Ung Thư Xoang Biểu Mô Dạng Hiếm / 2023 / Top 16 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thư Biểu Mô Thận Dạng Nhú Di Truyền / 2023

HPRC được di truyền như thế nào?

Thông thường, mỗi tế bào có 2 bản sao của một gen: 1 được thừa hưởng từ mẹ và 1 được thừa hưởng từ cha. HPRC tuân theo quy luật di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, trong đó đột biến chỉ cần xảy ra trong 1 bản sao của gen thì đã có nguy cơ mắc bệnh. Điều này có nghĩa là cha hoặc mẹ có đột biến gen có thể truyền lại một bản sao của gen bình thường hoặc một bản sao của gen có đột biến. Do đó, một đứa trẻ có cha hoặc mẹ bị đột biến có 50% khả năng thừa hưởng đột biến này. Anh, chị, em, cha hoặc mẹ của người bị đột biến cũng có 50% khả năng có đột biến tương tự.

Đối với những người mang đột biến gen làm tăng nguy cơ mắc ung thư di truyền nhưng vẫn mong muốn có con hoàn toàn khỏe mạnh thì vẫn có một số lựa chọn. Chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGD) là một thủ thuật y khoa được thực hiện kết hợp với thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Phương pháp này cho phép những người mang đột biến gen giảm bớt khả năng con cái sẽ thừa hưởng bệnh lý này. Trứng của một người phụ nữ được lấy ra và thụ tinh trong phòng thí nghiệm. Khi phôi đạt đến một kích thước nhất định, 1 tế bào sẽ được tách ra kiểm tra tình trạng di truyền về gen đột biến. Sau đó, cha mẹ có thể chọn chuyển phôi không mang đột biến. PGD ​​đã được áp dụng trong hơn 2 thập kỷ, đặc biệt cho một số hội chứng có thể gây ung thư di truyền. Tuy nhiên, đây là một thủ thuật phức tạp với nhiều yếu tố cần phải xem xét như tài chính và sức khỏe về cả thể chất lẫn tinh thần. Để biết thêm thông tin, hãy tham vấn với bác sỹ chuyên khoa hỗ trợ sinh sản.

HPRC là một bệnh hiếm gặp. Số lượng người và gia đình mắc HPRC chưa được xác định chính xác.

HPRC được chẩn đoán như thế nào?

Cần nghĩ đến HPRC khi nhiều thành viên trong gia đình bị ung thư tế bào thận dạng nhú loại 1 hoặc ung thư tế bào thận đa ổ loại 1 hai bên. Xét nghiệm di truyền để tìm kiếm đột biến gen MET cần được thực hiện cho những người nghi ngờ có HPRC.

Nguy cơ cụ thể đối với ung thư tế bào thận dạng nhú loại 1 ở những gia đình có người mắc HPRC là cao và hầu hết những người bị mắc bệnh sẽ hình thành khối u trong suốt cuộc đời của họ. Nếu được chẩn đoán ung thư thận, bạn cần trao đổi với bác sĩ về các lựa chọn điều trị. Hiện nay, phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị khối u cục bộ ở những người bị HPRC. Một loại thuốc tên là Foretinib cho thấy bằng chứng hiệu quả trong một nghiên cứu nhỏ nhưng hiện tại chưa được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ chấp thuận. Các loại thuốc khác trong lĩnh vực này cũng đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng.

Phương tiện tầm soát HPRC?

Không có hướng dẫn sàng lọc cụ thể cho những gia đình nghi ngờ có HPRC. Các thành viên trong những gia đình này được khuyến khích tham vấn bác sĩ về lựa chọn thích hợp tầm soát ung thư thận, bao gồm:

Chụp cắt lớp vi tính (CT hoặc CAT), sử dụng tia X để tạo ra hình ảnh 3 chiều bên trong cơ thể. Sau đó, một máy tính kết hợp những hình ảnh này thành lát cắt ngang chi tiết cho thấy những điểm bất thường hoặc khối u.

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), sử dụng từ trường thay vì tia X, để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể. Một số bác sĩ đề nghị rằng những cá nhân có HPRC, hoặc tiền căn gia đình gợi ý HPRC, nên được kiểm tra hàng năm bắt đầu ở tuổi 30 hoặc sớm hơn.

Siêu âm ngoài CT và/hoặc MRI. Siêu âm sử dụng sóng âm thanh để tạo ra hình ảnh của các cơ quan bên trong.

Các phương tiện sàng lọc có thể thay đổi theo thời gian khi các công nghệ mới được phát triển và nhiều kiến thức mới về HPRC được cập nhật. Điều quan trọng là tham vấn ý kiến bác sỹ về các xét nghiệm tầm soát phù hợp.

Tìm hiểu thêm về Những kết quả mong đợi khi thực hiện xét nghiệm, thủ thuật và hình ảnh học thông thường.

Bạn cần hỏi bác sỹ những gì?

Nếu bạn lo lắng về nguy cơ ung thư thận, hãy nói chuyện với các nhân viên y tế. Bạn có thể hỏi những câu hỏi sau

Nguy cơ ung thư thận của tôi như thế nào?

Tôi có thể làm gì để giảm nguy cơ ung thư?

Tôi có thể lựa chọn những phương tiện nào để tầm soát ung thư?

Nếu bạn lo lắng về tiền căn gia đình và nghĩ rằng bạn hoặc các thành viên khác trong gia đình có thể có HPRC, bạn có thể hỏi những câu hỏi sau :

Tiền căn gia đình có làm tăng nguy cơ xuất hiện ung thư thận của tôi hay không?

Tôi có cần tham vấn chuyên gia di truyền hay không?

Tôi có cần thực hiện các xét nghiệm di truyền?

Di truyền học của ung thư Những gì mong đợi khi bạn gặp một cố vấn di truyền Thu thập tiền sử ung thư gia đình bạn Chia sẻ kết quả xét nghiệm di truyền với gia đình bạn Viện ung thư quốc gia Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ

Để tìm một cố vấn di truyền trong khu vực của bạn, hãy tham vấn bác sĩ của bạn hoặc truy cập các trang web sau:

Hiệp hội cố vấn di truyền quốc gia https://www.cancer.net/cancer-types/hereditary-papillary-renal-carcinoma

Ung Thư Trung Biểu Mô Màng Phổi: Hiếm Gặp Nhưng Nguy Hiểm / 2023

Mỗi năm, có khoảng 2.500 người được chẩn đoán mắc bệnh.

Các triệu chứng của ung thư thường bao gồm khó thở, đau ngực, ho khan và mệt mỏi.

Chẩn đoán thường bao gồm nhiều xét nghiệm, trong đó có chụp phim và sinh thiết.

U trung biểu mô thường được điều trị bằng hóa trị, phẫu thuật, xạ trị và liệu pháp miễn dịch.

Tiên lượng bệnh nhân sẽ thay đổi tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nhìn chung, tuổi thọ trung bình từ sáu đến mười hai tháng sau khi chẩn đoán.

Giống như tất cả các loại u trung biểu mô ác tính, tiên lượng cho u trung biểu mô màng phổi là xấu. Đối với những bệnh nhân không được điều trị, thời gian sống trung bình là sáu tháng.

Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh nhân ung thư trung biểu mô màng phổi ác tính là:

Tuy nhiên, một số phương pháp điều trị có thể cải thiện tuổi thọ, ví dụ như phẫu thuật kết hợp với hóa trị. Theo dữ liệu gần đây, trong thập kỷ qua, bệnh nhân ung thư trung biểu mô ác tính đã sống sót lâu hơn khi được áp dụng các phương pháp điều trị hiện đại. Một số bệnh nhân có thể kéo dài thời gian sống sau khi chẩn đoán. Một bệnh nhân được chẩn đoán mắc u trung biểu mô màng phổi vào năm 2005 với tiên lượng sống ban đầu là 15 tháng. Sau khi điều trị, bệnh nhân đã sống sót sau hơn 10 năm.

3. Triệu chứng của u trung biểu mô màng phổi

Chẩn đoán u trung biểu mô màng phổi thường bao gồm nhiều xét nghiệm.

Một hoặc nhiều lần chụp phim, có thể là X-quang hoặc CT. Được thực hiện đầu tiên để xác định khối u hoặc di căn.

Nếu một khối u được phát hiện, các xét nghiệm máu có thể được thực hiện để tìm một số dấu ấn sinh học. Các dấu ấn sinh học có thể giúp phân biệt ung thư trung biểu mô với các tình trạng khác

Hiện nay, sinh thiết là cách duy nhất để chẩn đoán xác định u trung biểu mô màng phổi ác tính. Nội soi lồng ngực có thể được thực hiện để lấy mẫu mô hoặc dịch để phân tích. Sau khi sinh thiết, nhà giải phẫu bệnh học sẽ đọc để đưa ra chẩn đoán xác định, bao gồm loại tế bào và giai đoạn bệnh.

5. Phân giai đoạn ung thư và tiên lượng theo giai đoạn

Khi phân giai đoạn khối u, các bác sĩ sẽ dựa vào kích thước của khối u và u xâm lấn các mô, cơ quan lân cận. Ngoài ra, phân giai đoạn còn phải dựa vào hạch bạch huyết và di căn xa.

Sau khi giai đoạn được xác định, bác sĩ sẽ lập kế hoạch điều trị hiệu quả cho từng trường hợp cụ thể.

6. Phương pháp điều trị u biểu mô màng phổi

U trung biểu mô màng phổi thường được điều trị bằng phương pháp đa phương thức. Điều trị kết hợp các phương pháp như phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Điều trị sẽ chủ yếu phụ thuộc vào loại tế bào và giai đoạn bệnh. Nói chung, kế hoạch điều trị không nhằm mục đích chữa bệnh.

Một lựa chọn khác là phẫu thuật cắt phổi – màng phổi. Thủ tục tích cực hơn bao gồm loại bỏ phổi bị ảnh hưởng, một phần của cơ hoành và màng ngoài của tim và phổi. Các báo cáo cho thấy những ca phẫu thuật này có thể kéo dài tuổi thọ đến ba năm hoặc lâu hơn, đặc biệt là khi kết hợpvới hóa trị và/hoặc xạ trị.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Các Dạng Biến Đổi Của Thụ Thể Yếu Tố Tăng Trưởng Biểu Mô (Egfr) Trong Ung Thư / 2023

Các dạng biến đổi của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR) trong ung thư

GS.TS. Mai Trọng Khoa, chúng tôi Trần Đình Hà, TS. Phạm Cẩm Phương, TS. Nguyễn Tiến Lung, TS. Nguyễn Thuận Lợi, TS. Nguyễn Huy Bình, ThS. Ngô Thị Thu Hiền, BS. Nguyễn Tuấn Anh

Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô (Epidermal Growth Factor Receptor – EGFR) là thụ thể trên bề mặt tế bào tiếp nhận tín hiệu từ các yếu tố tăng trưởng để kích thích tế bào sinh trưởng, phân chia, biệt hóa,…

1. Cấu trúc và chức năng của EGFR

EGFR là thành viên của họ thụ thể ErbB (Erythroblastic B), bao gồm 4 thành viên: EGFR (ErbB-1), HER2/neu (ErbB-2), HER3 (ErbB-3) và HER4 (ErbB-4). Protein EGFR gồm 1210 axit amin, có cấu trúc gồm 3 vùng: vùng ngoại bào chứa miền tương tác với yếu tố tăng trưởng, vùng xuyên màng và vùng nội bào chứa miền kinase có thể phosphoryl hóa tyrosine của protein (nên được gọi là thụ thể tyrosine kinase). Khi yếu tố tăng trưởng biểu mô liên kết vào thụ thể, hai phân tử EGFR kết hợp với nhau (dimer hóa), từ đó tự phosphoryl hóa vùng tyrosine kinase, giúp EGFR kết hợp được với các phân tử tín hiệu ở giai đoạn sau của con đường tín hiệu (Hình 1). Tín hiệu từ EGFR có thể được truyền qua con đường Ras/Raf/MEK/ERK hoặc PI3K/AKT/mTOR vào nhân để điều khiển tế bào tăng trưởng, biệt hóa, phân chia, tăng sinh mạch máu, tránh sự tự chết theo chương trình (apoptosis),…

Hình 2. Các dạng đột biến gen EGFR

(A) Đột biến trên exon 18-21 khiến miền tyrosine kinase có khả năng tự hoạt hóa và phát ra tín hiệu nội bào; (B) Đột biến trên exon 2-7 làm vùng ngoại bào mất khả năng liên kết với yếu tố tăng trưởng.

3. Điều trị ung thư bằng các thuốc hướng đích EGFR

Các thuốc điều trị đích EGFR

Các thuốc điều trị đích EGFR gồm 2 nhóm: kháng thể đơn dòng kháng EGFR và phân tử nhỏ ức chế vùng tyrosine kinase (tyrosine kinase inhibitor – TKI) của EGFR.

Các kháng thể đơn dòng kháng EGFR có khả năng liên kết chặt chẽ với thụ thể, khiến yếu tố tăng trưởng không tiếp cận được với thụ thể (Hình 3A). Những thuốc này được chỉ định trong trường hợp có sự biểu hiện quá mức EGFR trên bề mặt tế bào. Một số thuốc thuộc nhóm này như Cetuximab (điều trị ung thư đại trực tràng, ung thư vùng đầu – cổ), Panitumumab (ung thư đại trực tràng), Nimotuzumab (ung thư vùng đầu – cổ, u nguyên bào thần kinh đệm, ung thư tụy).

Ung Thư Biểu Mô Khoang Miệng / 2023

Ung thư biểu mô khoang miệng là một trong những ung thư biểu mô đường hô hấp, tiêu hoá trên.

Khoang miệng bao gồm: Lưỡi di động, sàn miệng, lợi hàm dưới, lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng, niêm mạc má trong, khe liên hàm, môi dưới, môi trên và mép.

CHẨN ĐOÁN

Triệu chứng

Khi các triệu chứng lâm sàng biểu hiện thì thường là khối u đã xâm lấn rộng và đôi khi đã là giai đoạn muộn.

Các triệu chứng có thể là

Cảm giác vướng trong miệng.

Tăng tiết nước bọt đôi khi có máu.

Nói khó.

Nuốt đau.

Đau lan lên tai (cảm giác).

Đôi khi được phát hiện sớm bải đi khám bệnh thường kỳ, hoặc bởi thầy thuốc răng hàm mặt khi bệnh nhân đi chữa răng… hoặc sờ thấy hạch dưới cằm hoặc cổ.

Nuốt đau nhói lên tai.

Nói khó khăn.

Khạc ra đờm nhầy, có lẫn máu thường là có mùi hôi thối.

1/3 các trường hợp đến khám vì có hạch cổ, mà chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ rệt.

Các dấu hiệu tổn thương tại chỗ

Các hình thái có thể gặp: Nụ sùi hoặc loét hoặc vừa sùi vừa loét bờ nham nhở, sờ vào bệnh nhân đau và vướng, u không có ranh giới rõ ràng, cứng, dễ chảy máu.

Khi khám cần phải đánh giá:

+ Mức độ xâm lấn vào đường giữa, vào trong hay ra phía trước.

+ Mức độ xâm lấn vào lưỡi di động.

+ Mức độ xâm lấn vào phần lưỡi cố định.

+ Mức độ xâm lấn vào xương hàm phía trước, và xâm nhiễm ra da.

Sinh thiết rất cần cho chẩn đoán: Gây tê, nếu khó khăn phải phải gây mê để sinh thiết, nhất là những trường hợp u thâm nhiễm hoặc khi u ở sâu.

Khám tai mũi họng

Phát hiện tổn thương phối hợp, có thể khám bằng gương soi gián tiếp, nếu cần thiết thì nội soi để phát hiện.

Khám hệ hạch

Sờ nắn hệ thống hạch cổ, hạch dưới hàm, hạch dưới cằm. Khám cả hai bên cổ phát hiện hạch sờ thấy và ghi nhận các vị trí hạch.

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp Xquang thông thường: hay được dùng để phát hiện tổn thương xâm lấn xương, hay xâm lấn sâu.

Chụp phim cắt lớp hay cộng hưởng từ: Để phát hiện những khối u xâm lấn vào các cơ lưỡi hoặc ở các vị trí khó khám bằng lâm sàng.

Khám toàn thân

Phát hiên di căn, các ung thư phổi họp hoặc với các bệnh khác, đánh giá khả năng điều trị tuy theo từng bệnh nhân.

Khám răng hàm mặt

Nhằm đặt ra khả năng làm hàm giả hoặc tạo hình trong hoặc sau phẫu thuật rộng.

Đánh giá mức độ tiến triển: Theo TNM (IUCC-2002)

Khối II nguyên phát (T)

Tx: Không đánh giá được u nguyên phát bằng lâm sàng

To: Không có u nguyên phát

Tis: Ung thư tại chỗ

T1: Đường kính < 2cm

T2: Đường kính 2cm <u < 4cm

T 4: u xâm lấn sâu vào xương da hoặc cơ

T 4j Môi: u đã xâm lấn qua màng xương, dây thần kinh răng dưới, sàn miệng

hoặc da (cằm hoặc mũi).

T 4a Khoang miệng: Khối u xâm lấn qua màng xương, vào lớp cơ sâu ngoài của lưỡi (cơ cằm lưỡi, cơ dưới lưỡi, cơ vòm miệng và cơ trâm lưỡi, xoang hàm hoặc da mặt)

T 4b: Môi và khoang miệng: Khối u xâm lấn cơ nhai, các xương bướm hoặc nền sọ hoặc bao bọc động mạch cảnh trong.

Hạch vùng (N)

Nx: Khổng đánh giá chính xác được sự di căn hạch.

No: Không có hạch di căn

N1: 1 hạch duy nhất cùng bên đường kính < 3cm

N 2b: Nhiều hạch cùng bên đường kính < 6cm

N 2c: Hạch 2 bên hoặc đối bên đường kính < 6cm

Chú ý: Hạch ở giữa được coi như là hạch cùng bên

Di căn xa (M)

Mx: Không đánh giá chính xác được sự di căn xa

Mo: Chưa di căn xa

M1: Có di căn xa

Xếp loại giai đoạn:

ĐIỀU TRỊ

Điều trị ung thư biểu mô khoang miệng bao gồm điều trị hệ thống hạch cổ và khối u nguyên phát.

Thái độ và nguyên tắc chung

Điều trị hệ thống hạch cổ là một yếu tố quan trọng trong việc tiên lượng quá trình tiến triển của ung thư biểu mô khoang miệng nói riêng và ung thư biểu mô đường hô hấp. tiêu hoá nói chung. Thái độ điều trị phụ thuộc vào 2 yếu tố:

Trường hợp sờ thấy hạch trên lâm sàng: Đánh giá tính chất và sự tiến triển của hạch.

Trường hợp không sờ thấy hạch trên làm sàng: Người ta có thể dự tính được vùng hạch thường hay bị xâm lấn dựa vào vị trí của khối u nguyên phát hoặc bằng các phương pháp cận lâm sàng như: Chụp cắt lớp TDM, IRM hay qua siêu âm.

Về nguyên tắc điều trị, phải xử lý hệ thống hạch cùng với khối u nguyên phát. Tuy nhiên cũng có 1 số trường hợp ngoại lệ: ví dụ ung thư khoang miệng điều trị bằng Curie liệu pháp.

Quyết định điều trị sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Loại mô bệnh học của tổn thương nguyên phát: 75-80% các trường hợp carcinoma ít hoặc không biệt hoá cho di căn hạch.

+ Vị trí của u nguyên phát:

Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát được xạ trị, tuỳ tình huống có thể kèm theo phẫu thuật lấy hạch còn lại sau hai tháng xạ trị.

Trường hợp tổn thương nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật: Hệ thống hach sẽ được vét hạch rộng hoặc vét hạch chọn lọc tuỳ theo kích thước của u nguyên phát và sự xâm lấn hạch được phát hiện trên lâm sàng.

Điều trị những trường hợp đặc biệt:

Với những tổn thương nguyên phát: Đã được điều trị bằng Curie liệu pháp thì hệ thống hạch sẽ được điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật lấy hạch còn lại được thực hiện hai hoặc ba tháng sau khi xạ trị. Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát đã được điều trị khỏi người ta sẽ thực hiện lấy hạch ở vùng xâm lấn ban đầu. Nếu hạch N3 người ta sẽ vét hạch rộng tùy theo sự xâm lấn hạch lúc ban đầu.

Phẫu thuật tái tạo được chỉ định trong các trường hợp:

+ Phẫu thuật lớn lấy bỏ các u nguyên phát có kèm theo xử lý hạch hoặc không xử lý hạch.

+ Các di chứng có hốc hoặc không có hốc trong khoang miệng, đường hô hấp trên do việc cắt bỏ các vùng bị khối u xâm lấn rộng quá trình xạ trị hoặc phẫu thuật. Những trường hợp đó người ta đã áp dụng phương pháp phẫu thuật tạo hình quay vạt da cơ hoặc làm phương pháp tiến bộ hơn là: Vạt da cơ có mạch máu nuôi.

Phẫu thuật sau hóa trị: Trong các trường hợp u có kích thước lớn, phát triển nhanh mà không có thể phẫu thuật rộng ngay được, người ta dùng hoá trị toàn thân hay hoá trị động mạch nhằm giảm thể tích và sự phát triển của khối u. Sau đó người ta tiến hành phẫu thuật cắt bỏ rộng u còn lại sau khi hóa trị.

Chống chí định vét hạch trong các trường hợp sau:

+ Có hạch trong khi u đang tiến triển nhanh: Có thể xạ trị hoặc hoá trị trước, sau đó đánh giá khả năng phẫu thuật.

+ Hạch không thể phẫu thuật được do xâm lấn tại chỗ: (ví dụ: hạch N3 cố định vào phía sâu). Trường hợp này sẽ được xạ trị phối hợp với hoá trị.

Tóm lại:

Điều trị phẫu thuật chiếm một vị trí quan trọng trong điều trị hệ thống hạch vùng cổ.

Kỹ thuật vét hạch cổ bảo tổn ngày càng được áp dụng rộng rãi do đưa ra được hiệu quả tương đương như vét hạch cổ cổ điển mà tỷ lệ di chứng lại rất thấp.

Với phương thức xạ trị hậu phẫu thì tuỳ theo tính chất xâm lấn của hạch. Nếu sau vét hạch có N(+) nên xạ trị hậu phẫu vào vùng hạch.

Điều trị hạch cổ

Phẫu thuật vét hạch cổ

Từ trước tới nay, phẫu thuật vét hạch cổ được xác định là lấy bỏ toàn bộ hệ thống hạch cổ cùng với mạng mạch bạch huyết, tổ chức mỡ và cân vùng cổ. Tuy nhiên hiện nay người ta cố gắng định khu giải phẫu vùng hạch, nhằm một mặt mô tả vùng hạch được chú ý để vét hạch, mặt khác cho phép kiểm tra được vùng hạch khác.

Có sáu vùng hạch được chia thành ô như sau:

I-Nhóm dưới cằm, dưới hàm.

II-Nhóm cảnh cao (bao gồm nhóm dưới cơ nhị thân và nhóm hạch gai trên).

Ilbis – Nhóm cạnh gai.

III – Nhóm cảnh giữa.

IV-Nhóm sau dưới (bao gồm các nhóm gai giữa, dưới và phần sau của nhóm hạch cổ ngang).

V-Nhóm trước cổ.

Dựa vào sự phân vùng hệ thống hạch, người ta đã vét hạch cổ với nhiều phương pháp tuỳ theo mục đích điều trị.

Bao gồm việc vét tất cả các nhóm hạch, cơ ức đòn chũm, cơ nhị thân hoặc bó sau của nó, tĩnh mạch cảnh trong, thần kinh gai và tuyến dưới hàm. Ngược lại, bảo vệ các thành phần sau: Động mạch cảnh, dây thần kinh phế vị, thần kinh giao cảm cố. thần kinh hoành, thần kinh dưới lưỡi, nhánh thần kinh cằm mặt.

Vét hạch triệt căn cài tiến (chức năng)

Là hạn chế một cách tối đa việc cắt bỏ tĩnh mạch cảnh trong, cơ ức đòn chũm và thần kinh gai.

Chi định này thu hẹp ớ những bệnh nhân có hạch bị xâm lấn trung bình.

Phương pháp này giữ lại một hoặc nhiều cấu trúc mà trong vét hạch triệt căn phá huý, đồng thời vẫn lấy được các vùng hạch.

Chỉ quan tâm đến việc vét một hoặc một vài nhóm hạch.

Lấy đi một vài nhóm hạch và được áp dụng trong trường hợp hạch có kích thước nhỏ hơn 2cm. Trường hợp này phải thực hiện sinh thiết tức thì. Nếu có xâm lấn hạch thì phải thực hiện phẫu thuật vét hạch cổ chức năng (biến đổi) ngay lập tức.

Xạ trị hậu phẫu

Xạ trị hậu phẫu được chỉ định tuỳ theo xét nghiệm mô bệnh học của hạch và quá trình thực hiện phẫu thuật vét hạch:

Nếu bệnh phẩm sau mổ cho thấy hạch xâm lấn và phá vỡ vỏ (N(+), R(+) thì xạ trị toàn cổ 50Gy và ưu tiên 15Gy trên vùng phá vỡ vỏ hạch.

Nếu trên bệnh phẩm sau mổ thấy hạch xâm lấn mà không phá vỡ vỏ N(+), R(-) thì xạ trị hậu phẫu được cân nhắc tuỳ theo số lượng hạch xâm lấn và kích thước vị trí của u nguyên phát.

Xạ trị hậu phẫu đối với những tổn thương có nguy cơ cao nếu nghi ngờ chưa cắt rộng được tổn thương.

Không xạ trị nếu ít hơn 3 hạch xâm lấn và những vùng tổn thương u nguyên phát ít có nguy cơ cho xâm lấn hạch (môi mép và vòm khẩu).

Điều trị ung thư biểu mô của lưỡi di động

Điều trị tổn thương của lưỡi

Tổn thương bề mặt (không xâm lấn cơ).

Nếu tổn thương rất khu trú thì Radium 65-75 Gy hoặc phẫu thuật.

Nếu tổn thương ít khu trú hơn (đặc biệt có loạn sản ở bên cạnh) thì phẫu thuật cắt một phần lưỡi.

Trường hợp khối u <6cm, chưa xâm lấn tới đường giữa, nếu có khả năng phẫu thuật thì:

+ Hoá trị (ưu tiên hóa chất động mạch). Sau đó cắt 1/2 lưỡi + xạ trị ngoài (hậu phẫu). Quyết định này được cân nhắc tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và giải phẫu bệnh.

+ Radium liệu pháp (được cân nhắc tuỳ theo sự lui bệnh sau hóa trị).

Trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật do bệnh toàn thân thì xạ trị trải liều cổ điển (50Gy) phối hợp với Radium liệu pháp 20-25Gy.

+ Hoá trị (ưu tiên hoá chất động mạch). Sau đó 1/2 lưỡi + xạ trị ngoài (hậu phẫu). Quyết định này được bàn luận tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và mô bệnh học.

+ Hoặc Radium liệu pháp (được cân nhắc tuỳ theo sự lui bệnh sau hóa trị).

Trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật do bệnh toàn thân thì:

+ Hoá trị: Ưu tiên hoá chất động mạch một hoặc 2 bên + cắt lưỡi và tạo hình bằng vạt da cơ + xạ trị hậu phẫu.

Điều trị hệ thống hạch cổ

Xem phần điều trị hạch.

Điều trị ung thư biểu mô vùng sàn miệng

Điêu trị tổn thương nguyên phát

Nếu tổn thương kém khu trú: Dùng phẫu thuật cắt bỏ vùng chậu sàn miệng hoặc chậu sàn miệng cằm (tuỳ theo việc có cắt xương hàm hay không mà quyết định tạo hình) + xạ trị hậu phẫu tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và giải phẫu bệnh của bệnh phẩm.

Nếu không có chỉ định phẫu thuật: thì xạ trị liều cao giống như phần lưỡi di động.

Điều trị hệ hạch cổ (Chung cho ung thư biểu mô của lưỡi + sàn miệng)

Không sờ thấy có hạch.

Trường hợp 1: Tổn thương nguyên phát được điều trị bằng curie liệu pháp.

+ Nếu tổn thương khu trú và trên bề mặt nhỏ hơn hoặc bằng lcm thì chỉ lấy u đơn thuần và theo dõi hạch.

+ Nếu tổn thương nguyên phát ở bên hoặc phía sau: vét hạch ở tam giác cố (nhóm I. II,III) cùng bên, bảo tồn các cơ quan vùng cổ đồng thời vét hạch ở tam giác đối bên nếu N(+) khi làm sinh thiết tức thì.

+ Nếu tổn thương ở giữa hoặc xung quanh đường giữa thì vét hạch đầy đủ vùng tam giác cổ 2 bên.

Trường hợp 2:

+ Tốn thương nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật.

+ Vét hạch cổ theo nguyên tắc được dự kiến tuỳ thuộc vào kích thước của u nguyên phát.

Trường hợp 3: Tổn thương nguyên phát được xạ trị + curie liệu pháp. Hệ thống hạch được xạ trị liều 50Gy”

Hạch sờ thấy :

Trường hợp 1:

+ Tổn thương nguyên phát được điều trị bằng curie liệu pháp.

+ Tổn thương ở bên và sau: vét hạch cổ chức năng ở tam giác cổ (Nhóm I,II,III) cùng bên và vét hạch cổ ở tam giác đối bên nếu N(+) khi sinh thiết tức thì.

+ Tổn thương ở giữa: Vét hạch ở tam giác cổ 2 bên tuỳ theo định khu của hạch và kết quả sinh thiết tức thì.

Trường hợp 2:

+ Tổn thương nguyên phát được xạ trị liều cao hoặc xạ trị + Curie liệu pháp. Trong trường hợp hạch còn lại, phẫu thuật lấy hạch 2-3 tháng sau khi xạ trị.

+ Không thể phẫu thuật được hạch thì phối hợp hoá trị và xạ trị hoặc xạ trị liều cao.

Xạ trị ngoài

Được thực hiện kết hợp với Curie liệu pháp liều cao ở khối u nguyên phát. Nếu N (+) xạ trị hệ hạch cổ 50Gy và tăng thêm trên những vùng hạch bị phá vỡ vỏ. Hoặc kết hợp với phẫu thuật (hoặc sau hoá trị):

T Phẫu thuật đủ và N(-): Không xạ trị.

T Phẫu thuật đủ và/hoặc N(+), R(-): Xạ trị 50Gy

T Phẫu thuật không đủ và/hoặc N(+) R(+): Xạ trị u 65Gy trên diện u và vùng vỡ vỏ hạch.

Phẫu thuật lấy hạch còn lại sau xạ trị 50Gy Không bổ xung xạ trị dự phòng.

Trong trường hợp vét hạch chọn lọc ở tam giác cổ, nếu có từ 1 đến 2 hạch bị xâm lấn nhưng chưa phá vỡ vỏ ở chặng hạch đầu tiên mà phẫu thuật đối với T đủ thì xạ trị hậu phẫu cần phải cân nhắc. Mặt khác nếu sự xâm lấn hạch 1 bên rất nhiều mà ở đối bên đã được kiểm tra bằng phẫu thuật thì chỉ xạ trị ở một bên cổ.

Điều trị ung thư biểu mô vùng lợi hàm

Khối u giới hạn ở bờ lợi, không có hoặc có xâm lấn xương ở mức độ ít (bong màng xương): Phẫu thuật giới hạn và bảo tồn một phần xương hàm (giữ lại khung xương).

Tổn thương có kèm theo tiêu huỷ xương: cắt đoạn xương hàm. Chỉ định có hoặc không xạ trị hậu phẫu tuỳ theo chất lượng phẫu thuật và sự xâm lấn hạch.

Khối u xâm lấn vào sàn miệng, lưỡi và má: Tham khảo với những tổn thương nguyên phát của những vùng này.

Chú ỷ: Trong những trường hợp chống chỉ định phẫu thuật thì xạ trị 70Gy.

Điều trị hệ hạch: Giống phần chung.

Ung thư biểu mô lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng

Điều trị tổn thương nguyên phát

Khối u đường kính <3cm: Phẫu thuật đơn thuần, không xạ trị hậu phẫu nếu phẫu thuật đủ và No.

Loại 1: Khối u phẫu thuật được (tiêu chuẩn toàn thân, tại chỗ, tại vùng).

+ Đối với u nguyên phát:

+ Thì 1: Hoá trị Cisplatinum, 5FU.

+ Thì 2: Phẫu thuật rộng hoặc phẫu thuật theo mức độ lui bệnh sau khi hoá trị.

+ Thì 3: Xạ trị hậu phẫu 65Gy trong vùng khối u và 50Gy trên chặng hạch đầu tiên.

Loại 2: Bệnh nhân không phẫu thuật được.

+ Hoá trị tại chỗ hoặc toàn thân sau đó đánh giá lại tổn thương + Nếu có thể được thì phẫu thuật và xạ trị hậu phẫu.

+ Nếu không chỉ xạ trị đơn thuần vùng u nguyên phát và hệ hạch.

+ Tuỳ tình huống có thể phối hợp xạ trị và hoá trị.

+ Nếu có chống chỉ định hoá trị, điều trị xạ trị liều cao nhưng chia nhỏ liều.

No: Xạ trị trên chặng đầu tiên của hạch.

N(+): Phẫu thuật lấy hạch hoặc vét hạch tuỳ theo mức độ hạch có trên lâm sàng. Sau đó có thể xạ trị hậu phẫu nếu N(+), R(+).

Điều trị ung thư biểu mô khe liên hàm

Điều trị tổn thương u nguyên phát

Khối u có thể phẫu thuật được: Phẫu thuật cắt bỏ miệng – họng – xương hàm + xạ trị hậu phẫu.

Khối u không thể phẫu thuật được do:

+ Khối u lan ra các bộ phận quan trọng.

+ Hoặc tính chất lan toả không có giới hạn.

+ Hoặc bệnh nhân từ chối.

+ Hoặc bệnh toàn thân không phẫu thuật được.

Tia xạ 70Gy trải liều bình thường hoặc phối hợp hóa trị và xạ trị.

Điều trị hệ hạch (Giống như phần điều trị hệ hạch cổ chung)

Điều trị ung thư biểu mô niêm mạc má phía trong

Điều trị tổn thương nguyên phát

Khối u đường kính <5cm, không xâm lấn vào lợi, không xâm lấn vào khe liên hàm: Phẫu thuật lấy u + tạo hình + xạ trị hậu phẫu (tuỳ theo bệnh phám sau mổ). ,

+ Có thể phẫu thuật được.

. Hoá trị động mạch.

. Phẫu thuật lấy u có thể tạo hình hoặc không.

. Xạ trị hậu phẫu tuỳ theo chất lượng phẫu thuật.

+ Không phẫu thuật được: Xạ trị đơn thuần 70Gy trải liều cổ điển.

Điều trị hệ hạch(Giống phần điều trị hạch cổ phần chung)

Điều trị ung thư biểu mô môi dưới

Khối u không có xâm lấn vào lợi và xương: Phẫu thuật lấy u + tạo hình. Khối u có xâm lấn vào lợi và xương

+ Có thể phẫu thuật được: Điều trị hoá chất (ưu tiên hoá chất động mạch) sau đó phẫu thuật rộng và tạo hình.

+ Không có khả năng phẫu thuật: xạ trị liều cao.

No:

+ Nếu xạ trị khối u: Cần phải phẫu thuật hạch khi điều kiện theo dõi bệnh nhân khó khăn hoặc tổn thương 2-4cm có kèm theo sự xâm lấn vào phần môi ướt hoặc u có đường kính 4-6cm.

+ Nếu khối u nguyên phát điều trị bằng phẫu thuật: Vét hạch cổ toàn bộ 2 bên tuỳ theo mức độ xâm lấn của hạch (thông qua kết quả sinh thiết tức thì hạch) + xạ trị hậu phẫu nếu N(+).

Hạch sờ thấy được:

+ Phẫu thuật vét hạch rộng 2 bên có bảo tổn hoặc không.

+ Tuỳ thuộc vào sự xâm lấn cấu trúc hạch và mô bệnh học.

+ Xạ trị hậu phẫu tuỳ thuộc vào đánh giá mô bệnh học sau mổ.

Điều trị ung thư biểu mô môi trên

Khối u có kích thước đường kính <5cm(Giống như môi dưới)

Khối u có kích thước lớn, có phá huỷ cấu trúc

Hóa trị: Ưu tiên hoá chất động mạch sau đó phẫu thuật rộng và tạo hình.

– Xử lý hạch:

+ Hạch không sờ thấy: Không cần xử lý, chỉ cần theo dõi.

+ Hạch sờ thấy: Vét hạch cùng bên hoặc 2 bên nếu sinh thiết tức thì (+).

Điều trị ung thư vùng mép

+ Hóa trị (ưu tiên hoá chất động mạch).

+ Điều trị phối hợp đa hoá chất:

. Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m 2.

. 5 ngày tiếp theo: 5FU 1000mg/m 2/ngày.

+ Điều trị đơn hoá chất: 5FƯ 1000mg/m 2/ngày (7 ngày).

+ Xạ trị ngoài 70Gy hoặc xạ trị ngoài 50Gy .

+ Curie liệu pháp 25-35Gy.

Điều trị hệ hạch (Giống như của môi)

Tóm lại: Điều trị ung thư khoang miệng

Đối với khối u:

+ u nhỏ: Phẫu thuật đơn thuần.

+ u rất lớn không thể phẫu thuật được: Xạ trị đơn thuần hoặc hoá trị động mạch kết hợp với xạ trị.

Đối với hệ hạch:

+ Không phát hiện được hạch di căn: Theo dõi sát.

+ Phát hiện được hạch di căn: Vét hạch theo nhóm. Xạ trị hậu phẫu hệ hạch khi có hơn 3 hạch (+) hoặc hạch đã phá vỡ vỏ.

Hóa trị động mạch:

Điều trị phối hợp đa hoá trị:

+ Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m 2.

+ 5 ngày tiếp theo: 5FU 1000mg/m 2/ ngày.

Điều trị đơn hoá chất: 5 FU 1000mg/m 2/ngày X 7 ngày