Ung Thư Xoang Biểu Mô / 2023 / Top 15 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thư Biểu Mô Là Gì? Các Loại Ung Thư Biểu Mô / 2023

Ung thư biểu mô là gì? Ung thư biểu mô là tên gọi chung của các bệnh ung thư bắt đầu trong các tế bào biểu mô. Những tế bào này tạo thành mô lót các bề mặt bên trong và bên ngoài cơ thể bạn.

Điều này có nghĩa là, ung thư có thể xảy ra ở bề mặt ngoài da, các cơ quan nội tạng, bên trong các cơ quan rỗng, đường tiêu hóa và ngay cả trong mạch máu. Ung thư biểu mô là loại ung thư phổ biến, được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên tế bào mà chúng bắt đầu.

– K biểu mô tế bào đáy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp sâu nhất của biểu mô, được gọi là tế bào cơ bản.

– K biểu mô tế bào vảy: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào ở lớp trên cùng của biểu mô gọi là tế bào vảy.

– K biểu mô tế bào chuyển tiếp: Loại ung thư này phát triển trong các tế bào co giãn trong biểu mô đường tiết niệu.

– K tế bào thận: Ung thư phát triển trong các tế bào biểu mô của hệ thống lọc của thận.

– K biểu mô tuyến: Bắt đầu trong các tế bào biểu mô chuyên biệt, được gọi là tế bào tuyến.

– Sarcoma (Ung thư mô liên kết): Ung thư này khác với K biểu mô vì chúng bắt đầu trong các tế bào trong gân, xương, sụn, và mô liên kết. Sarcoma xảy ra ít xảy ra hơn so với ung thư biểu mô

Các Loại Ung Thư Biểu Mô Phổ Biến Nhất

Nhiều loại ung thư biểu mô khác nhau có thể phát triển trong cùng một cơ quan. Do đó thay vì phân loại ung thư theo cơ quan nội tạng, người ta phân loại theo nhóm:

Ung thư biểu mô tế bào đáy

Ung thư chỉ xảy ra trong da. Theo Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, khoảng 80% tất cả các bệnh ung thư da phát triển khối u ác tính là ung thư biểu mô tế bào đáy. Loại ung thư này rất chậm phát triển và hầu như không lây lan.

Ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC)

Thông thường, ung thư biểu mô tế bào vảy đề cập đến ung thư da nhiều hơn, nhưng nó cũng thường ảnh hưởng đến các bộ phận khác như:

– Da: Ung thư thường phát triển chậm và không lan rộng. Tuy nhiên, sự xâm lấn và di căn cục bộ xảy ra thường xuyên hơn so với ung thư biểu mô tế bào đáy.

– Phổi: Ung thư tế bào vảy đại diện khoảng 25% tất cả các bệnh ung thư phổi.

– Thực quản. Hầu hết các bệnh ung thư ở thực quản trên biểu mô tế bào vảy.

– Đầu và cổ. Hơn 90% bệnh ung thư ở miệng, mũi và cổ họng là ung thư tế bào vảy SCC.

K biểu mô tế bào thận

Đây là ung thư chiếm khoảng 90% tất cả các khối u thận

K biểu mô tế bào chuyển tiếp

Các tế bào chuyển tiếp được tìm thấy ở khung chậu thận và ống dẫn nước từ thận gọi là niệu quản. Ung thư tế bào chuyển tiếp chiếm khoảng 10% tất cả các ung thư thận.

K biểu mô tuyến

Khi ung thư phát triển, các tế bào biểu mô tiết ra một chất nhầy được gọi là tế bào tuyến. Những tế bào này nằm trong lớp lót của hầu hết các cơ quan.

Các loại ung thư biểu mô tuyến phổ biến nhất là: ung thư vú, địa trực tràng, phổi, tuyến tụy và tuyến tiền liệt.

Phân loại ung thư biểu mô

Khi bất kỳ loại ung thư nào được chẩn đoán, tùy vào mức độ lan truyền mà chúng thường được phân thành một trong ba loại:

– K biểu mô tại chỗ: Ung thư đã lan ra bên ngoài các tế bào biểu mô mà nó bắt đầu.

– K biểu mô xâm lấn: Ung thư đã lan rộng sang các mô lân cận.

– K biểu mô di căn: Ung thư đã lan đến các phần xa của biểu mô.

Các chẩn đoán vật lý được thực hiện để xác định các triệu chứng của bạn có phải là ung thư hay không, hoặc để tìm kiếm các dấu hiệu của ung thư. Các bác sĩ sẽ dựa trên các đặc điểm khác nhau như kích thước, màu sắc, hình dạng, kết cấu, tỉ lệ tăng trưởng… để xác định liệu đó có phải là ung thư biểu mô tế bào đáy hay vảy.

Ung thư biểu mô bên trong cơ thể bạn được đánh giá bằng các xét nghiệm hình ảnh cho thấy vị trí và kích thước của tế bào ung thư. Chúng cũng có thể hiển thị nếu đã lan rộng cục bộ hoặc trong cơ thể bạn. Những xét nghiệm này bao gồm: Chụp X-quang, Quét CT, Quét MRI.

Khi đã chẩn đoán ung thư qua hình ảnh, sinh thiết. Một phần hoặc toàn bộ tế bào tổn thương được phẫu thuật cắt bỏ và nhìn dưới kính hiển vi để xác định xem đó có phải là ung thư hay không và ung thư thuộc loại nào.

Ung Thư Biểu Mô Được Điều Trị Như Thế Nào?

Tất cả các loại ung thư được điều trị bằng sự kết hợp của phẫu thuật, xạ trị, hóa trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ tiến triển, lây lan của ung thư.

Phẫu thuật: Được sử dụng để loại bỏ tất cả các tế bào ung thư.

Xạ trị: Được sử dụng để điều trị một khu vực cụ thể với sự lây lan ung thư cục bộ.

Hóa trị: Được sử dụng để điều trị ung thư có thể đã lan xa.

Có Thể Chữa Khỏi Ung Thư Tế Bào Biểu Mô Hay Không?

Ung thư tế bào biểu mô hoàn toàn có thể chữa khỏi hay không phụ thuộc vào các yếu tố: bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm hay muộn? tế bào ung thư tế bào biểu mô lan truyền tại chỗ hay đã lây lan đến các cơ quan khác?…

Biết được ung thư biểu mô là gì, cũng như cách nhận biết giúp bạn có nền tảng kiến thức chăm sóc sức khỏe cùa bản thân cũng như cho những người thân bên cạnh. Ung thư biểu mô được phát hiện sớm trước khi lan rộng có thể được chữa khỏi và cho kết quả khả quan. Bệnh càng để lâu hoặc ung thư tế bào biểu mô càng lan rộng thì việc điều trị càng trở nên khó khăn và kết quả điều trị không được hiệu quả. Hiện nay, khoa học ngày càng phát triển, chúng ta có thể phòng ngừa được các loại bệnh ung thư bằng chế độ ăn uống khoa học, lối sống lành mạnh và bổ sung thực phẩm bảo vệ sức khỏe ngăn ngừa ung thư.

Sức khỏe của bạn là những gì bạn ăn, hạnh phúc nằm trong tầm tay bạn. Vì vậy, hãy bảo vệ sức khỏe một cách tốt nhất, ngay hôm nay.

Ung Thư Biểu Mô Khoang Miệng / 2023

Ung thư biểu mô khoang miệng là một trong những ung thư biểu mô đường hô hấp, tiêu hoá trên.

Khoang miệng bao gồm: Lưỡi di động, sàn miệng, lợi hàm dưới, lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng, niêm mạc má trong, khe liên hàm, môi dưới, môi trên và mép.

CHẨN ĐOÁN

Triệu chứng

Khi các triệu chứng lâm sàng biểu hiện thì thường là khối u đã xâm lấn rộng và đôi khi đã là giai đoạn muộn.

Các triệu chứng có thể là

Cảm giác vướng trong miệng.

Tăng tiết nước bọt đôi khi có máu.

Nói khó.

Nuốt đau.

Đau lan lên tai (cảm giác).

Đôi khi được phát hiện sớm bải đi khám bệnh thường kỳ, hoặc bởi thầy thuốc răng hàm mặt khi bệnh nhân đi chữa răng… hoặc sờ thấy hạch dưới cằm hoặc cổ.

Nuốt đau nhói lên tai.

Nói khó khăn.

Khạc ra đờm nhầy, có lẫn máu thường là có mùi hôi thối.

1/3 các trường hợp đến khám vì có hạch cổ, mà chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ rệt.

Các dấu hiệu tổn thương tại chỗ

Các hình thái có thể gặp: Nụ sùi hoặc loét hoặc vừa sùi vừa loét bờ nham nhở, sờ vào bệnh nhân đau và vướng, u không có ranh giới rõ ràng, cứng, dễ chảy máu.

Khi khám cần phải đánh giá:

+ Mức độ xâm lấn vào đường giữa, vào trong hay ra phía trước.

+ Mức độ xâm lấn vào lưỡi di động.

+ Mức độ xâm lấn vào phần lưỡi cố định.

+ Mức độ xâm lấn vào xương hàm phía trước, và xâm nhiễm ra da.

Sinh thiết rất cần cho chẩn đoán: Gây tê, nếu khó khăn phải phải gây mê để sinh thiết, nhất là những trường hợp u thâm nhiễm hoặc khi u ở sâu.

Khám tai mũi họng

Phát hiện tổn thương phối hợp, có thể khám bằng gương soi gián tiếp, nếu cần thiết thì nội soi để phát hiện.

Khám hệ hạch

Sờ nắn hệ thống hạch cổ, hạch dưới hàm, hạch dưới cằm. Khám cả hai bên cổ phát hiện hạch sờ thấy và ghi nhận các vị trí hạch.

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp Xquang thông thường: hay được dùng để phát hiện tổn thương xâm lấn xương, hay xâm lấn sâu.

Chụp phim cắt lớp hay cộng hưởng từ: Để phát hiện những khối u xâm lấn vào các cơ lưỡi hoặc ở các vị trí khó khám bằng lâm sàng.

Khám toàn thân

Phát hiên di căn, các ung thư phổi họp hoặc với các bệnh khác, đánh giá khả năng điều trị tuy theo từng bệnh nhân.

Khám răng hàm mặt

Nhằm đặt ra khả năng làm hàm giả hoặc tạo hình trong hoặc sau phẫu thuật rộng.

Đánh giá mức độ tiến triển: Theo TNM (IUCC-2002)

Khối II nguyên phát (T)

Tx: Không đánh giá được u nguyên phát bằng lâm sàng

To: Không có u nguyên phát

Tis: Ung thư tại chỗ

T1: Đường kính < 2cm

T2: Đường kính 2cm <u < 4cm

T 4: u xâm lấn sâu vào xương da hoặc cơ

T 4j Môi: u đã xâm lấn qua màng xương, dây thần kinh răng dưới, sàn miệng

hoặc da (cằm hoặc mũi).

T 4a Khoang miệng: Khối u xâm lấn qua màng xương, vào lớp cơ sâu ngoài của lưỡi (cơ cằm lưỡi, cơ dưới lưỡi, cơ vòm miệng và cơ trâm lưỡi, xoang hàm hoặc da mặt)

T 4b: Môi và khoang miệng: Khối u xâm lấn cơ nhai, các xương bướm hoặc nền sọ hoặc bao bọc động mạch cảnh trong.

Hạch vùng (N)

Nx: Khổng đánh giá chính xác được sự di căn hạch.

No: Không có hạch di căn

N1: 1 hạch duy nhất cùng bên đường kính < 3cm

N 2b: Nhiều hạch cùng bên đường kính < 6cm

N 2c: Hạch 2 bên hoặc đối bên đường kính < 6cm

Chú ý: Hạch ở giữa được coi như là hạch cùng bên

Di căn xa (M)

Mx: Không đánh giá chính xác được sự di căn xa

Mo: Chưa di căn xa

M1: Có di căn xa

Xếp loại giai đoạn:

ĐIỀU TRỊ

Điều trị ung thư biểu mô khoang miệng bao gồm điều trị hệ thống hạch cổ và khối u nguyên phát.

Thái độ và nguyên tắc chung

Điều trị hệ thống hạch cổ là một yếu tố quan trọng trong việc tiên lượng quá trình tiến triển của ung thư biểu mô khoang miệng nói riêng và ung thư biểu mô đường hô hấp. tiêu hoá nói chung. Thái độ điều trị phụ thuộc vào 2 yếu tố:

Trường hợp sờ thấy hạch trên lâm sàng: Đánh giá tính chất và sự tiến triển của hạch.

Trường hợp không sờ thấy hạch trên làm sàng: Người ta có thể dự tính được vùng hạch thường hay bị xâm lấn dựa vào vị trí của khối u nguyên phát hoặc bằng các phương pháp cận lâm sàng như: Chụp cắt lớp TDM, IRM hay qua siêu âm.

Về nguyên tắc điều trị, phải xử lý hệ thống hạch cùng với khối u nguyên phát. Tuy nhiên cũng có 1 số trường hợp ngoại lệ: ví dụ ung thư khoang miệng điều trị bằng Curie liệu pháp.

Quyết định điều trị sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Loại mô bệnh học của tổn thương nguyên phát: 75-80% các trường hợp carcinoma ít hoặc không biệt hoá cho di căn hạch.

+ Vị trí của u nguyên phát:

Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát được xạ trị, tuỳ tình huống có thể kèm theo phẫu thuật lấy hạch còn lại sau hai tháng xạ trị.

Trường hợp tổn thương nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật: Hệ thống hach sẽ được vét hạch rộng hoặc vét hạch chọn lọc tuỳ theo kích thước của u nguyên phát và sự xâm lấn hạch được phát hiện trên lâm sàng.

Điều trị những trường hợp đặc biệt:

Với những tổn thương nguyên phát: Đã được điều trị bằng Curie liệu pháp thì hệ thống hạch sẽ được điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật lấy hạch còn lại được thực hiện hai hoặc ba tháng sau khi xạ trị. Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát đã được điều trị khỏi người ta sẽ thực hiện lấy hạch ở vùng xâm lấn ban đầu. Nếu hạch N3 người ta sẽ vét hạch rộng tùy theo sự xâm lấn hạch lúc ban đầu.

Phẫu thuật tái tạo được chỉ định trong các trường hợp:

+ Phẫu thuật lớn lấy bỏ các u nguyên phát có kèm theo xử lý hạch hoặc không xử lý hạch.

+ Các di chứng có hốc hoặc không có hốc trong khoang miệng, đường hô hấp trên do việc cắt bỏ các vùng bị khối u xâm lấn rộng quá trình xạ trị hoặc phẫu thuật. Những trường hợp đó người ta đã áp dụng phương pháp phẫu thuật tạo hình quay vạt da cơ hoặc làm phương pháp tiến bộ hơn là: Vạt da cơ có mạch máu nuôi.

Phẫu thuật sau hóa trị: Trong các trường hợp u có kích thước lớn, phát triển nhanh mà không có thể phẫu thuật rộng ngay được, người ta dùng hoá trị toàn thân hay hoá trị động mạch nhằm giảm thể tích và sự phát triển của khối u. Sau đó người ta tiến hành phẫu thuật cắt bỏ rộng u còn lại sau khi hóa trị.

Chống chí định vét hạch trong các trường hợp sau:

+ Có hạch trong khi u đang tiến triển nhanh: Có thể xạ trị hoặc hoá trị trước, sau đó đánh giá khả năng phẫu thuật.

+ Hạch không thể phẫu thuật được do xâm lấn tại chỗ: (ví dụ: hạch N3 cố định vào phía sâu). Trường hợp này sẽ được xạ trị phối hợp với hoá trị.

Tóm lại:

Điều trị phẫu thuật chiếm một vị trí quan trọng trong điều trị hệ thống hạch vùng cổ.

Kỹ thuật vét hạch cổ bảo tổn ngày càng được áp dụng rộng rãi do đưa ra được hiệu quả tương đương như vét hạch cổ cổ điển mà tỷ lệ di chứng lại rất thấp.

Với phương thức xạ trị hậu phẫu thì tuỳ theo tính chất xâm lấn của hạch. Nếu sau vét hạch có N(+) nên xạ trị hậu phẫu vào vùng hạch.

Điều trị hạch cổ

Phẫu thuật vét hạch cổ

Từ trước tới nay, phẫu thuật vét hạch cổ được xác định là lấy bỏ toàn bộ hệ thống hạch cổ cùng với mạng mạch bạch huyết, tổ chức mỡ và cân vùng cổ. Tuy nhiên hiện nay người ta cố gắng định khu giải phẫu vùng hạch, nhằm một mặt mô tả vùng hạch được chú ý để vét hạch, mặt khác cho phép kiểm tra được vùng hạch khác.

Có sáu vùng hạch được chia thành ô như sau:

I-Nhóm dưới cằm, dưới hàm.

II-Nhóm cảnh cao (bao gồm nhóm dưới cơ nhị thân và nhóm hạch gai trên).

Ilbis – Nhóm cạnh gai.

III – Nhóm cảnh giữa.

IV-Nhóm sau dưới (bao gồm các nhóm gai giữa, dưới và phần sau của nhóm hạch cổ ngang).

V-Nhóm trước cổ.

Dựa vào sự phân vùng hệ thống hạch, người ta đã vét hạch cổ với nhiều phương pháp tuỳ theo mục đích điều trị.

Bao gồm việc vét tất cả các nhóm hạch, cơ ức đòn chũm, cơ nhị thân hoặc bó sau của nó, tĩnh mạch cảnh trong, thần kinh gai và tuyến dưới hàm. Ngược lại, bảo vệ các thành phần sau: Động mạch cảnh, dây thần kinh phế vị, thần kinh giao cảm cố. thần kinh hoành, thần kinh dưới lưỡi, nhánh thần kinh cằm mặt.

Vét hạch triệt căn cài tiến (chức năng)

Là hạn chế một cách tối đa việc cắt bỏ tĩnh mạch cảnh trong, cơ ức đòn chũm và thần kinh gai.

Chi định này thu hẹp ớ những bệnh nhân có hạch bị xâm lấn trung bình.

Phương pháp này giữ lại một hoặc nhiều cấu trúc mà trong vét hạch triệt căn phá huý, đồng thời vẫn lấy được các vùng hạch.

Chỉ quan tâm đến việc vét một hoặc một vài nhóm hạch.

Lấy đi một vài nhóm hạch và được áp dụng trong trường hợp hạch có kích thước nhỏ hơn 2cm. Trường hợp này phải thực hiện sinh thiết tức thì. Nếu có xâm lấn hạch thì phải thực hiện phẫu thuật vét hạch cổ chức năng (biến đổi) ngay lập tức.

Xạ trị hậu phẫu

Xạ trị hậu phẫu được chỉ định tuỳ theo xét nghiệm mô bệnh học của hạch và quá trình thực hiện phẫu thuật vét hạch:

Nếu bệnh phẩm sau mổ cho thấy hạch xâm lấn và phá vỡ vỏ (N(+), R(+) thì xạ trị toàn cổ 50Gy và ưu tiên 15Gy trên vùng phá vỡ vỏ hạch.

Nếu trên bệnh phẩm sau mổ thấy hạch xâm lấn mà không phá vỡ vỏ N(+), R(-) thì xạ trị hậu phẫu được cân nhắc tuỳ theo số lượng hạch xâm lấn và kích thước vị trí của u nguyên phát.

Xạ trị hậu phẫu đối với những tổn thương có nguy cơ cao nếu nghi ngờ chưa cắt rộng được tổn thương.

Không xạ trị nếu ít hơn 3 hạch xâm lấn và những vùng tổn thương u nguyên phát ít có nguy cơ cho xâm lấn hạch (môi mép và vòm khẩu).

Điều trị ung thư biểu mô của lưỡi di động

Điều trị tổn thương của lưỡi

Tổn thương bề mặt (không xâm lấn cơ).

Nếu tổn thương rất khu trú thì Radium 65-75 Gy hoặc phẫu thuật.

Nếu tổn thương ít khu trú hơn (đặc biệt có loạn sản ở bên cạnh) thì phẫu thuật cắt một phần lưỡi.

Trường hợp khối u <6cm, chưa xâm lấn tới đường giữa, nếu có khả năng phẫu thuật thì:

+ Hoá trị (ưu tiên hóa chất động mạch). Sau đó cắt 1/2 lưỡi + xạ trị ngoài (hậu phẫu). Quyết định này được cân nhắc tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và giải phẫu bệnh.

+ Radium liệu pháp (được cân nhắc tuỳ theo sự lui bệnh sau hóa trị).

Trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật do bệnh toàn thân thì xạ trị trải liều cổ điển (50Gy) phối hợp với Radium liệu pháp 20-25Gy.

+ Hoá trị (ưu tiên hoá chất động mạch). Sau đó 1/2 lưỡi + xạ trị ngoài (hậu phẫu). Quyết định này được bàn luận tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và mô bệnh học.

+ Hoặc Radium liệu pháp (được cân nhắc tuỳ theo sự lui bệnh sau hóa trị).

Trong trường hợp chống chỉ định phẫu thuật do bệnh toàn thân thì:

+ Hoá trị: Ưu tiên hoá chất động mạch một hoặc 2 bên + cắt lưỡi và tạo hình bằng vạt da cơ + xạ trị hậu phẫu.

Điều trị hệ thống hạch cổ

Xem phần điều trị hạch.

Điều trị ung thư biểu mô vùng sàn miệng

Điêu trị tổn thương nguyên phát

Nếu tổn thương kém khu trú: Dùng phẫu thuật cắt bỏ vùng chậu sàn miệng hoặc chậu sàn miệng cằm (tuỳ theo việc có cắt xương hàm hay không mà quyết định tạo hình) + xạ trị hậu phẫu tuỳ theo đánh giá sau phẫu thuật và giải phẫu bệnh của bệnh phẩm.

Nếu không có chỉ định phẫu thuật: thì xạ trị liều cao giống như phần lưỡi di động.

Điều trị hệ hạch cổ (Chung cho ung thư biểu mô của lưỡi + sàn miệng)

Không sờ thấy có hạch.

Trường hợp 1: Tổn thương nguyên phát được điều trị bằng curie liệu pháp.

+ Nếu tổn thương khu trú và trên bề mặt nhỏ hơn hoặc bằng lcm thì chỉ lấy u đơn thuần và theo dõi hạch.

+ Nếu tổn thương nguyên phát ở bên hoặc phía sau: vét hạch ở tam giác cố (nhóm I. II,III) cùng bên, bảo tồn các cơ quan vùng cổ đồng thời vét hạch ở tam giác đối bên nếu N(+) khi làm sinh thiết tức thì.

+ Nếu tổn thương ở giữa hoặc xung quanh đường giữa thì vét hạch đầy đủ vùng tam giác cổ 2 bên.

Trường hợp 2:

+ Tốn thương nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật.

+ Vét hạch cổ theo nguyên tắc được dự kiến tuỳ thuộc vào kích thước của u nguyên phát.

Trường hợp 3: Tổn thương nguyên phát được xạ trị + curie liệu pháp. Hệ thống hạch được xạ trị liều 50Gy”

Hạch sờ thấy :

Trường hợp 1:

+ Tổn thương nguyên phát được điều trị bằng curie liệu pháp.

+ Tổn thương ở bên và sau: vét hạch cổ chức năng ở tam giác cổ (Nhóm I,II,III) cùng bên và vét hạch cổ ở tam giác đối bên nếu N(+) khi sinh thiết tức thì.

+ Tổn thương ở giữa: Vét hạch ở tam giác cổ 2 bên tuỳ theo định khu của hạch và kết quả sinh thiết tức thì.

Trường hợp 2:

+ Tổn thương nguyên phát được xạ trị liều cao hoặc xạ trị + Curie liệu pháp. Trong trường hợp hạch còn lại, phẫu thuật lấy hạch 2-3 tháng sau khi xạ trị.

+ Không thể phẫu thuật được hạch thì phối hợp hoá trị và xạ trị hoặc xạ trị liều cao.

Xạ trị ngoài

Được thực hiện kết hợp với Curie liệu pháp liều cao ở khối u nguyên phát. Nếu N (+) xạ trị hệ hạch cổ 50Gy và tăng thêm trên những vùng hạch bị phá vỡ vỏ. Hoặc kết hợp với phẫu thuật (hoặc sau hoá trị):

T Phẫu thuật đủ và N(-): Không xạ trị.

T Phẫu thuật đủ và/hoặc N(+), R(-): Xạ trị 50Gy

T Phẫu thuật không đủ và/hoặc N(+) R(+): Xạ trị u 65Gy trên diện u và vùng vỡ vỏ hạch.

Phẫu thuật lấy hạch còn lại sau xạ trị 50Gy Không bổ xung xạ trị dự phòng.

Trong trường hợp vét hạch chọn lọc ở tam giác cổ, nếu có từ 1 đến 2 hạch bị xâm lấn nhưng chưa phá vỡ vỏ ở chặng hạch đầu tiên mà phẫu thuật đối với T đủ thì xạ trị hậu phẫu cần phải cân nhắc. Mặt khác nếu sự xâm lấn hạch 1 bên rất nhiều mà ở đối bên đã được kiểm tra bằng phẫu thuật thì chỉ xạ trị ở một bên cổ.

Điều trị ung thư biểu mô vùng lợi hàm

Khối u giới hạn ở bờ lợi, không có hoặc có xâm lấn xương ở mức độ ít (bong màng xương): Phẫu thuật giới hạn và bảo tồn một phần xương hàm (giữ lại khung xương).

Tổn thương có kèm theo tiêu huỷ xương: cắt đoạn xương hàm. Chỉ định có hoặc không xạ trị hậu phẫu tuỳ theo chất lượng phẫu thuật và sự xâm lấn hạch.

Khối u xâm lấn vào sàn miệng, lưỡi và má: Tham khảo với những tổn thương nguyên phát của những vùng này.

Chú ỷ: Trong những trường hợp chống chỉ định phẫu thuật thì xạ trị 70Gy.

Điều trị hệ hạch: Giống phần chung.

Ung thư biểu mô lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng

Điều trị tổn thương nguyên phát

Khối u đường kính <3cm: Phẫu thuật đơn thuần, không xạ trị hậu phẫu nếu phẫu thuật đủ và No.

Loại 1: Khối u phẫu thuật được (tiêu chuẩn toàn thân, tại chỗ, tại vùng).

+ Đối với u nguyên phát:

+ Thì 1: Hoá trị Cisplatinum, 5FU.

+ Thì 2: Phẫu thuật rộng hoặc phẫu thuật theo mức độ lui bệnh sau khi hoá trị.

+ Thì 3: Xạ trị hậu phẫu 65Gy trong vùng khối u và 50Gy trên chặng hạch đầu tiên.

Loại 2: Bệnh nhân không phẫu thuật được.

+ Hoá trị tại chỗ hoặc toàn thân sau đó đánh giá lại tổn thương + Nếu có thể được thì phẫu thuật và xạ trị hậu phẫu.

+ Nếu không chỉ xạ trị đơn thuần vùng u nguyên phát và hệ hạch.

+ Tuỳ tình huống có thể phối hợp xạ trị và hoá trị.

+ Nếu có chống chỉ định hoá trị, điều trị xạ trị liều cao nhưng chia nhỏ liều.

No: Xạ trị trên chặng đầu tiên của hạch.

N(+): Phẫu thuật lấy hạch hoặc vét hạch tuỳ theo mức độ hạch có trên lâm sàng. Sau đó có thể xạ trị hậu phẫu nếu N(+), R(+).

Điều trị ung thư biểu mô khe liên hàm

Điều trị tổn thương u nguyên phát

Khối u có thể phẫu thuật được: Phẫu thuật cắt bỏ miệng – họng – xương hàm + xạ trị hậu phẫu.

Khối u không thể phẫu thuật được do:

+ Khối u lan ra các bộ phận quan trọng.

+ Hoặc tính chất lan toả không có giới hạn.

+ Hoặc bệnh nhân từ chối.

+ Hoặc bệnh toàn thân không phẫu thuật được.

Tia xạ 70Gy trải liều bình thường hoặc phối hợp hóa trị và xạ trị.

Điều trị hệ hạch (Giống như phần điều trị hệ hạch cổ chung)

Điều trị ung thư biểu mô niêm mạc má phía trong

Điều trị tổn thương nguyên phát

Khối u đường kính <5cm, không xâm lấn vào lợi, không xâm lấn vào khe liên hàm: Phẫu thuật lấy u + tạo hình + xạ trị hậu phẫu (tuỳ theo bệnh phám sau mổ). ,

+ Có thể phẫu thuật được.

. Hoá trị động mạch.

. Phẫu thuật lấy u có thể tạo hình hoặc không.

. Xạ trị hậu phẫu tuỳ theo chất lượng phẫu thuật.

+ Không phẫu thuật được: Xạ trị đơn thuần 70Gy trải liều cổ điển.

Điều trị hệ hạch(Giống phần điều trị hạch cổ phần chung)

Điều trị ung thư biểu mô môi dưới

Khối u không có xâm lấn vào lợi và xương: Phẫu thuật lấy u + tạo hình. Khối u có xâm lấn vào lợi và xương

+ Có thể phẫu thuật được: Điều trị hoá chất (ưu tiên hoá chất động mạch) sau đó phẫu thuật rộng và tạo hình.

+ Không có khả năng phẫu thuật: xạ trị liều cao.

No:

+ Nếu xạ trị khối u: Cần phải phẫu thuật hạch khi điều kiện theo dõi bệnh nhân khó khăn hoặc tổn thương 2-4cm có kèm theo sự xâm lấn vào phần môi ướt hoặc u có đường kính 4-6cm.

+ Nếu khối u nguyên phát điều trị bằng phẫu thuật: Vét hạch cổ toàn bộ 2 bên tuỳ theo mức độ xâm lấn của hạch (thông qua kết quả sinh thiết tức thì hạch) + xạ trị hậu phẫu nếu N(+).

Hạch sờ thấy được:

+ Phẫu thuật vét hạch rộng 2 bên có bảo tổn hoặc không.

+ Tuỳ thuộc vào sự xâm lấn cấu trúc hạch và mô bệnh học.

+ Xạ trị hậu phẫu tuỳ thuộc vào đánh giá mô bệnh học sau mổ.

Điều trị ung thư biểu mô môi trên

Khối u có kích thước đường kính <5cm(Giống như môi dưới)

Khối u có kích thước lớn, có phá huỷ cấu trúc

Hóa trị: Ưu tiên hoá chất động mạch sau đó phẫu thuật rộng và tạo hình.

– Xử lý hạch:

+ Hạch không sờ thấy: Không cần xử lý, chỉ cần theo dõi.

+ Hạch sờ thấy: Vét hạch cùng bên hoặc 2 bên nếu sinh thiết tức thì (+).

Điều trị ung thư vùng mép

+ Hóa trị (ưu tiên hoá chất động mạch).

+ Điều trị phối hợp đa hoá chất:

. Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m 2.

. 5 ngày tiếp theo: 5FU 1000mg/m 2/ngày.

+ Điều trị đơn hoá chất: 5FƯ 1000mg/m 2/ngày (7 ngày).

+ Xạ trị ngoài 70Gy hoặc xạ trị ngoài 50Gy .

+ Curie liệu pháp 25-35Gy.

Điều trị hệ hạch (Giống như của môi)

Tóm lại: Điều trị ung thư khoang miệng

Đối với khối u:

+ u nhỏ: Phẫu thuật đơn thuần.

+ u rất lớn không thể phẫu thuật được: Xạ trị đơn thuần hoặc hoá trị động mạch kết hợp với xạ trị.

Đối với hệ hạch:

+ Không phát hiện được hạch di căn: Theo dõi sát.

+ Phát hiện được hạch di căn: Vét hạch theo nhóm. Xạ trị hậu phẫu hệ hạch khi có hơn 3 hạch (+) hoặc hạch đã phá vỡ vỏ.

Hóa trị động mạch:

Điều trị phối hợp đa hoá trị:

+ Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m 2.

+ 5 ngày tiếp theo: 5FU 1000mg/m 2/ ngày.

Điều trị đơn hoá chất: 5 FU 1000mg/m 2/ngày X 7 ngày

Ung Thư Biểu Mô Rau (Choriocarcinoma) / 2023

Ung thư biểu mô rau (Choriocarcinoma)

1. Định nghĩa

– Là u ác tính của biểu mô rau gồm nguyên bào nuôi và hợp bào (trophoblastic cells and syncytitrophoblastic cells).

– Khoảng 50% phát triển từ chửa trứng, 25% do sót rau khi đẻ thuờng, chỉ 20% sau chửa bình thường.

– Thời gian từ khi có chửa đến khi xuất hiện ung thư rất khác nhau từ vài tháng đến hàng năm.

2. Tổn thương giải phẫu bệnh

Đại thể:

U là một khối trong buồng tử cung, ở xung quanh khối u hay có hoại tử và chảy máu lớn. U xâm nhập thành tử cung và âm đạo.

Vi thể:

Không thấy hình gai rau bình thường.

U gồm những đám tế bào biểu mô rau tăng sản mạnh (cytotrophoblastic cells), xung quanh là các hợp bào rất da dạng (pleomorphic syncytiotrophoblast).

Những tế bào biểu mô rau tăng sản có thể xâm nhập mạch máu di căn đến tuỷ xương, phổi, não.

3. Tiên lượng

– Gây hoại tử, chảy máu buồng tử cung.

– K biểu mô rau có thể di căn theo đuờng máu đến tuỷ xương, phổi, não.

– Điều trị kịp thời, kết hợp hoá trị liệu (metothrexate) tiên lượng tốt.

Ung thư biểu mô rau

Ung thư biểu mô rau

Ung thư biểu mô rau

Ung thư biểu mô rau

Ung thư biểu mô rau

Ung thư tuyến nội mạc tử cung

Ung thư tuyến nội mạc tử cung

Ung thư tuyến nội mạc tử cung

Polip buồng tử cung

Tăng sản cơ tuyến thân tử cung (adenomyosis)

Ung thư cổ tử cung xâm nhập

Ung thư nội mạc tử cung (Mülerian Tumor)

U nang buồng trứng

Chửa vòi trứng

Ứ nước vòi trứng

U xơ tử cung

Ung thư trong biểu mô âm hộ

Tác phẩm, tác giả, nguồn

BÁCH KHOA Y HỌC

Tác giả: Bác sĩ Đa Khoa Lê Đình Sáng; Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, khóa 2005-2011.

Email: Lesangmdgmail.com

Nguồn: Nhiều nguồn, chi tiết xem bài giới thiệu

CẢNH BÁO: Không có chuyên môn, không phải là nhân viên y tế, bạn không được phép tự sử dụng những thông tin có trong cuốn sách này để chẩn đoán và điều trị.

Ung Thư Biểu Mô Tại Chỗ / 2023

UTBMNO là tổn thương biểu mô với các tính chất tế bào học

giống như ung thư biểu mô xâm nhập nhưng còn nằm giới hạn

Ung thư biểu mô thể nội ống là tổn thương thường không được

phát hiện trên lâm sàng mà thường được phát hiện trên chụp

vú với những biểu hiện bất thường hoặc hoặc trên sinh thiết

tình cờ những tổn thương không phải u. Ung thư biểu mô nội

ếng thể trứng cá thường có ổ lắng đọng calci nhỏ với hình dạng

không đều trên phim chụp vú, giống như những cái khuôn do

lông ống bị tổn thương. Tỷ lệ ung thư vú tại chỗ tăng trong

những năm gần đây là do chương trình chụp vú mở rộng, đặc biệt

khám sàng lọc phát hiện sớm. Một số trường hợp biểu hiện chảy

dịch đầu vú hoặc thăm khám thấy một vùng nghi ngờ. Những

trường hợp này thường do tổn thương nhiều ống và có biểu hiện xơ

hóa chu vi các ống.

Đại thể: Hầu hết ung thư biểu mô nội ống khó phân biệt trên đã

thể trừ các trường hợp có hoại tử lòng ống. Trên diện cắt có thể

thấy những khối hình trụ, mỏng, mềm giống như trứng cá, có thể

thấy hiện tượng xơ cứng vùng tổn thương.

Vi thể: UTBMNO được chia làm nhiều loại

Ung thư biểu mô nội ông thể trứng cá:

chiếm tỷ lệ 45% đến 67% trong các trường hợp UTBMNO. Đặc

điểm loại này là có hoại tử lòng ống, bất thường nhân, liên kết

giữa các tế bào lỏng lẻo. Hình ảnh vi thể cũng rất đa dạng giữa các

trường hợp. Hiện tượng xơ hóa và xâm nhập limphô-tương bào

quanh ống rất hay gặp.

Chẩn đoán ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá cũng có thể

được xác định nếu chỉ có một ống với những hình ảnh kinh điển

này. Lớp tế bào cơ biểu mô có thể nhìn thấy rõ quanh các ống

nhưng một số trường hợp không nhìn thấy là do nó bị mỏng

hoặc bị mất hắn do hoại tử gây nên. Đáng lưu ý rằng, sự phá vỡ

màng đáy nếu có thì cũng không thể phát hiện được trên các tiêu

bản HE nên đôi khi rất khó phân biệt với ung thư vi xâm nhập

Mô đệm bao quanh tăng sinh xơ. Những mảnh hoại tử trong lòng

ống gồm cả hai loại hoại tử là hoại tử do chết tế bào theo chương

trình và hoại tử u. Hoại tử do chết tế bào theo chương trình có đặc

điểm là tạo thành các mảnh nhân, nhân bị co lại, bào tương bi

đông vón và không có xâm nhập viêm. Hoại tử u biểu hiện có các

đám tế bào với nhân bị tan trực tiếp, bào tương sưng phồng kèm

xâm nhập viêm. Vi xâm nhập hay gặp nhất trong ung thư nội ống

thể trứng cá hơn các trường hợp khác.

Ung thư biểu mô nội ống thể mặt sàng

Là sự tăng sinh của các tế bào biểu mô ác tính giống như hình

mặt sàng. Những lòng ống thứ phát thường có hình tròn và đưa

bao quanh bởi các tế bào trụ thấp, nhân nằm ở cực đáy tế bào. Cầu

nôi các tế bào biểu mô thẳng. Nhân hình tròn hoặc hình trứng

phân bố đều, hiếm khi thấy chồng lên nhau. Hình ảnh nhân chia

hiếm. Hiện tượng lắng đọng calci có thể thấy trong các lòng ống

thứ phát. Những phần tế bào u phát triển có thể thấy hình ảnh

giống hình bánh xe với những ổ tế bào biểu mô trung tâm liên kết

với thành các ống bằng rất nhiều cầu nôi biểu mô. Đôi khi, phần

trung tâm của lòng ống bị rỗng. hình thành các vòm đơn hoặc

nhiều tầng. Bên cạnh đó cũng có thể thấy ở một số ống, các tế bào

phát triển đặc lại với nhân sắp xếp dạng hoa hồng, là những dấu

hiệu hình thành các ống thứ phát.

Về mặt tế bào học, các tế bào thường nhỏ, đồng đều, nhân tròn,

bào tương hẹp. Một số trường hợp thấy nhân đa dạng, bào tương

có các hạt nhỏ ưa toan.

Ung thư biểu mô nội ống thể vi nhú, thể tăngtiết dạng nang

Các tế bào u có tính chất giống như thể mặt sàng nhưng có đặc

điểm là phát triển thành các mào biểu mô lồi vào lòng các ống.

Các mào biểu mô thương phân bố đều quanh thành các ống. Giữa

các mào biểu mô thường có hai lớp tế bào lót lòng ống. Lớp tế bào

biểu mô có thể tăng sinh vào trong các mào biểu mô nhưng cũng

có thể bình thường. Lớp tế bào cơ biểu mô nhìn chung không bị

thay đổi. Đôi khi các tế bào u biểu hiện không điển hình, ví dụ

như hình”mũ đinh”, nên rất khó khăn trong chẩn đoán.

Những dạng chuyển tiếp của UTBMNO thể vi nhú, có khi những

phần nhu chuyển thành dạng mặt sàng khi hình thành các cầu

nối hoặc hình vòm. Hình ảnh tế bào học đôi khi cũng biểu hiện đa

dạng. Hoại tử lòng ống ít thấy. Có thể gặp các ống bị giãn ra, chứa

Ung thư biểu mô nội ống thể vi nhú thường hay gặp nhiều ổ hơn

Ung thư biểu mô nội ống thể bán hủy

Các tế bào biểu mô có bào tương bắt màu toan, rộng và có các hạt

nhỏ, nhâ~tương đối đa dạng, có hoại tử lòng ống. Bào tương các tế

bào đôi khi bị hốc hóa. Đôi khi các tế bào phát triển đặc trong lòng

ống với ranh giới giữa các tế bào khá rõ. Hạt nhân thường rõ. Khi

có hoại tử lòng ống thì thậm chí chỉ có một ống bị tổn thương cũng

đủ chẩn đoán là ung thư mà không cần quan tâm đến kích thước

của ống. Trong những tổn thương biến đổi xơ nang của vú, tỷ lệ

gặp dị sản kiểu tế bào bán huỷ và quá sản cao nên cần thận trọng

trong chẩn đoán loại ung thư này.

Ung thư biểu mô nội ống thể đặc

Các tế bào phát triển lấp đầy lòng ống, không có hoại tử lòng

ống. Về mặt tế bào học thường biểu hiện mức độ trung gian giữa

UTBMTTTC và UTBMNO thể trứng cá, nhân tương đối đều, ít

thấy tính chất đa hình thái của nhân. Hoạt động nhân chia ở mức

trung bình. Trong một số trường hợp, hình ảnh vi thể giống như

quá sản nội ống không điển hình.

Ung thư biểu mô nội ống thể nhú

Hầu hết ung thư biểu mô thể nhú của vú là dạng chưa xâm nhập

mặc dù kích thước u khá lớn. Ung thư thể nhú chiếm khoảng 2%

trong các ung thư biểu mô vú. Bệnh nhân phần lớn gặp ở tuổi trên

50. Biểu hiện lâm sàng thường hay có chảy dịch núm vú và tạo

thành các mảng có thể sờ thấy khi thăm khám. Vị trí hay gặp ở

Hình ảnh vi thể biểu hiện tăng sinh các tế bào biểu mô hình

thành các cấu trúc nhú có trục liên kết rõ. Các nhú lồi vào trong

lòng các nang giãn rộng và thường không thấy các tế bào cơ biểu

mô bao quanh. Sự vắng mặt của các tế bào cơ biểu mô là hình ảnh

đáng tin cậy để chẩn đoán ung thư biểu mô thể nhút phân biệt với

một u nhú lành. Trong một số trường hợp nghi ngờ, nhuộm

HMMD với actin, yếu tố VIII, S-100 protein, CEA sẽ giúp ích

trong việc xác định sự có mặt của cơ biểu mô. Tuy nhiên, dạng

biến thể của ung thư biểu mô thể nhú tế bào hình thoi lát tầng,

người ta cũng thấy có mặt nhiều cơ biểu mô.

Biến thể này được Azzopardi mô tả và được chia làm hai phân

úp nhỏ. Một loại giống ung thư biểu mô trứng cá nhưng không có

hoại tử lòng ống. Loại này gồm các ống được lót bởi vài hàng tế

bào cao không điển hình. Lòng ống rỗng hoặc chứa chất tiết dạng

hạt. Loại thứ hai không có hoại tử nhưng các tế bào lót lòng ống

được lót bởi một lớp tế bào biểu mô đơn hoặc vài lớp tế bào với mức

độ không điển hình nhẹ. Người ta cũng không xác định được rằng

nếu những tế bào này là sự chuyển dạng tại chỗ hay là sự thay thế

các tế bào nguyên thủy bằng các tế bào tăng sinh bên cạnh.

Ung thư biểu mô nội ống tế bào sáng có đặc điểm là tăng sinh

các tế bào với bào tương rất sáng và rất khó phân biệt ranh giới

giữa các tế bào. Những tế bào này có thể phát triển từ bất kỳ biến

thể nào của dạng mặt sàng. Hoại tử trung tâm ít gặp. Một phần

đặc cũng có thể thấy, đặc biệt ở giai đoạn sớm trong sự phát triển

của nó. Những phần này cũng có thể thấy phối hợp với thể mặt

sàng thông thường. Sở dĩ bào tương các tế bào trở nên sáng vì có

Đây là một dạng rất hiếm của UTBMNO có đặc điểm là tăng

sinh các tế bào nhẫn trong một vùng phát triển nhú hoặc đặc. Các

tế bào với nhân bị đẩy lệch về một bên, bào tương rộng chứa chất

nhầy Nhuộm PAS hoặc mucicarmin dương tính. Đây là loại ung

thư có độ ác tính cao, rất nhanh tiến triển thành dạng xâm nhập.

Phân độ mô học của UTBMNO dựa vào đánh giá tế bào học và

hoại tử lòng ống. Dựa vào hai yếu tố này, UTBMNO được chia làm

3 độ. Nếu tổn thương không có không điển hình của nhân và hoại

tử lòng ống được cho là độ 1 tương ứng là ung thư biểu mô thể vi

nhú và thể mặt sàng. Khi có hình ảnh của nhân không điển hình

và/hoặc có hoại tử lòng ống, tổn thương được xếp vào độ 3. Khi

mức độ không điển hình của nhân nhẹ đến trung bình hoặc có

hoại tử lòng ống hoặc chỉ có ít cả hai hình ảnh trên thì được xếp

Dựa vào cách chia độ trên, người ta cũng hướng phân độ mô học

tương ứng với các úp mô học. Ví dụ, ung thư biểu mô nội ống tế

bào nhẫn được xếp độ 3 dựa vào mức độ tiến triển của loại ưng thư

này. Ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá thường có độ mô học

cao còn thể mặt sàng hoặc thể vi nhú thường có độ mô học thấp.

Bảng 3.2: Mức đệ không điển hình của nhân đưlọ”c phân theo bảng sau

Mức độ hoại tử u được chia làm 3 mức

(- ): Không có hoặc dưới 4 mảnh nhân

+(+): ít nhất có 5 mảnh nhân

Lòng ống giãn rộng, trong có chứa nhiều mảnh nhân

Người ta có thể phân độ mô học tương ứng các úp mô học

Độ 1: Ung thư biểu mô thể vi nhú, thể mặt sàng bao gồm các tế .

bào đồng đều, không có hoại tử lòng ống hoặc rất ít.

Độ 2: Các tế bào tăng sinh nhưng không có không điển hình của

nhân, có thể hình thành thể đặc, thể nhú, thể mặt sàng với hoại

tử trung tâm nhưng không biểu hiện đặc tính bất thục sản về mặt

tế bào học của ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá.

Nhóm thứ hai bao gồm thể đặc, thể mặt sàng, thể vi nhú với biểu

hiện không điển hình về mặt tế bào học nhưng không có hoại tử

Nhóm thứ 3 bao gồm những biến thể hiếm gặp gồm tế bào sáng,

tế bào hình thoi, có hoặc không có hoại tử.

Độ 3: Ung thư biểu mô nội ống biểu hiện cả mức độ không điển .

hình về mặt tế bào và hoại tử và bao gồm cả ung thư biểu mô tế .

bào nhẫn đơn thuần. Tất cả các ung thư biểu mô thể trứng cá và

ung thư tế bào bán huỷ đều được xếp vào độ 3.

Các nghiên cứu đặc biệt, thụ thểhormon và siêu cấu trúc.

Có rất nhiều nghiên cứu HMMD trong UTBMNO nhưng không

một dấu ấn sinh học nào giúp ích trong phân biệt UTBMNO với

quá sản nội ống hoặc quá sản nội ống không điển hình.

Các nghiên cứu về ER, PR và bcl-2 cho thấy, các dấu ấn sinh học

này đều bộc lộ trong UTBMNO trừ tổn thương này biệt hóa dạng

tế bào bán huỷ. Bộc lộ bcl-2 nhìn chung ngang bằng với ER. Mối

nhiều tác giả nghiên cứu. Tỷ lệ ER dương tính chiếm khoảng 60-

98% trong UTBMNO độ ác tính thấp và 14-74% trong UTBMNO

độ ác tính cao. Bộc lộ PR ngang bằng với ER.

Bộc lộ p53 nhìn chung cao ở những u độ ác tính cao và thấp ở

những u có độ ác tính thấp. Bộc lộ p53 thay đổi từ 0-21% trong

số những UTBMNO độ ác tính thấp và 3-67% trong số

UTBMNO độ ác tính cao. Một số nghiên cứu thấy p53 không bộc

nhiên còn phụ thuộc vào cách giải thích kết quả cũng như loại

kháng thể sử dụng.

Một trong những dấu ấn sinh học được nghiên cứu nhiều trong

UTBMNO là c-erbB-2 (Her-2/neu). Bộc lộ nên này đặc biệt cao đối

với những u có kích thước nhân lớn, tế bào kém biệt hóa, tỷ lệ

nhân chia cao. Gen này không bộc lộ trong những u có tế bào nhỏ

và biệt hóa cao. Điều này giải thích đến này bộc.lộ ở những u có sự

phát triển nhanh. Gen này bộc lộ khoảng 0-50% ở những u độ ác

tính thấp và 50-100% ở những u độ ác tính cao.

Đối với những u có kích thước nhân tăng, đa hình thái tế bào và

hoại tử lòng ống thì bộc lộ p53 và c”erbB-2 tăng, ngược lại bộc lộ

ER, PR và bcl-2 giảm. Những yếu tố sinh học khác, những biến đổi

sự biệt hóa của UTBMNO cũng được đánh giá và so sánh với tỷ lệ

tăng sinh của chúng. Bộc lộ Ki-67 chiếm 23-42% UTBMNO độ ác

tính thấp và 37-40% UTBMNO có độ ác tính cao. Tỷ lệ tăng sinh

của UTBMNO thể trứng cá cao hơn nhiều so với những loại khác.

Ung thư biểu mô nội ống thể trứng cá bao gồm nhiều tế bào bất

thục sản biểu hiện sự tăng sinh tế bào cao và được xác định bằng

chỉ số đánh dấu thymidin (TLI) hơn những loại khác. Dựa vào

đánh giá TLI người ta có thể tiên lượng được trên mỗi bệnh nhân.

Thụ thể yếu tố phát triển thượng bì có vai trò trong sự tăng

sinh tế bào bình thường cũng như tế bào u và nó phản ứng với

thụ thể xuyên màng. Yếu tố phát triển thượng bì bộc lộ trong tế

bào biểu mô bình thường nhưng không bộc lộ trong một số ung