Ung Thư Da Tế Bào Gai / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thư Da Tế Bào Gai

Ung thư da tế bào gai

Theo giải phẫu học và giải phẫu bệnh lý học thì da được phân chia ra làm 3 lớp:

– Lớp ngoài gọi là biểu bì (Epiderme).

– Lớp giữa gọi là chân bì (Derme) hay trung bì.

– Lớp trong được gọi là hạ bì (Hypoderme).

Ở da có 3 loại tế bào, được gọi là:

– Tế bào gai.

– Tế bào đáy.

– Tế bào sắc tố.

Nên ung thư da cũng có ba loại ung thư: ung thư tế bào gai, ung thư tế bào đáy và ung thư tế bào sắc tố. Thường gặp nhất là ung thư tế bào gai. Ung thư da tế bào gai dễ nhầm với “vẩy cá, vẩy nến”.

– Tia cực tím, tia cực tím ở ngay trong lòng của ánh nắng mặt trời.

– Các bức xạ UVA, UVB có trong ánh nắng.

Do các loại hóa chất độc hại, do môi sinh, môi trường không sạch, không an toàn và đã bị ô nhiễm:

– Có quá nhiều các loại hóa chất, hóa học gây độc hại, kể cả các loại hóa mỹ phẩm để làm đẹp cho làn da.

– Các loại phân bón hóa học, các loại thuốc diệt cỏ, trừ sâu, các chất kích thích tăng trưởng, tạo nạc… Thậm chí có cả những loại thuốc, cứ như là thuốc bổ, thuốc chống lão hóa, thuốc tiêu viêm… Nhưng là thuốc dỏm, thuốc quá đát, quá hạn dùng.

Do yếu tố di truyền

– Cha hoặc mẹ vốn dĩ đã bị mắc bệnh ung thư.

Thậm chí có người có gene di truyền từ ông bà và các thế hệ tiền duệ di truyền lại.

Triệu chứng ung thư da tế bào gai Triệu chứng lâm sàn: Mới đầu nhìn thấy có khi chỉ như một chỗ da, vùng da khác thường một chút như:

– Thấy xuất hiện các vẩy cá, vẩy nến.

– Chỗ như vẩy nến, vẩy các dần dần phát triển rắn và cứng lại như một cục u, chỉ lớn bằng hạt đậu, hạt bắp hay chỉ nhỏ bằng cái hạt gạo nhưng dính chặt vào da, có trường hợp nó nằm yên, không đau, không nhức.

– Nhưng cũng có trường hợp, nhất là sau những va chạm, đụng đập hoặc khều gạy làm nó bị trầy da chảy máu thì có khi lại gây ra nhiều biến cố, những tai họa do những tế bào đã bị đột biến thành những tế bào ác tính ấy sẽ đi di căn khắp nơi. Những nơi tế bào ung thư đã di căn tới thì nơi đó sẽ phát triển thành ung thư, gọi là ung thư thứ phát, phát triển rất nhanh.

Đau

– Nhiều trường hợp không đau, không có biểu hiện gì về bệnh lý nhưng đôi khi cũng có khi đau.

– Nhưng thông thường chỉ đau khi thấy hạch, đã nổi hạch là đau.

– Có đau, có hạch là có gai sốt do phản ứng viêm, phản ứng phản vệ.

Triệu chứng cận lâm sàng, phi lâm sàng:

– Nếu làm sinh thiết, thì kết quả sinh thiết (+).

– Nếu siêu âm chụp CT, Xquang cũng đều (+).

Chẩn đoán ung thư tế bào gai

Dựa vào triệu chứng lâm sàng, phi lâm sàng, cận lâm sàng.

Điều trị ung thư da tế bào gai Chữa trị ung thư da bằng tây y Phẫu trị

– Mổ bỏ ngay tận gốc các u cục nếu đã có nghi ngờ.

– Có điều kiện có thể mổ bằng dao Gamma.

Hóa trị

Trong khi chờ đợi phẫu trị có thể dùng thuốc:

– Giảm đau, chống trầm cảm, lo lắng nếu có bằng Pamelor, Norpramin hay các biệt dược tương tự như Epavil…

– Cho thuốc chống kích động, chống đau buốt như: Excitability.

Chỉ xạ trị khi biết chắc chắn là có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa ung bướu.

Nếu có viêm nhiễm, có ổ mủ do áp xe:

– Cho thuốc chống viêm như Corticosteriod.

– Cho thuốc kháng sinh diệt khuẩn Gram (+).

Xạ trị

– Rất ít khi có chỉ định xạ trị nếu thấy chưa cần.

Chữa trị ung thư tế bào gai bằng đông y

Có thể dùng Aloe Vera để điều trị ung thư da: theo đài phát thanh và truyền hình Vatican thuộc tòa thánh La Mã thì đã có bệnh nhân ung thư mỗi ngày ăn sống một lá Aloe Vera liên tục 7 tháng, da dẻ, thân thể và thể lực của bệnh nhân đã trở lại bình thường, khối u đã tiêu biến.

– Phòng chống, tẩy trừ và xa lánh các chất độc chất hại nếu có để an toàn.

Với từng cá thể

– Tránh xa các chất độc hại nếu có.

– Không hút thuốc lá, thuốc lào, thuốc rê, thuốc phiện.

– Ra nắng thì phải phòng chống nắng.

Đọc tin tức ung thư tại: http://umekenbetaglucan.vn/benh-ung-thu

Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Gai

1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG:

Ung thư biểu mô tế bào gai (Squamous cell carcinoma) thường xuất hiện ở phần da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, ở nam giới tuổi trung niên hoặc cao tuổi. Tỷ lệ gia tăng cho mỗi 10 độ gần đường xích đạo.

Ở người da trắng, tỷ lệ mắc ung thư tế bào gai thấp hơn 4 lần so với ung thư biểu mô tế bào đáy. Biểu hiện bệnh có thể khác nhau phụ thuộc một phần vào mức độ biệt hóa.

2.CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ:

– Tia cực tím B (UVB) trong ánh sáng mặt trời. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là nguyên nhân môi trường chính gây bệnh ung thư biểu mô tế bào gai. Hơn 80% ung thư da không phải melanom được tìm thấy ở những vùng tiếp xúc với ánh sáng mặt trời như đầu, cánh tay và bàn tay. Sự tương tác giữa hình thái da/ loại da và tiếp xúc với tổng thời lượng tiếp xúc với ảnh nắng mặt trời, đặc biệt là thời gian bị cháy nắng là rất quan trọng.

– Điều trị bằng PUVA ( psoralen và tia cực tím A ) cho bệnh vảy nến cũng là một yếu tố nguy cơ

– Ung thư biểu mô tế bào gai cũng có thể phát triển tại vị trí viêm mạn tính như loét không lành ( sẹo bỏng, sẹo tỳ đè, sẹo do thiểu năng động mạch hoặc tĩnh mạch ) và những vị trí viêm mạn tính do tủy xương. Những ung thư này thường xuất hiện ở những vùng không tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và xuất hiện rất nhiều năm sau khi quá trình bệnh bắt đầu. Khi ung thư biểu mô tế bào gai hiện hữu ở vết sẹo bỏng mạn tính, chúng có tên là sẹo Marjolin.

– Tiếp xúc với hóa chất ( nhựa than, các sản phẩm dầu hỏa hoặc tiếp xúc với thạch tín) có thể là yếu tố nguy cơ gây ung thư biểu mô tế bào gai.

– Các bệnh lý tiền ác tính có thể dẫn đến ung thư biểu mô tế bào gai như bệnh dày sừng do nắng, bệnh Bowen và bạch sản.

– Ung thư biểu mô tế bào gai hay gặp trong tình trạng suy giảm miễn dịch hoặc ghép tạng

3.ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

3.1. Lâm sàng:

– Ung thư biểu mô tế bào gai có hình thái đại thể đồng nhất, không giống như ung thư biểu mô tế bào đáy

– Ung thư biểu mô tế bào gai có dạng những mảng ban đỏ, có ranh giới rõ ràng với bờ nổi cao. Khi xâm lấn sâu hơn, bờ cao hơn và tổn thương trở thành những nốt đỏ, chắc, không đau, có vảy, loét và/ hoặc hình sừng.

3.2. Mô bệnh học:

– Ung thư biểu mô tế bào gai tại chỗ đặc trưng bởi tế bào gai không đặc hiệu thay thế hoàn toàn biểu bì. Ở bệnh dày sừng anh sáng, các tế bào không đặc hiệu chỉ thay thế một phần biểu bì. Thâm nhiễm bạch huyết thường xuất hiện ở thượng bì nông.

– Xâm lấn được xác định bằng sự di chuyển các tế bào sừng không đặc hiệu qua màng đáy vào thượng bì

– Những tế bào này đa hình thể, phân bào nhiều lần và loạn sừng với những hạt hình sừng chứa những lớp cô đọng của tế bào gai với sừng hóa trung tâm.

3.3. Chẩn đoán phân biệt

– Bệnh Bowen hay bệnh ung thư biểu mô tế bào gai tại chỗ, xuất hiện chủ yếu ở người già. Những tổn thương này là ban đỏ, có gờ nổi và ranh giới rõ ràng, có vảy nến dễ nhầm với bệnh vảy nến. Thường có tiền sử không đau, tồn tại trong nhiều năm mà không tăng trưởng. Nếu nằm ở dương vật, tổn thương này được gọi là chứng hồng sản Queyrat. Về mặt mô bệnh học, có bất thường tế bào của toàn bộ chiều dày biểu bì không xâm lấn đến hạ bì. Sự tiến triển chậm chạp, nhưng 5% cuối cùng sẽ xâm lấn hạ bì.

– U gai sừng ( keratocanthoma ): tổn thương này lớn nhanh có thể lành tính hoặc ác tính. Về đại thể hay mô học, nó giống ung thư biểu mô tế bào vảy, nhưng bản chất mâu thuẫn của nó thể hiện bằng sự phát triển nhanh chóng ban đầu trong giai đoạn vài tuần, thường sau đó là giai đoạn tiềm tàng, sau đó đến giai đoạn thoái lui, mỗi thời kỳ kéo dài vài tuần. Những tổn thương này được đặt tên là ” ung thư biểu mô tế bào gai không đầy đủ ” vì xu hướng thoái lui tự nhiên của nó, nhưng đôi khi có thể phát triển thành ung thư biểu mô tế bào gai xâm lấn hoặc di căn. Nguyên nhân của sự thoái lui này chưa rõ nhưng có thể chịu ảnh hưởng của miễn dịch. Vì nguy cơ ác tính hóa rất rõ ràng và dễ nhầm với ung thư biểu mô tế bào gai nên việc cắt bỏ hoàn toàn và đánh giá tiến triển là cần thiết.

5. ĐIỀU TRỊ:

– Ở đa số bệnh nhân, phẫu thuật cắt bỏ u là phương pháp điều trị chính. Thông thường, đường rạch cách bờ u 0.5 mm ở mặt và 1 cm ở những nơi khác. Zitelli đề xuất cắt rộng 4 mm cho các tổn thương có nguy cơ thấp và 6 mm cho các tổn thương có nguy cơ cao.

– Kiểm soát khối u và bảo tồn mô lành bằng phẫu thuật Mohs, rất hữu ích cho các khối u nguy cơ cao và tái phát

– Áp lạnh cho người cao tuổi hoặc cho bệnh tại chỗ/ dày sừng do ánh sáng.

– Nạo vét và đốt điện

– Không nên sử dụng chiếu xạ như phương thức điều trị chính, nhưng có thể sử dụng như điều trị hỗ trợ

6. THEO DÕI VÀ PHÒNG NGỪA:

– Điều quan trọng phải nhận ra một điều là ung thư biểu mô tế bào gai có nguy cơ tiềm ẩn di căn xa cũng như nguy cơ tử vong đáng kể, đặc biệt là nếu bệnh tái phát

– Cần phải theo dõi quá trình phát triển của bệnh để phát hiện sự tái phát và những khối u mới xuất hiện.

Hiện tại khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, bệnh viện Đức giang chúng tôi đã tiếp nhận và điều trị các bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gai, với phác đồ cập nhật và phối hợp hội chẩn cùng khoa Ung bướu, khối cận lâm sàng để điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

U Da Ung Thư Tế Bào Đáy (Basal Cell Carcinoma

U DA UNG THƯ TẾ BÀO ĐÁY (Basal cell carcinoma – BCC)

U DA UNG THƯ TẾ BÀO ĐÁY (Basal cell carcinoma – BCC)

Là loại u ác tính gồm những tế bào giống với tế bào ở lớp đáy của thượng bì. Nguồn gốc thực sự của ung thư tế bào đáy còn chưa rõ ràng. Đây là loại ung thư da hay gặp nhất, chiếm khoảng 75% các loại ung thư da. Bệnh thường gặp ở người trên 50 tuổi.

II. CHẨN ĐOÁN: dựa vào lâm sàng và xét nghiệm mô bệnh học

– Là thể hay gặp nhất trong các thể của ung thư tế bào đáy.

– Vị trí chủ yếu ở vùng đầu, cổ và nửa trên thân mình.

– Thường bắt đầu là u nhỏ, mật độ chắc, trên có giãn mạch, không ngứa, không đau, tiến triển chậm, tăng dần về kích thước, lan ra xung quanh, thâm nhiễm, xâm lấn đến các tổ chức dưới da. Tổn thương có thể loét, dễ chảy máu, đóng vảy tiết đen, bờ nổi cao với các sẩn bóng, chắc được gọi là “hạt ngọc ung thư”.

– Hình ảnh mô bệnh học có lớp thượng bì bị phá hủy. Các tế bào ung thư có nhân thẫm màu, hình bầu dục sắp xếp thành khối, giới hạn rõ, được bao bọc xung quanh bởi các bó xơ.

– Tổn thương dát, sẩn màu hồng hoặc đỏ nâu, có vảy da, trung tâm tổn thương thường lành. Bờ hơi nổi cao giống như sợi chỉ.

– Vị trí thường gặp là ở vùng thân và ít có xu hướng xâm lấn.

– Trên hình ảnh mô bệnh học thấy các tế bào ung thư khu trú ở thượng bì, có thể xâm lấn xuống trung bì nông.

– Thường gặp ở vùng mũi hoặc trán.

– Tổn thương bằng phẳng với mặt da, đôi khi thành sẹo lõm, thâm nhiễm, trên có các mạch máu giãn, giới hạn không rõ ràng với da lành.

– Thể này có tỉ lệ tái phát rất cao sau điều trị.

– Trên hình ảnh mô bệnh học thấy các tế bào ung thư thẫm màu xen kẽ các tế bào xơ, giới hạn không rõ, đôi khi xâm lấn xuống trung bì sâu.

– Cận lâm sàng: sinh thiết bờ tổn thương làm mô bệnh học để chẩn đoán xác định.

4. Chẩn đoán giai đoạn

– Xác định giai giai đoạn của ung thư theo phân loại TNM của AJCC (American Joint Commitee on Cancer): T (Tumour) -u, N (Lymph node)-hạch, M (Distant metastases)-di căn xa.

§ Giai đoạn o: ToNoMo

§ Giai đoạn I: T1N0M0

§ Giai đoạn II: T bất kỳ, N1-3, M0

§ Giai đoạn III: T bất kỳ, N bất kỳ, M1

1. Nguyên tắc điều trị

– Loại bỏ triệt để tổ chức ung thư.

– Điều trị phủ tổn khuyết, đảm bảo chức năng và thẩm mỹ sau khi cắt bỏ tổn thương u.

Loại bỏ tổ chức ung thư

– Nguyên tắc: loại bỏ triệt để tổ chức ung thư.

– Các biện pháp phẫu thuật

§ Phẫu thuật cắt bỏ rộng tổn thương

Cắt bỏ cách bờ tổn thương: ít nhất là 0,5 cm

Độ sâu: cần cắt bỏ đến tổ chức mỡ dưới da

§ Phẫu thuật MOHs: phẫu thuật cắt bỏ từng lớp và kiểm tra tình trạng tổ chức u trên lát cắt ở các vị trí bằng kính hiển vi sau khi nhuộm Hematoxyline-Eosine. Những vị trí còn tế bào ung thư sẽ được tiếp tục cắt bỏ cho đến tổ chức da lành.

– Điều trị phủ tổn khuyết

§ Phẫu thuật tạo hình phủ tổn khuyết sử dụng các vạt da tại chỗ hoặc từ xa, vá da toàn bộ hay da mỏng

§ Để lành sẹo tự nhiên.

* Các biện pháp điều trị khác hoặc độc lập hoặc kết hợp với phẫu thuật

– Nitơ lỏng với nhiệt độ -196 0 C

– Laser CO2 làm bốc bay tổ chức u

– Đốt điện

– Xạ trị

§ Tia xạ chiếu ngoài

§ Tia X hoặc tia Gamma (télécobalt)

Liều chiếu không quá 2Gy/buổi

Thời gian 10-30 buổi/3-6 tuần

Tổng liều không quá 60Gy.

Chiếu cách bờ tổn thương 1-1,5cm.

§ Tịa xạ bên trong: cấy vào khối u sợi Iridium 192

– Quang hóa liệu pháp (photo dynamic therapy- PDT):

§ Dùng 5-méthylaminolévunilate (MAL)

§ Chiếu laser màu 635 nm

– Điều trị hóa chất tại chỗ: sử dụng một trong các thuốc sau:

§ Fluouracin (5FU) 5%: ống 20g, bôi 1-2 lần/ngày lên tổn thương trong thời gian 3-4 tuần.

§ Imiquimod kem 5%, mỗi ngày bôi một lần, thoa nhẹ lên tổn thương khi bôi thuốc, rửa sạch sau 6 tiếng đồng hồ. Mỗi tuần bôi 3 ngày. Thời gian điềutrị tối đa 16 tuần.

Theo dõi sau điều trị

– Mục đích

§ Phát hiện tái phát

§ Phát hiện tổn thương ung thư mới

– Thời gian theo dõi

§ Năm đầu sau phẫu thuật theo dõi 3 tháng/lần

§ Sau đó 6 tháng/lần

(Lượt đọc: 4044)

Ung Thư Tế Bào Mầm

Đôi khi các khối u có các tên khác nhau phụ thuộc vào các đặc trưng của chúng, như u túi noãn hoàng, u tế bào mầm, ung thư biểu mô bào thai, u quái và u quái không trưởng thành. Chúng có thể là không ung thư (lành tính) hoặc ung thư (ác tính). Các khối u ác tính có khả năng phát triển và lan tràn tới phần khác của cơ thể. Các u lành tính không lan tràn nhưng có thể gây ra các triệu chứng do sự chèn ép vào mô gần kề và các cấu trúc của cơ thể. Nguyên nhân của u tế bào mầm không rõ.

Các dấu hiệu và triệu chứng

Các triệu chứng phụ thuộc vào nơi các u phát triển, nhưng thường khi một khối u xuất hiện có thể hoặc được sờ thấy hoặc dẫn tới các triệu chứng khác. Khoảng 85% có triệu chứng đau bụng, sờ thấy khối u ở hạ vị, và khoảng 10% có thể gặp vỡ u, xoắn u, chảy máu, đôi khi có thể sốt, chảy máu âm đạo.

Các chỉ số HCG; AFP (Alpha Fetoprotein) và LDH (Lactic Dehydrogenase) là có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi trong quá trình điều trị và theo dõi tái phát sau điều trị ung thư tế bào mầm.

Chẩn đoán u tế bào mầm như thế nào

Có nhiều xét nghiệm và thăm dò cần được làm để chẩn đoán u tế bào mầm. Xét nghiêm mẫu tế bào từ khối u (sinh thiết) vì điều này sẽ giúp cho bác sĩ xác định xem nó có phải là u ác tính hay không. Chụp cắt lớp vi tính CT hoặc chụp cộng hưởng từ MRI có thể giúp xác định vị trí chính xác của khối u trong cơ thể. Chụp X-quang ngực có thể cần được làm để xem có một khối u ở trong phổi không. Các u tế bào mầm thường sản xuất ra các protein trong máu và có thể định lượng được. Các protein này được gọi là các dấu ấn u (AFP, HCG, LDH).

Điều trị

Điều trị u tế bào mầm tùy thuộc vào một số yếu tố, bao gồm kích thước, vị trí và giai đoạn của khối u và thường bao gồm hoặc phẫu thuật hoặc điều trị hóa chất hoặc kết hợp cả hai.

Nếu khối u có thể cắt bỏ được bằng phẫu thuật. Phương pháp này điều trị khỏi hoàn toàn khối u lành tính. Nếu cần thiết để cắt bỏ tinh hoàn hoặc buồng trứng nếu đây là nơi khối u phát triển đầu tiên. Nếu khối u là ác tính và có thể cắt bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật, không cần điều trị thêm hóa chất trừ khi khối u phát triển trở lại.

Nếu khối u không thể cắt bỏ sớm hoặc đã lan tràn, cần điều trị hóa chất bổ trợ. Các khối u tế bào mầm rất nhạy cảm với hóa chất. Điều trị hóa chất là sử dụng các thuốc chống ung thư (gây độc tế bào) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Hóa chất thường được tiêm hoặc truyền vào trong tĩnh mạch. Sự kết hợp các thuốc thường được sử dụng 3 tuần một lần trong 3-5 tháng, tùy thuộc vào vị trí khối u, mức AFP và khối u đã lan tràn hay chưa.

Điều trị hóa chất thường gây ra các tác dụng phụ như: rụng tóc, thiếu máu, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, ăn không ngon miệng và sút cân, nôn và buồn nôn, tiêu chảy, mệt mỏi, Hầu hết các tác dụng phụ là tạm thời và có các cách để làm giảm các tác dụng phụ và hỗ trợ trẻ bị bệnh vượt qua các tác dụng phụ.

Một số nhỏ trẻ có thể bị các tác dụng phụ muộn, đôi khi hàng năm sau. Các tác dụng phụ này bao gồm các vấn đề có thể xảy ra về mất chức năng nghe, chức năng thận và chức năng hô hấp. Các bác sĩ hoặc y tá của bệnh nhi sẽ giải thích về bất kỳ một tác dụng muộn nào có thể xảy ra. Nếu chỉ một buồng trứng hoặc một tinh hoàn được cắt bỏ, đứa trửe vẫn có khả năng có con.