau mãn tính.

Soi mũi trước nhiều khi không có gì. Soi mũi sau: thấy chất nhầy mủ xuất phát từ ngách trên chảy ra cửa mũi sau, tỏa xuống vòm mũi họng. Khám họng: thành sau họng viêm mạn tính với nhiều tổ chức lymphô đỏ và chất nhầy đặc bám. X-quang: Blondeau và Hirtz có giá trị trong chẩn đoán xác định: hình xoang mờ đều, hình dày niêm mạc, hình polyp…

Điều trị:

Phương pháp điều trị bảo tồn viêm đa xoang mãn tính: Kháng sinh, chống viêm, giảm đau… (nếu có hồi viêm). Khí dung, Proetz… Chọc xoang hàm để ống dẫn lưu, rửa và bơm thuốc. Nhổ, chữa răng nếu do răng. Vacxin chống nhiễm khuẩn. Vitamin A và B. Giảm mẫn cảm nếu có dị ứng.

Phương pháp điều trị phẫu thuật viêm đa xoang mãn tính:

Phẫu thuật nội soi chức năng mũi, xoang (FESS – Functional Endoscopic Sinus Surgery). Phẫu thuật nạo sàng hàm (Caldwell Luc). Phẫu thuật vách ngăn (nếu nguyên nhân do dị hình vách ngăn).

Chỉ định phẫu thuật xoang:

Viêm xoang gây ra các biến chứng: não, mắt, xuất ngoại… Viêm xoang nguyên nhân do các dị vật trong xoang. Viêm xoang đã có thoái hoá dạng polyp. Các khối u trong xoang (khối u lành tính hoặc ác tính).

Viêm xoang mủ mãn tính, chọc dò xoang hàm để ống dẫn lưu và rửa nhiều lần nếu qua 10 lần không đỡ nên chuyển sang phẫu thuật.

Nguồn sưu tầm Nguồn: songkhoe.vn

Có thuốc gì làm giảm triệu chứng viêm xoang mà không ảnh hưởng tới quá trình liền xương không?

Câu hỏi bởi: Nam

Chào bác sĩ.

Bác sĩ cho em hỏi là em bị gãy xương hàm dưới và đang điều trị được 3 tuần. Khoảng 6 tuần thì tháo niềng răng ra (em chỉ cố định chứ không mổ). Mà em lại bị viêm xoang nữa nên em lo là khi tháo niềng mà em hay hắt hơi nên ảnh hưởng tới quá trình liền xương. Vậy bác sĩ cho em hỏi là có thuốc gì uống làm giảm triệu chứng viêm xoang (không hắt hơi, ngứa mũi) mà không ảnh hưởng tới quá trình liền xương không?

Xin cảm ơn bác sĩ.

Luôn luôn giữ ấm là điều rất quan trọng trong mùa lạnh, đặc biệt là vùng cổ, ngực và mũi khi trời lạnh.

Dùng khẩu trang hoạt tính khi đi ra ngoài đường không những giữ ấm được mũi mà còn hạn chế sự xâm nhập của bụi, vi khuẩn.

Làm ấm vùng mũi mỗi khi tỉnh dậy vào buổi sáng bằng cách dùng hai bàn tay chụp lại hai bên vùng cánh mũi và miệng, tay xoa xoa tập thở ra hít vào, thực hiện như vậy chừng vài phút.

Không tắm nước lạnh mà cần tắm nước nóng, tắm nhanh trong buồng kín gió, lau thân mình và đầu, mặt, cổ thật khô và mặc quần áo ngay.

Vệ sinh họng, miệng hàng ngày như đánh răng trước và sau khi ngủ dậy, sau mỗi bữa ăn và súc họng nước muối sinh lý. Giữ họng và miệng không bị viêm sẽ hạn chế việc bị viêm xoang cũng như bệnh viêm xoang tái phát, bởi hệ thống xoang và các bộ phận đường hô hấp trên liên thông với nhau.

Những người đã bị viêm xoang mãn tính và cả người bình thường thì hàng ngày nên rửa mũi bằng nước muối sinh lý và nên đi khám khi có những nghi ngờ bị, biểu hiện của viêm mũi, viêm xoang, viêm đường hô hấp. Người bị viêm xoang và viêm xoang tái phát cần thiết điều trị theo đơn của bác sĩ, không nên tự mua thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Vì nếu làm như vậy sẽ lợi bất cập hại, nghĩa là bệnh không khỏi mà có khi còn tăng lên hoặc gây tai biến rất nguy hiểm.

Sốt kèm đau đầu, đau hốc mắt, sốt lúc nửa đêm

Câu hỏi bởi: minhanh

Chào bác sĩ!

Cháu mới 16 tuổi cháu hay bị đau nửa đầu, gần đây cháu bị sốt kèm đau đầu kinh khủng đau luôn cả hốc mắt, sốt lúc nửa đêm. Đầu thì lúc nào cũng ê ê 2 bên thái dương cứ lâu lâu lại đau sau gáy hay bên trái, biểu hiện là của bệnh gì và chữa như thế nào?

Cháu xin cảm ơn!

Cháu bị đau đầu kèm đau hốc mắt và sốt, cháu có bị chảy dịch mũi, chảy dịch xuống cổ họng hay nghẹt mũi không? Với triệu chứng như cháu mô tả có thể cháu đang bị viêm xoang. Viêm xoang là bệnh lý do viêm các xoang ở cạnh mũi. Nó được phân loại viêm xoang cấp tính thường chữa trị nội khoa, viêm xoang nãm tính thì chữa trị ngoại khoa. Hệ thống xoang bao gồm: xoang hàm, xoang sàng, xoang trán, xoang bướm.

Triệu chứng viêm xoang:

Đau nhức: vùng đau nhức tuỳ theo xoang bị viêm, xoang hàm: đau nhức vùng má, xoang trán: đau nhức giữa hai lông mày, xoang sàng trước: nhức giữa hai mắt, xoang sàng sau, xoang bướm nhức trong sâu và nhức vùng gáy.

Chảy dịch: tuỳ thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chẩy ra mũi trước hoặc xuống họng, làm cho bệnh nhân luôn phải khịt mũi hoặc phản xạ ở cổ họng muốn khạc nhổ. Tuỳ theo bị bệnh lâu hay mới mà dịch nhầy có mầu trắng đục hay màu vàng, có mầu hôi, khẳm.

Nghẹt mũi: Có thể nghẹt một bên hoặc cả hai bên.

Điếc mũi: ngửi không biết mùi, thường do viêm nặng, phù nề nhiều. Có thể có sốt nhẹ hoặc sốt cao.

Chúc cháu sức khỏe!

Đau nửa đầu ở hốc mắt, không mở được mắt, chữa như thế nào?

Câu hỏi bởi: cuc vivi

Cháu chào bác sĩ.

Năm nay cháu 22 tuổi. Cháu hay bị đau 1 nửa đầu, đa phần là đau ở hốc mắt không mở được mắt ạ. Mỗi lần đau cháu không muốn cử động và cháu hay dùng thuốc giảm đau. Vậy cháu bị bệnh gì và phải chữa thế nào ạ?

Cảm ơn bác sĩ.

1. Đau nhức: vùng đau nhức tuỳ theo xoang bị viêm

Xoang hàm: Đau nhức vùng má

Xoang trán: Đau nhức giữa hai lông mày

Xoang sàng trước: nhức giữa hai mắt

Xoang sàng sau, xoang bướm nhức trong sâu và nhức vùng gáy

2. Chảy dịch: Tuỳ thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chảy ra mũi trước hoặc xuống họng, làm cho bệnh nhân luôn phải khịt mũi hoặc phản xạ ở cổ họng muốn khạc nhổ. Tuỳ theo bị bệnh lâu hay mới mà dịch nhầy có mầu trắng đục hay màu vàng, có mầu hôi, khẳm.

3. Nghẹt mũi: Có thể nghẹt một bên hoặc cả hai bên

4. Điếc mũi: Ngửi không biết mùi, thường do viêm nặng, phù nề nhiều. Với biểu hiện đau, tính chất đau, vị trí đau, bác nghĩ rất có thể cháu bị đau đầu do viêm xoang sàng trước. Chính vì thế mà cháu bị đau chủ yếu ở vùng mắt mà thôi.

Chúc cháu mạnh khỏe.

Triệu chứng và cách chữa viêm xoang

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ!

Tôi muốn hỏi bác sĩ về biểu hiện và cách điều trị viêm xoang. Xin bác sĩ trả lời các thắc mắc của tôi.

Xin cảm ơn!

Chào bạn.

Xoang là những khoảng không gian rỗng nằm trong khối xương đầu mặt và xoang thông với mũi. Vùng trán: có xoang trán. Vùng mũi: có xoang sàng và xoang bướm. Vùng hàm trên: có xoang hàm. Vùng xương bướm thuộc nền sọ: có xoang bướm. Tùy theo xoang nào viêm mà có triệu chứng khác nhau. Viêm xoang còn có thể do dị ứng hay nhiễm trùng, nhiễm nấm,… Viêm xoang có nhiều thể: thể cấp tính và mãn tính.

Viêm xoang cấp tính

Triệu chứng:

Toàn thân: thường chỉ thấy mệt mỏi, sốt nhẹ nhưng cũng có trường hợp thường ở trẻ em có sốt cao, thể trạng nhiễm khuẩn rõ. Triệu chứng cơ năng:

– Đau: đau vùng mặt là dấu hiệu chính, thường đau về sáng do đêm bị ứ đọng xuất tiết, đau thành từng cơn gây nhức đầu. Đau nhức nhất là vùng quanh mắt, đau thành cơn, đau theo nhịp đập. Ấn đau ở phía dưới ổ mắt, cơn đau có chu kỳ, đúng khoảng thời gian nhất định trong ngày thường đau vào lúc từ 8 đến 11 giờ.

– Ngạt tắc mũi: tuỳ theo tình trạng viêm, ngạt tắc mũi 1 hay cả 2 bên, mức độ vừa nhẹ, từng lúc hay tắc mũi liên tục gây mất ngửi, ngạt nhiều bên đau, ngạt tăng về ban đêm.

– Chảy mũi: chảy mũi vàng đục làm hoen bẩn khăn tay, có mũi hôi. Đôi khi xì mạnh thường gây đau và lẫn tia máu.

Thực thể:

– Soi mũi: khám mũi thấy niêm mạc mũi nề đỏ, cuốn mũi dưới cương to, đặt bông thấm Ephedrine 1% còn co hồi lại tốt. Cuốn mũi giữa nề, cần lưu ý quan sát ngách mũi giữa thấy có mủ đọng bám.

Trường hợp viêm xoang do răng số 5, 6, 7 hàm trên, thấy bị áp xe quanh răng đau, răng đau nhức theo nhịp đập, lợi quanh đó bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối. Khi ấn ngón tay ở mặt trước xoang gây đau: cụ thể ấn vùng hố nanh tương ứng với xoang hàm. Điểm Grunwald ấn góc trên trong hốc mắt với xoang sàng và điểm Ewing ấn đầu trên trong lông mày với xoang trán.

Điều trị:

Nghỉ ngơi, tránh các yếu tố kích thích. Đảm bảo dẫn lưu tốt mũi xoang, rỏ mũi để đảm bảo thông thoáng, xì mũi hoặc hút để tránh ứ đọng. Tại chỗ: xông hơi nóng với các tinh dầu thơm, khí dung với kháng sinh và corticoid. Toàn thân: dùng kháng sinh nếu có sốt cao, nhiễm khuẩn rõ. Uống hoặc tiêm trong 5 – 7 ngày, chống viêm, giảm đau hạ sốt và cho thêm vitamin C. Chỉ chọc rửa xoang hàm khi đã giảm viêm nhiễm (hết sốt, bạch cầu trong máu trở lại bình thường). Trường hợp do răng, cần nhổ và chữa răng.

Viêm xoang sàng cấp tính ở trẻ em

Triệu chứng mãn tính

Cơ năng:

– Đau: viêm mạn tính thường không đau, trừ những đợt hồi viêm. Thường chỉ là cảm giác nặng đầu, vị trí tuỳ theo loại xoang viêm. Viêm xoang trước thường nhức quanh mắt, hố nanh. Viêm xoang sau thường nhức sâu trong mắt hoặc ở vùng đỉnh chẩm.

– Ngạt tắc mũi thường xuyên. Chảy mũi kéo dài ra cửa mũi trước, mủ xanh hoặc mủ vàng, nếu là viêm xoang trước mạn tính. Viêm xoang sau: mủ hoặc chất nhầy chảy xuống họng, bệnh nhân phải khịt, khạc, nhổ thường xuyên. Hay có biến chứng mắt như viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu, viêm mống mắt thể mi…

Thực thể:

Triệu chứng viêm nhóm xoang trước mãn tính.

Ngách mũi giữa nề và ướt hoặc mủ chảy từ ngách mũi giữa xuống cuốn mũi dưới, hoặc có ít mủ đọng khô ở bờ dưới cuốn mũi giữa. Cuốn mũi dưới nề to. Niêm mạc ngách mũi giữa phù nề, có khi thoái hoá thành polyp. Xuất hiện gờ Kauffman (do phì đại niêm mạc ở ngách mũi giữa thành một đường gờ dài, trông như một cuốn mũi thứ hai nằm ngoài cuốn mũi giữa). Soi mũi sau: mủ đọng ở sàn mũi hoặc ở đuôi cuốn mũi dưới.

Triệu chứng viêm nhóm xoang sau mãn tính.

Soi mũi trước nhiều khi không có gì. Soi mũi sau: thấy chất nhầy mủ xuất phát từ ngách trên chảy ra cửa mũi sau, tỏa xuống vòm mũi họng. Khám họng: thành sau họng viêm mạn tính với nhiều tổ chức lymphô đỏ và chất nhầy đặc bám. X-quang: Blondeau và Hirtz có giá trị trong chẩn đoán xác định: hình xoang mờ đều, hình dày niêm mạc, hình polyp…

Điều trị:

Phương pháp điều trị bảo tồn viêm đa xoang mãn tính: Kháng sinh, chống viêm, giảm đau… (nếu có hồi viêm). Khí dung, Proetz… Chọc xoang hàm để ống dẫn lưu, rửa và bơm thuốc. Nhổ, chữa răng nếu do răng. Vacxin chống nhiễm khuẩn. Vitamin A và B. Giảm mẫn cảm nếu có dị ứng.

Phương pháp điều trị phẫu thuật viêm đa xoang mãn tính:

Phẫu thuật nội soi chức năng mũi, xoang (FESS – Functional Endoscopic Sinus Surgery). Phẫu thuật nạo sàng hàm (Caldwell Luc). Phẫu thuật vách ngăn (nếu nguyên nhân do dị hình vách ngăn).

Chỉ định phẫu thuật xoang:

Viêm xoang gây ra các biến chứng: não, mắt, xuất ngoại… Viêm xoang nguyên nhân do các dị vật trong xoang. Viêm xoang đã có thoái hoá dạng polyp. Các khối u trong xoang (khối u lành tính hoặc ác tính).

Viêm xoang mủ mãn tính, chọc dò xoang hàm để ống dẫn lưu và rửa nhiều lần nếu qua 10 lần không đỡ nên chuyển sang phẫu thuật.

Nguồn sưu tầm Nguồn: songkhoe.vn

Căn Bệnh Ung Thư Xoang / 2023

Với ung thư xoang, triệu chứng ban đầu có thể dễ nhầm với cảm cúm thông thường. Ban đầu, người bị bệnh có thể có các triệu chứng chảy nước mũi như bị cảm lạnh hay viêm xoang có chảy mũi dịch mủ. Nếu là cảm lạnh, triệu chứng này có thể tự khỏi sau một tuần. Tuy nhiên, nếu nó vẫn kéo dài và thường chỉ ảnh hưởng đến một bên lỗ mũi thì rất có thể bạn đã bị ung thư. Theo các chuyên gia, bệnh ung thư mũi xoang thường tiến triển thầm lặng theo thời gian. Nước mũi chảy kéo dài là dấu hiệu cho thấy khối u đã xuất hiện trong lỗ mũi và phát triển. Bệnh ung thư xoang cũng được xem là một bệnh nghề nghiệp, chủ yếu ảnh hưởng đến người làm việc trong ngành gỗ. Gỗ bụi (đặc biệt là các loại gỗ lạ như gỗ gụ, có thể kéo theo các chất độc hại) bám vào xoang mũi, bao gồm cả xoang ở góc trong của mắt, và có thể gây ra các khối u theo thời gian.

Bạn nên thấy lo lắng khi chảy máu cam

Khi khối U đã phát triển trong các xoang, các vách ngăn của màng nhầy bị suy yếu sẽ dẫn tới chảy máu cam. Người bệnh có xu hướng chảy máu từ mũi không có lý do rõ ràng, chảy máu tái phát thường xuyên mà không nhất thiết phải là chảy nhiều trong một lúc.Máu có thể chảy từ một, hai bên; xuất hiện máu trong nước mũi song dễ bị nhầm lẫn với chảy máu cam thông thường. Dần dần, tình trạng này ngày càng diễn ra thường xuyên hơn. Chảy máu cam cũng có thể xảy ra tùy thuộc vào sự phát triển của ung thư, kèm theo đau nhẹ, ban đầu là ở trên mũi, sau đó lan truyền trên toàn bộ khuôn mặt, bao gồm cả tai.

Nghẹt mũi, đau đầu với tần suất tăng dần

Khi bệnh nhân có cảm giác khó chịu ở mũi và tần suất nghẹt mũi ở một bên ngày một nhiều, đó là lúc các khối u đã phát triển và lây cho các phần khác của khuôn mặt. Khoảng 80 – 90% bệnh nhân được chẩn đoán ung thư mũi xác nhận từng đối diện với chứng nghẹt mũi. Bạn có phải chịu sự hành hạ từ những cơn đau nửa đầu do các mô ung thư xâm nhập vào sọ, dây thần kinh và mạch máu.

Độ nhạy khứu giác giảm và cổ họng luôn cảm thấy có chất nhầy

Bên cạnh nghẹt mũi hay đau đầu thường xuyên, Khứu giác của người bệnh có khuynh hướng yếu đi. Người bệnh cũng có thể có cảm giác mất đi khả năng nhạy cảm trong việc nhận biết mùi. Khả năng của khứu giác sẽ càng ngày càng bị mất dần qua thời gian. Mũi thường được làm sạch bởi hệ thống chất nhầy để nhiễm trùng trong các cơ quan cũng như để ngăn chặn bụi bẩn xâm hại. Thế nhưng, khi khối u dần phát triển, chất nhầy này được được chất đầy lên và xả thất thường với số lượng lớn về phía sau của mũi và cổ họng.

Ù tai, giảm khả năng thính giác

Không chỉ khứu giác mà còn cả thính giác của người bệnh cũng sẽ suy yếu theo thời gian. Ù tai, giảm khả năng nghe là kết quả của chấn thương dây thần kinh thính giác do sự suy thoái của ung thư mũi họng. Dấu hiệu ung thư xoang này cũng có thể nhầm với các chứng viêm tai giữa. Vì thế, bạn chỉ có thể có được chẩn đoán chính xác khi đi khám bác sĩ.

Tầm nhìn giảm, răng lung lay và sưng ở mũi

Theo lời khuyên của các chuyên gia, nếu thấy cơ thể có bất kì sự thay đổi bất thường nào, bạn cần sớm thăm khám bác sĩ để có được những chẩn đoán bệnh cũng như những can thiệp điều trị bệnh kịp thời, tăng hiệu quả điều trị khi mắc bệnh.

Nguồn: Báo điện tử VTV

Bài thuốc hữu ích:

Bác sĩ Đỗ Thị Nhung

Từ khóa: Dấu hiệu ung thư xoang, Triệu chứng ung thư xoang

Tìm Hiểu Ung Thư Các Xoang Mặt / 2023

1. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư các xoang mặt

Nguyên nhân gây ung thư các xoang mặt chưa xác định rõ nhưng các yếu tố sau có nguy cơ phát triển thành bệnh:

Với bệnh tích viêm nhiễm mạn tính tại chỗ như bệnh tích thoái hoá viêm xoang sàng thành polip với ung thư­ xoang sàng.

Do bệnh nghề nghiệp: Tiếp xúc với hóa chất nh­ các công nhân tiếp xúc với niken, acsenic, crom, amiant…

2. Tổ chức học

Loại ung thư các xoang mặt phổ biến nhất là ung thư biểu mô lát (chiếm 80%), thường gặp thương tổn xuất phát từ niêm mạc bao phủ các xoang mặt và hốc mũi. Loại biểu mô của các niêm mạc trên là tế bào trụ có lông chuyển, ung thư­ xuất phát từ đó mang tính chất lát và do các xoang bị viêm nhiễm dẫn đến sự di sản tế bào lát và mang tính chất thật sự trạng thái tiền ung thư­. Loại ung thư­ biểu mô này nói chung hay gặp là hình thái một ung thư­ biểu mô dạng bì và ít khi có cầu sừng.

Còn loại ung thư­ liên kết (sacoma) thì ít gặp hơn và có nhiều chủng loại hơn. Đó là: sacoma sụn, sacoma xư­ơng, sacoma xơ (fibrosarcome), sacoma tuỷ, sacoma lư­ỡi…

3. Triệu chứng ung thư các xoang mặt

Triệu chứng ở mũi: hay gặp nhất, biểu hiện ở tắc ngạt mũi một bên, chảy mũi nhày lẫn chảy mủ hay lẫn máu, chảy máu cam.

Triệu chứng ở mắt: đau vùng hố mắt, nhãn cầu, chảy n­ước mắt, viêm túi lệ.

Triệu chứng biến dạng: mắt bị đẩy lồi, má bị đẩy phồng, rễ mũi bị dãn rộng, mất rãnh mũi má, cứng hàm… tuỳ theo vị trí và độ lan rộng của khối u.

Triệu chứng thần kinh: đau đầu, đau vùng trán mũi, tê bì vùng da mặt, mất khứu giác, giảm thị lực, mù…

Triệu chứng hạch cổ: thư­ờng xuất hiện ở giai đoạn muộn.

4. Phân loại ung thư các xoang mặt

Nhiều tác giả và các y văn trên thế giới đều dựa trên cơ sở giải phẫu, phôi thai học chia làm 3 loại:

Ung thư thượng tầng cấu trúc,

Ung thư trung tầng cấu trúc,

Ung thư hạ tầng cấu trúc.

5. Điều trị ung thư các xoang mặt

Điều trị bằng phẫu thuật:

Lựa chọn phương pháp phẫu thuật lệ thuộc vào vị trí lan rộng của ung thư. Với vùng thượng tầng kiến trúc, khi u chưa quá lan rộng có thể cắt một phần xương hàm trên, một phần thành dưới và thành trong hốc mắt cùng với xương chính của mũi bên bệnh. Với u vùng trung tầng: phần lớn bệnh nhân đến ở giai đoạn muộn nên nhiều tác giả chủ động cắt bỏ toàn bộ xương hàm trên. Còn đối với u hạ tầng kiến trúc căn cứ vào bệnh tích cụ thể mà tiến hành phẫu thuật bảo tồn (cắt một phần xương hàm trên).

Điều trị bằng tia xạ:

Là sự phối hợp quan trọng, có thể dùng hai cách: thông thường là tia xạ qua da Co 60 , lượng tia hàng ngày và tổng liều cũng giống như ung thư khác của vùng đầu mặt cổ, thờng 2Gy/ngày, mỗi tuần từ 1012Gy (trong 45tuần). Một số tác giả chủ trương đặt áp nguồn tia xạ vào ngay hố mổ, thường dùng nguồn Co 60 hay radium, gần đây nhiều người sử dụng indium 192 vì kinh nghiện cho thấy radium hay gây hoại tử xoang và nhiều biến chứng nặng.

Điều trị bằng hoá chất:

Hoá chất có thể sử dụng qua đường tĩnh mạch hoặc động mạch. Các hoá chất hay dùng là 5Fu, Bléomycin, Méthotrexate. Việc điều trị hoá chất trong điều trị phối hợp ung thư mũi xoang được trường phái Nhật bản hết sức quan tâm.

6. Kết quả điều trị

20 năm trước đây khi nói đến ung thư vùng mũi xoang nhất là khi khối u đã lan quá một vùng giải phẫu (quá một xoang) thì kết quả điều trị nói chung là xấu, hơn nữa phẫu thuật cắt bỏ xương hàm trên gây nhiều biến chứng và di chứng cho người bệnh nên tiên lượng xấu. Gần đây, nhiều tác giả đã có những nhận xét khả quan hơn do sự phối hợp điều trị giữa phẫu thuật, tia xạ và hoá chất.

Nếu điều trị bằng tia xạ đơn thuần : kết quả rất kém, theo Lederman trên 55 bệnh nhân ung th biểu mô xoang sàng thì chỉ có 5% sống quá 5 năm. Nhng theo Errington (1985), điều trị 43 bệnh nhân bị ung th vùng mũi xoang đã lan rộng (85% là T4) bằng neutron với năng lượng yếu (7,5 MeV) cho 17 bệnh nhân ung thư dạng biểu bì, 11 u trụ, 8 ung thư tuyến, 5 ung thư biểu mô chuyển tiếp, 1 ung thư biểu mô không biệt hoá và 1 u hắc tố ác tính thì kết quả kéo dài tuổi thọ 3 năm là 47% và 72%, còn sau 5 năm là 30% và 55%.Tác giả nhận xét rằng sở dĩ đạt được kết quả trên là do tính chất tổ chức học của u, do tác dụng của neutron so với photon với các tế bào thiếu oxy.

Nếu điều trị bằng phẫu thuật đơn thuần thì chỉ nên áp dụng đối với các khối u còn bé, cha lan ra vùng xoang hoặc các tổ chức lân cận. Kết quả tốt nhất là đối với loại ung thư biểu mô của hạ tầng cấu trúc, từ 3050% có thể sống hơn 5 năm.

Điều trị phối hợp: Nếu phối hợp điều trị phẫu thuật với tia xạ thì rõ ràng là kết quả đạt cao nhất so với hai phương pháp trên. Vấn đề là tia xạ trước hay phẫu thuật trước. Nhiều báo cáo cho thấy kết quả của tia trước hay phẫu thuật trước đều không khác nhau mấy. Lập luận của trường phái tia xạ trước là cốt làm bé lại khối u, nhất là tiêu diệt các bệnh ung thư rất bé ở rải rác xung quanh tổn thương chính mà mắt thường không thấy được và có thể lan toả ra xa trong khi phẫu thuật. Trường phái tia xạ sau khi mổ nhấn mạnh tính chất kháng tia của khối u đã lan vào xương, ngoài ra còn nhận xét rằng mổ trước thì vết mổ sẽ liền tốt hơn. Phối hợp tia xạ sau khi mổ là phương thức điều trị phổ biến.

Phối hợp phẫu thuật với tia xạ đối với ung thư biểu mô vùng mũi xoang nói chung có thể đạt kết quả sống trên 3 năm khoảng 55% và sau 5 năm khoảng 48% (viện Gustave Roussy ở Pháp năm 1990). Gần đây, nhiều tác giả Nhật bản (Yamashta, Sato, Sakai, Shibuya và cộng sự) đã có nhiều báo cáo nói rõ kết quả của việc sử dụng hoá chất (dùng một chất hay nhiều chất) phối hợp phẫu thuật và tia xạ đã nâng cao hiệu quả điều trị cũng như tránh được một phẫu thuật quá rộng (thay thế một phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ xương hàm trên bằng một phẫu thuật cắt bỏ một phần xương hàm) những kết quả này đang còn trong giai đoạn thực nghiệm và có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên việc sử dụng hoá chất được áp dụng rộng rãi ở nhiều nớc trong lĩnh vực này.