Ung Thư Biểu Mô Cổ Tử Cung / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Ung Thư Biểu Mô Cổ Tử Cung

Thứ bảy, 08 Tháng 11 2014 07:35 Biên tập viên Số truy cập: 10241

Bs CKI Trần Quốc Chiến – Khoa Ung Bướu

Trong năm 2006, ước đoán đã có 77250 trường hợp mắc mới ung thư đường sinh dục nữ tại Hoa Kỳ và hơn 28000 trường hợp tử vong. Lịch sử điều trị ung thư phụ khoa ở Hoa Kỳ đã chứng kiến nhiều sự thành công chẳn hạn như sự chấp nhận rộng rãi sàng lọc ung thư cổ tử cung thường qui với phiến đồ Pap (Papanicolaou smear). Pap smear đã được tin là làm giảm sâu sắc cho cả tần suất và tỷ lệ tử vong của ung thư cổ tử cung trên 40 năm qua. Thành công gần đây hơn bao gồm việc sử dụng kết hợp hóa trị trong màng bụng và hóa trị nội tĩnh mạch cho ung thư buồng trứng tiến triển. Việc làm sáng tỏ virus sinh u nhú ở người (HPV- human papilloma virus) như là nguyên nhân gây bệnh cho ung thư cổ tử cung đã mở ra nhiều kỹ thuật mới cho việc sàng lọc ung thư cổ tử cung. Việc sử dụng các phương pháp phát hiện HPV DNA trên mẫu sinh thiết tế bào cổ tử cung có thể nhận thấy được những phụ nữ có nguy cơ tăng lên với sự phát sinh loạn sản cổ tử cung và ung thư cổ tử cung. Việc nghiên cứu về HPV đã cho phép đưa thêm vào vaccine HPV với hy vọng làm giảm thêm nữa ung thư cổ tử cung, dù không loại bỏ được ung thư cổ tử cung. Thêm nữa, có bằng chứng hiện nay cho thấy rằng có sự liên can của bác sĩ ung thư phụ khoa trong việc điều trị cho phụ nữ bị ung thư phụ khoa với việc làm tăng kết quả điều trị.

Mặc dầu đã có nhiều tiến bộ, vẫn còn có nhiều thách thức ở phía trước. Ung thư buồng trứng thì chịu trách nhiệm cho đa số trội của các trường hợp tử vong do ung thư phụ khoa bởi do giai đoạn bệnh đã tiến triển tại thời điểm chẩn đoán và thiếu một xét nghiệm sàng lọc hữu hiệu cho căn bệnh đáng sợ này. Mặc dầu Pap smear là một xét nghiệm sàng lọc hữu hiệu cho ung thư cổ tử cung, hầu hết phụ nữ phát sinh ung thư cổ tử cung xâm nhập đến từ cộng đồng dân cư không hoặc ít được sàng lọc. Chất lượng cuộc sống, sự chia các nhánh suy giảm chức năng tình dục sau điều trị ung thư phụ khoa, và bảo tồn chức năng sinh sản cho phụ nữ ung thư phụ khoa trẻ tuổi hơn là những vấn đề quan trọng mà hiện nay được đề nghị đưa lên hàng đầu trong nghiên cứu lâm sàng.

Trong năm 2006, đã có xấp xỉ 9710 trường hợp ung thư cổ tử cung xâm nhập mắc mới và 3700 trường hợp tử vong do căn bệnh này tại Hoa Kỳ. Ở những nước đã phát triển có các chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng Pap smear tần suất và tỷ lệ tử vong của ung thư cổ tử cung xâm nhập đã sụt giảm một cách sâu sắc. Tuy nhiên, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư thường gặp đứng hàng thứ hai trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nước chưa phát triển không có các chương trình sàng lọc bằng Pap smear. Mối tương quan giữa nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung xâm nhập đã được thiết lập rõ ràng, đặc biệt HPV typ 16 và 18 chiếm khoảng 70% tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới. Các yếu tố nguy cơ khác đối với ung thư cổ tử cung bao gồm giao hợp sớm, nhiều bạn tình, sinh đẻ nhiều, hút thuốc lá, nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người và quan hệ với nam giới có nguy cơ cao. Nam giới có nguy cơ cao là người có nhiều bạn tình, quan hệ mại dâm thường xuyên hoặc dương tính với typ virus HPV nguy cơ cao.

2. Chuỗi liên tiếp của sự sinh ung thư

Sự sụt giảm sâu sắc tần suất ung thư cổ tử cung xâm nhập ở Hoa Kỳ là nhờ vào việc phát hiện loạn sản cổ tử cung thông qua sự sàng lọc bằng Pap smear. Sự sàng lọc này cho phép tình trạng bệnh tiền lâm sàng được chẩn đoán và điều trị. Vào năm 1988, hệ thống Bethesda báo cáo về pap smear đã được thiết lập và đã có 3 sự điều chỉnh. Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (ACS- american cancer society) gần đây nhất hướng dẫn việc sàng lọc bằng pap smear đề nghị thời điểm bắt đầu sàng lọc là 3 năm sau khi giao hợp lần đầu tiên, hoặc bắt đầu ở độ tuổi 21. Sự loạn sản được phân chia thành các thương tổn trong biểu mô vảy độ cao (HGSILs: high- grade squamous intraepithelial lesions) và thương tổn trong biểu mô vảy độ thấp ( LGSILs: low-grade squamous intraepithelial lesions). Mục đích của việc sàng lọc bằng Pap smear là để nhận thấy HGSIL ( loạn sản vừa, loạn sản nặng, và ung thư biểu mô tại chỗ). Do hầu hết (91% trên 36 tháng) LGSILs (loạn sản nhẹ và những thay đổi do HPV) tự tiêu tan, việc quan sát đơn độc thì được cho phép và được đề nghị. Những thay đổi HGSILs đã được chứng minh bằng sinh thiết có thể được điều trị bảo tồn với việc phẫu thuật cắt bỏ bằng vòng điện, liệu pháp lạnh, hoặc cắt bỏ bằng laser CO2.

Các loạn sản tuyến thì khó phát hiện và chẩn đoán hơn. Bất kỳ một bất thường tuyến nào với một Pap smear cũng đòi hỏi phải đánh giá ngay lập tức với soi cổ tử cung, sinh thiết trực tiếp, nạo trong cổ tử cung, và có thể lấy mẫu nội mạc tử cung. Sinh thiết cổ tử cung cho thấy loạn sản tuyến đòi hỏi phải lấy mẫu thêm nữa với khoét chóp cổ tử cung. Hình như không có một chuỗi đầy đủ những thay đổi loạn sản trong biểu mô tuyến có nguồn gốc biểu mô cổ tử cung. Thêm nữa, mô học của đường ranh giới bên trong mô đệm cổ tử cung làm cho việc mô tả các mép cắt khó khăn hơn cho các nhà bệnh học. Vì vậy, sau một chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến tại chỗ, ngay cả với mép cắt sạch, cắt tử cung đơn giản được đề nghị nếu bệnh nhân đã hoàn tất việc sinh con.

3. Các kiểu lan tràn

Kiểu lan tràn thường gặp nhất là sự lan rộng trực tiếp xuyên qua mô đệm cổ tử cung và vào các mô cạnh tử cung (các dây chằng chính) và/hoặc trực tiếp lên trên thành âm đạo. Lan tràn đến thành bên chậu thì đặc trưng hơn thành trước và thành sau chậu để vào bàng quang hoặc trực tràng do sự phong tỏa của mô đệm các dây chằng chính. Di căn bạch huyết thì không thường gặp bởi dẫn lưu bạch huyết phong phú của cổ tử cung có một kiểu lan tràn theo một trật tự điển hình từ các hạch chậu (chậu bịt, chậu trong, chậu ngoài, và chậu chung) đến các hạch cạnh động mạch chủ. Di căn theo đường máu được thấy xấp xỉ ở 10% bệnh nhân, với vị trí thường gặp nhất là phổi hoặc xương.

II. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ GIAI ĐOẠN 1. Biểu hiện lâm sàng

Triệu chứng cổ điển của ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường, đặc trưng là chảy máu sau giao hợp, mặc dầu chảy máu trong khi hành kinh và xuất huyết âm đạo đột ngột thì không thường gặp. Đau, tiêu biểu là đau vùng hông, thắt lưng cùng, hoặc dưới bờ sườn thường là dấu hiệu của bệnh tiến triển tại chỗ.

2. Chẩn đoán

Sinh thiết thương tổn cổ tử cung là cách duy nhất để chẩn đoán ung thư cổ tử cung. Bất kỳ thương tổn nghi ngờ hoặc đại thể nào của cổ tử cung cũng phải được sinh thiết. Pap smear chỉ được thực hiện trên cổ tử cung bình thường về mặt lâm sàng.

Bảng 11.1. Phân chia giai đoạn ung thư cổ tử cung theo Liên đoàn sản phụ khoa quốc tế 1995 (Montreal) III. ĐIỀU TRỊ 1. Tình trạng bệnh lâm sàng ở giai đoạn sớm a. Vi xâm nhập

Định nghĩa ung thư cổ tử cung vi xâm nhập được thông qua bởi Hiệp hội các nhà ung thư phụ khoa Hoa Kỳ (SGO- society of gynecologic oncologists) với sự xâm nhập phải ít hơn hoặc bằng 3mm dưới màng đáy, không có xâm nhập hạch bạch huyết hoặc mạch máu và rìa mép cắt âm tính trên mẫu khoét chóp. Định nghĩa của SGO gần tương đương với giai đoạn IA1 của Liên đoàn sản phụ khoa quốc tế (FIGO- internatinal federation of gynecology and obstetrics) và sự biểu hiện tổn thương nhất thiết không có di căn hạch bạch huyết. Giai đoạn bệnh này có thể được điều trị với cắt tử cung đơn giản, hoặc nếu bệnh nhân có mong muốn sinh con, khoét chóp cổ tử cung đơn độc.

b. Giai đoạn IA2, IB1.

Bệnh nhân có tổn thương đại thể ở cổ tử cung ít hơn hoặc bằng 4cm hoặc tổn thương vi xâm nhập lớn hơn 3mm đòi hỏi việc điều trị tích cực hơn. Tần suất di căn hạch chậu của tổn thương vi xâm nhập từ 3,1mm đến 5mm đã được báo cáo là 7%.

ͼ Bệnh nhân ở giai đoạn này đòi hỏi cắt tử cung triệt căn kèm với phẫu tích hạch chậu. Đối với những bệnh nhân không đủ chỉ định phẫu thuật việc sử dụng xạ trị được đề nghị như là phương pháp điều trị triệt căn. Tuy nhiên, điều trị bằng phẫu thuật mang lại nhiều lợi ích với việc bảo tồn buồng trứng, tình trạng bệnh nặng kéo dài do điều trị ít hơn và chức năng tình dục sau điều trị tốt hơn. Sự phân tầng nguy cơ tái phát sau điều trị bằng phẫu thuật dựa vào tiêu chuẩn bệnh cảnh lâm sàng.

Những bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao nhất bao gồm hạch chậu dương tính, rìa mép cắt dương tính, hoặc bệnh xâm nhập vào mô cạnh tử cung. Bệnh nhân có một hay nhiều hơn các yếu tố tiên lượng xấu này điều trị hóa trị kết hợp với xạ trị sẽ tốt hơn so với xạ trị đơn độc với thời gian sống thêm không bệnh 4 năm là 80% so với 63% và sống thêm toàn bộ là 81% so với 71%. Việc điều trị được đề nghị với:

Xạ trị ngoài khung chậu với liều 4930cGy và

Cisplatin 70mg/m2 IV và 5FU truyền tĩnh mạch liên tục 96 giờ, 1000mg/m2/ngày x 4 ngày, mỗi 3 tuần x 4 chu kỳ.

Hai chu kỳ đầu được sử dụng đồng thời với xạ trị.

Những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ trung bình dựa vào kích thước, độ xâm nhập sâu của khối u và sự xâm nhập vào khoang bạch mạch hình như có lợi ích với xạ trị khung chậu sau mổ mặc dầu có sự trả giá với tình trạng bệnh nặng do điều trị tăng lên.

Xạ trị với cisplatin 40mg/m2 IV /mỗi tuần x 6 (liều tối đa 70mg) đã cho thấy mang lại lợi ích sống thêm nhiều hơn so với xạ trị đơn độc trong một nghiên cứu của nhóm ung thư phụ khoa (GOG- gynecology oncology group).

Vai trò của cắt tử cung sau xạ vẫn còn được tranh luận bởi nó chỉ có thể mang lại lợi ích nhiều nhất cho những trường hợp ung thư còn sót lại ở cổ tử cung sau hóa xạ trị.

2. Bệnh tiến triển a. Giai đoạn IIA

Rất sớm- bệnh ở giai đoạn IIA chỉ có sự xâm nhập tối thiểu ở phần trên âm đạo (bắt gặp một cách kinh điển ở những phụ nữ hậu mãn kinh do sự teo cổ tử cung) có thể được điều trị thỏa đáng với cắt tử cung triệt căn kèm với cắt phần trên âm đạo và phẫu tích hạch chậu. Tuy nhiên, ung thư giai đoạn IIA có khối u kích thước lớn thì được điều trị tốt nhất với xạ trị và hóa trị làm tăng nhạy xạ như đã được trình bày chi tiết ở đoạn trước.

b. Giai đoạn IIB đến IVA

Các ung thư tiến triển tại chỗ này thì được điều trị tốt nhất với xạ trị, xạ trị ngoài và xạ trị áp sát, cùng với hóa trị làm tăng nhạy xạ.

Liều xạ thông thường bao gồm 5000cGy toàn bộ khung chậu ban đầu để làm teo khối u, tiếp theo là 3000cGy được phân phát bằng xạ trị áp sát suất liều cao.

Cisplatin 40mg/m2 (tối đa 70mg) truyền tĩnh mạch tốc độ 1mg/phút được cho mỗi tuần x 6 tuần như là thuốc làm tăng nhạy xạ. Vào ngày truyền, hóa trị được cho trước xạ trị phân liều.

c. Giai đoạn IVB.

Những bệnh nhân này nên được điều trị cá nhân hóa vì không được xem là có thể điều trị được. Xạ trị để làm giảm chảy máu và hóa trị giảm nhẹ triệu chứng là có thể chấp nhận.

d. Bệnh tái phát (1) Điều trị bằng phẫu thuật

Vai trò của phẫu thuật cắt bỏ trong ung thư cổ tử cung tái phát chỉ có thể được chấp nhận ở bệnh nhân tái phát chủ yếu ở khung chậu. Những bệnh nhân này có thể được đề nghị đoạn chậu với thời gian sống thêm 5 năm được ước đoán là từ 50% đến 60%. Việc sử dụng phương pháp chuyển dòng nước tiểu có khả năng kiềm chế, nối trực tràng thấp và tạo hình âm đạo cho chất lượng cuộc sống tốt hơn ở những phụ nữ này.

(2) Hóa trị

Những bệnh nhân ung thư cổ tử cung tái phát hoặc kháng trị (thất bại với hóa xạ trị) tiêu biểu cho nhóm bệnh nhân nhiều nhất được đề nghị điều trị với hóa trị hệ thống. Không may là, những phụ nữ không có chỉ định đoạn chậu thì không được xem là có thể điều trị được. Tỷ lệ đáp ứng với hóa trị thấp hơn có ý nghĩa ở những bệnh nhân có tình trạng bệnh tái phát ở vùng đã được xạ trị hoặc những bệnh nhân đã nhận hóa trị trước đó. Sự đáp ứng thường ngắn hạn và không ảnh hưởng đến thời gian sống thêm không bệnh tiến triển và sống thêm toàn bộ ở quy mô lớn.

(3) Những lựa chọn cho hóa trị

Điều trị chuẩn cho ung thư cổ tử cung tái phát hoặc di căn trong 25 năm qua là cisplatin đơn độc 50mg/m2 IV mỗi 3 tuần.

Phác đồ này có tỷ lệ đáp ứng toàn bộ được ước đoán là 38%. Các nghiên cứu tiếp theo đã được báo cáo với cisplatin kết hợp các tác nhân khác, chẳn hạn như ifosfamide, dibromodulcitol, mitomycinC, bleomycin, và paclitaxel. Hầu hết các nghiên cứu này đã cho thấy tỷ lệ đáp ứng tăng lên với hóa trị đa chất ( trên 69% với bleomycin, ifosfamide và cisplatin) nhưng không làm thay đổi có ý nghĩa về sống thêm toàn bộ so với cisplatin đơn độc, và có sự trả giá cho việc gia tăng độc tính. Ngoại lệ với sự kết hợp

Cisplatin 50mg/m2 ngày 1 cộng với

Topotecan 0,75mg/m2 IV ngày 1-3

Lặp lại mỗi 21 ngày

Phác đồ này đã cho thấy lợi ích sống thêm tăng lên có ý nghĩa 2,9 tháng so với cisplatin đơn độc. Thêm nữa, thang điểm về chất lượng cuộc sống thì giống nhau giữa hai phác đồ. Điều đáng quan tâm là, những bệnh nhân đã nhận cisplatin như là một tác nhân làm tăng nhạy xạ thì có tỷ lệ đáp ứng toàn bộ kém hơn. Thêm nữa, thời gian tái phát là một yếu tố tiên lượng mạnh mẽ cho sự đáp ứng, tương tự như khoảng nghỉ không platinum trong ung thư biểu mô buồng trứng (EOC- epithelial ovarian cancer).

Các tác nhân có hiệu quả khác bao gồm paclitaxel, ifosfamide, vinorelbine, fluorouracil, và mitomycin.

(4) Những sự phát triển trong tương lai

Đối với những bệnh nhân tái phát, sự kết hợp các tác nhân gây độc tế bào (ví dụ, cisplatin kết hợp với paclitaxel, gemcitabine, vinorelbine hoặc topotecan) và các tác nhân điều trị nhắm trúng đích phân tử sẽ xảy đến với sự hiểu biết sâu sắc thêm nữa trong việc điều trị tối ưu cho những bệnh nhân này.

Nguồn: Handbook Of Cancer Chemotherapy, Seventh Edition, Stephen Andrews

Ung Thư Biểu Mô Vảy Cổ Tử Cung: Dự Đoán, Điều Trị

ung thư biểu mô vảy cổ tử cung – đó là những gì?

Giống như tất cả bệnh ung thư phụ khoa, tân cổ tử cung thời gian dài không có biểu hiện lâm sàng. Do đó, điều quan trọng là phải chú ý đến những thay đổi nhỏ nhất xảy ra trong cơ thể, cũng như chuyến thăm định kỳ với bác sĩ phụ khoa.

Nguyên nhân của ung thư cổ tử cung

Sự xuất hiện của tân vảy gắn liền với yếu tố yếu tố gây bệnh khác nhau. Đặc biệt này áp dụng đối với hành vi vi phạm của hệ thống nội tiết. Người ta tin rằng có một mối quan hệ trực tiếp giữa bệnh ung thư phụ khoa và tình trạng nội tiết tố của cơ thể phụ nữ. Thông thường việc phát hiện ung thư cổ tử cung là sự gia tăng nồng độ estrogen. Những hormone được sản xuất bởi buồng trứng. Tăng hoặc giảm mức độ được điều khiển bởi vùng dưới đồi. Căn cứ vào mối quan hệ của bệnh có rối loạn nội tiết, sau đây là nguyên nhân nổi tiếng của anh túc ung thư cổ tử cung:

Sử dụng lâu dài biện pháp tránh thai. Hầu hết các biện pháp tránh thai bao gồm estrogen. Vì vậy, trong việc sử dụng COC là cần thiết bất cứ lúc nào để gặp bác sĩ để xác định mức độ của hormone.

Điều trị bằng “Tamoxifen” và tương tự của nó. Các thuốc sử dụng trong điều trị ung thư vú. Tuy nhiên, thuốc nên được sử dụng hết sức thận trọng, vì nó cũng là một hormone.

tuyến giáp (suy giáp), béo phì và bệnh tật. Các trạng thái này cũng góp phần vào mức độ estrogen và sự phát triển của ung thư cổ tử cung.

Tính đa dạng của ung thư biểu mô tế bào vảy

Do tính chất của các tế bào biểu mô mà trải qua không điển hình, xác định một số loại tân cổ tử cung:

Adenocarcinoma. loại này là những người khác ít phổ biến hơn.

Keratinizing ung thư biểu mô vảy cổ tử cung. Đặc trưng bởi sự hình thành hạt keratin trên bề mặt biểu mô. Tính năng chẩn đoán của bệnh này được coi là “ngọc trai ung thư.” Smears thay đổi về hình dạng, các tế bào lởm chởm kích thước.

Thấp cấp khối u. Nó là không thể để xác định các yếu tố tế bào đã trải qua không điển hình. thân này là như vậy, không thuận lợi.

ung thư cổ tử cung vảy Neorogovevayuschy. Đặc trưng bởi sự thiếu keratin. Các cơ quan bôi nhọ hình bầu dục lớn có thể nhìn thấy có chứa tế bào chất eosinophilic.

Mức độ tân cổ tử cung

Khi phát hiện tân (CIN) là cần thiết để tiến hành một cuộc khảo sát để tìm hiểu mức độ lây lan của nó. Xét sự phát triển của các tế bào không điển hình, có 4 bệnh sân khấu. Việc phân chia thành độ cho phép bạn chọn điều trị thích hợp và xác định tiên lượng. Giai đoạn 0 đề cập đến ung thư không xâm lấn, có nghĩa là, các tế bào bất thường có sẵn trên bề mặt của biểu mô, nhưng không thâm nhập vào bên trong tế bào cổ tử cung. mức độ đầu tiên – khối u prorosla sâu vài mm. Bằng cách này có nghĩa là phát triển bệnh ung thư cổ tử cung xâm lấn tế bào vảy, vượt xa các giới hạn của cơ thể. Trong tân giai đoạn thứ hai kéo dài đến các tham số hoặc phần trên của âm đạo. Mức độ thứ ba được đặc trưng bởi sự xuất hiện của các tế bào ung thư trong các bức tường của xương chậu. Cũng thất bại tiếp xúc với phần dưới của âm đạo, các hạch bạch huyết khu vực. Trong bước 4 tiền thu được để một bàng quang khối u hoặc ruột. Có di căn xa.

Bức tranh lâm sàng của ung thư cổ tử cung

Nghi ngờ CIN khó khăn, khi ông là hầu như không có các tính năng đặc trưng. Ban đầu, ung thư không xuất hiện hoặc có các triệu chứng như kinh nguyệt không đều, đau ở bụng và xả dưới lưng, rõ ràng từ âm đạo. Một tính năng đặc trưng của xúc coi chảy máu mà đang xảy ra trong quá trình quan hệ tình dục. triệu chứng sau coi phù chi dưới, sốt nhẹ. Ở giai đoạn cuối cùng của giảm cân rõ rệt, suy nhược, mất cảm giác ngon miệng và bạch huyết bị sưng hạch ở bẹn.

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung tế bào vảy

Xác định ung thư biểu mô tế bào vảy được thực hiện theo từng trường hợp khiếu nại, cũng như sàng lọc. Đó là một phân tích đặc biệt, mà được lấy tăm của (PAP-test) âm đạo và cổ tử cung. Với phương pháp này người ta có thể xác định không chỉ ung thư, mà còn chứng loạn sản – những thay đổi nhỏ trong thành phần của tế bào. Khi soi cổ tử cung không rõ ràng được thực hiện sử dụng axit axetic và iốt (để xác định khu vực đáng ngờ của biểu mô). Nếu ung thư bị nghi ngờ, một sinh thiết cổ tử cung là cần thiết. Một nghiên cứu khác là để phân tích xác định HPV.

Điều trị ung thư cổ tử cung

vảy điều trị ung thư cổ tử cung bao gồm phẫu thuật cắt bỏ điều trị khối u, hóa trị và xạ. Khối lượng phẫu thuật phụ thuộc vào giai đoạn, cũng như độ tuổi của bệnh nhân. Khi tân không xâm lấn, hoặc 1 độ dành cắt bỏ tử cung, rời khỏi buồng trứng. Thao tác này được thể hiện bệnh nhân có khả năng thụ thai. Nếu bệnh nhân đang trong thời kỳ mãn kinh, sau đó thực hiện cắt bỏ tử cung, loại bỏ các phần phụ và mạc nối lớn hơn. Như một hoạt động khối lượng là cần thiết vì thực tế rằng có một nguy cơ di căn hoặc khối u tái phát. Cũng thấy điều trị với các thuốc nội tiết tố. Trong bước cuối cùng được thực hiện chỉ điều trị triệu chứng.

ung thư cổ tử cung vảy: tiên lượng

Mặc dù tỷ lệ tử vong cao, phục hồi là có thể. Này áp dụng cho những bệnh nhân bị tân, được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Tỷ lệ sống sót sau năm năm sau khi điều trị trung bình khoảng 55%. thay đổi chỉ số do giai đoạn khối u (tại 1 độ là 78%, với 4-7,8%).

biện pháp phòng ngừa để tránh ung thư

Các biện pháp phòng ngừa chính là đến thăm bác sĩ phụ khoa ít nhất 1 lần mỗi năm. Nó cũng rất quan trọng trong thời gian để điều trị nhiễm trùng cơ quan sinh dục, không sử dụng thuốc tránh thai kết hợp trong hơn 5 năm, định kỳ xác định mức độ của hormone. Trong sự hiện diện của yếu tố ảnh hưởng (xói mòn cổ tử cung, polyp, bạch sản) cần phải trải qua soi cổ tử cung. Trong tương lai, các bác sĩ sẽ quyết định việc điều trị các bệnh nền. Trong những năm gần đây, nó được phát triển phòng chống cụ thể của ung thư cổ tử cung – tiêm chủng nhằm loại HPV 16 và 18. Nó được tổ chức tại vị thành niên. Trước khi tiêm, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn.

Ung Thư Cổ Tử Cung Với Nguyên Nhân Và Biểu Hiện Ung Thư Cổ Tử Cung

Ung thư cổ tử cung là gì? Nguyên nhân và biểu hiện các giai đoạn K cổ tử cung. Phương pháp chẩn đoán và điều trị ung thư cổ tử cung. Phòng tránh bệnh ung thư cổ tử cung ra sao? Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung nên ăn gì và kiêng gì?

Ung thư cổ tử cung là gì? Bệnh K cổ tử cung là căn bệnh nguy hiểm của chị em phụ nữ. Chị em phụ nữ nên chủ động phòng ngừa ung thư cho chính bản thân mình. Ung thư cổ tử cung ở giai đoạn đầu điều trị là lý tưởng nhất. Hãy thường xuyên sàng lọc bằng việc khám sức khỏe định kỳ. Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng khoa học rất quan trọng trong quá trình chữa bệnh K cổ tử cung. Chế độ ăn uống an toàn sẽ cải thiện sức khỏe, hỗ trợ điều trị ung thư thuận lợi hơn. Các thực phẩm khi dùng cho người bệnh phải được rửa sạch, tiệt trùng, nấu chín. Chú ý đến cơ thể nhiều hơn và làm những gì tốt nhất để bảo vệ sức khỏe chính mình.

Ung thư cổ tử cung là gì?

Bệnh K cổ tử cung là căn bệnh nguy hiểm của chị em phụ nữ. Nữ giới mắc ung thư cổ tử cung thường ở độ tuổi sinh hoạt tình dục (30-45 tuổi); người dưới 20 tuổi hiếm khi mắc bệnh. Trường hợp trên 65 tuổi phát hiện bệnh thường do tầm soát không tốt ở độ tuổi trước đó.

Nguyên nhân ung thư cổ tử cung

Nguyên nhân ung thư cố tử cung là gì? Hầu hết tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung là do nhiễm trùng Papillomavirus (HPV). Có rất nhiều loại HPV, trong đó có một số loại vi rút có nguy cơ cao gây ra các bệnh như:

Ung thư hậu môn.

Ung thư cổ tử cung.

Ung thư âm hộ và dương vật.

Ung thư đầu và cổ.

Các loại HPV khác có thể gây ra mụn cóc sinh dục.

Bên cạnh Papillomavirus (HPV), một số yếu tố khác làm tăng khả năng K cổ tử cung. Bao gồm:

Hút thuốc lá.

Quan hệ tình dục sớm.

Quan hệ tình dục với nhiều người.

Quan hệ tình dục không an toàn.

Sinh đẻ nhiều lần (có trên 5 đứa con).

Sinh con khi còn quá trẻ (< 17 tuổi).

Vệ sinh sinh dục không đúng cách.

Viêm cổ tử cung mãn tính.

Suy giảm miễn dịch làm tăng khả năng bị ung thư cổ tử cung.

Sử dụng thuốc tránh thai đường uống kéo dài trên 5 năm.

Lý do gây ung thư cổ tử cung khiến chị em phụ nữ không ngờ tới. Ung thư cổ tử cung là căn bệnh nguy hiểm. Bệnh này có tỷ lệ mắc và tử vong xếp thứ hai trong các ung thư nữ giới hiện nay. Chính vì thế, chị em phụ nữ nên chủ động phòng ngừa ung thư cho chính bản thân mình. Càng được phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa khỏi (bệnh nhân sống khỏe mạnh trên 5 năm); khả năng bảo tồn chức năng sinh sản càng cao. Còn nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn thì sẽ rất khó chữa trị.

Biểu hiện ung thư cổ tử cung

Biểu hiện ung thư cổ tử cung là gì? Trung bình mỗi ngày có 14 phụ nữ ở Việt Nam mắc ung thư cổ tử cung. Và cứ 14 người mắc bệnh thì có tới 7 người tử vong. Vậy biểu hiện của ung thư cổ tử cung như thế nào? Nên thăm khám bác sĩ chuyên khoa khi gặp một trong các triệu chứng sau:

Chảy máu bất thường sau giao hợp.

Giữa các kỳ kinh hoặc sau mãn kinh chảy máu bất thường.

Âm đạo tăng tiết dịch bất thường, hoặc có mùi khó chịu.

Đau khi giao hợp.

Tăng số lần đi tiểu.

Đau khi đi tiểu.

Các dấu hiệu của K cổ tử cung rất dễ nhận thấy khác biệt. Ở giai đoạn đầu, bệnh hầu như không biểu hiện triệu chứng; khiến bệnh nhân chủ quan không tầm soát. Trong khi ở giai đoạn này các phương pháp điều trị mang lại hiệu quả rất lớn. Khi bắt đầu biểu hiện triệu chứng ung thư thì bệnh đã tiến triển; lúc này điều trị cho kết quả hạn chế. Thời gian sống còn lại cũng bị rút ngắn, chi phí điều trị cao, chất lượng cuộc sống suy giảm. Điều này, tạo ra gánh nặng rất lớn cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. Chính vì thế, chị em hãy chú ý đến những biểu hiện khác lạ của cơ thể.

Các giai đoạn ung thư cổ tử cung

Giai đoạn đầu còn được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ:

Các tế bào ung thư vẫn còn ở lớp bề mặt.

Chưa thâm nhập vào sâu bên trong các mô.

Giai đoạn 1: các tế bào ung thư đã đi sâu hơn. Tế nào ung thư không nằm bên ngoài các mô nữa mà xâm nhập vào bên trong:

Giai đoạn IA: tế bào ung thư chỉ xác định bằng kính hiển vi.

Giai đoạn IA1: tế bào ung thư xâm nhập vào cổ tử cung 3mm.

Giai đoạn IA2:

Tế bào ung thư đi sâu vào cổ tử cung từ 3-5mm.

Kích thước nhỏ hơn 7mm về bề rộng.

Giai đoạn IB: tế bào ung thư có thể được xác định.

Giai đoạn IB1: tế bào ung thư đã phát triển, chưa lớn hơn 4cm.

Giai đoạn IB2: các tế bào ung thư lớn hơn 4cm.

Giai đoạn 2: tế bào ung thư đã xâm lấn các mô lân cận. Tuy nhiên bị hạn chế trong khu vực vùng chậu:

Giai đoạn IIA:

Tế bào ung thư đã lan rộng đến phần trên.

Chưa ảnh hưởng đến phần dưới của âm đạo.

Giai đoạn IIB: tế bào ung thư lan rộng đến mô ở dạ con.

Giai đoạn 3: tế bào ung thư đã ảnh hưởng đến các khu vực dưới của âm đạo:

Giai đoạn IIIA:

Chỉ có các khu vực dưới của âm đạo bị ảnh hưởng.

Ung thư được giới hạn ở khu vực đó.

Giai đoạn IIIB:

Tế bào ung thư đã lan rộng ra thành vùng chậu.

Ngăn cản dòng chảy của nước tiểu tới bàng quang.

Giai đoạn 4 (giai đoạn cuối): khu vực khác ngoài cổ tử cung cũng bị ảnh hưởng. Tế bào ung thư chuyển sang di căn ra khắp cơ thể và các bộ phận xung quanh:

Giai đoạn IVA: bàng quang hoặc trực tràng bị ảnh hưởng.

Giai đoạn IVB:

Giai đoạn này được coi là giai đoạn nặng.

Giai đoạn hết khả năng chữa trị bệnh.

Các cơ quan xa tế bào ung thư cũng bị ảnh hưởng: não, phổi,…

Các thời kỳ của bệnh ung thư cổ tử cung đã được mô tả ở trên. Các bác sĩ thường sử dụng xét nghiệm Pap để phát hiện các tế bào bất thường ở cổ tử cung. Sau đó, sẽ đánh giá kích thước, mức độ lan rộng của bệnh để đưa ra cách điều trị. Điều trị ung thư cổ tử cung rất phức tạp. Ung thư cổ tử cung ở giai đoạn đầu điều trị là lí tưởng nhất; nhưng đa số các bệnh nhân không phát hiện được bệnh ở giai đoạn này.

Các biện pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Các biện pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung là gì? Ung thư cổ tử cung được chẩn đoán bằng xét nghiệm tế bào được lấy từ cổ tử cung.

Các phương pháp được sử dụng để chẩn đoán ung thư cổ tử cung cụ thể như sau:

Phương pháp khám thực thể.

Biện pháp chẩn đoán Pap smear.

Biện pháp chẩn đoán sinh thiết.

Hình ảnh học: X quang, CT scan, siêu âm hoặc MRI của vùng chậu,…

Dấu hiệu cảnh báo ung thư cổ tử cung không được bỏ qua

Cách phòng tránh ung thư cổ tử cung cho phụ nữ

Phương pháp phòng tránh K cổ tử cung khá đơn giản và dễ dàng thực hiện. Mỗi ngày có khoảng 9 phụ nữ Việt Nam tử vong vì ung thư cổ tử cung; trường hợp bệnh nhân mắc phải căn bệnh này ngày càng trẻ hóa. Tuy nhiên ít người biết K cổ tử cung hoàn toàn có thể phòng ngừa và chữa trị dứt điểm; nếu như được phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.

Ung thư cổ tử cung có chữa được không?

Ung thư cổ tử cung có chữa được không? Đây có lẽ là thắc mắc của khá nhiều người. Câu trả lời là ung thư cổ tử cung hoàn toàn có thể chữa khỏi được. Tùy theo từng giai đoạn ung thư cổ tử cung mà khả năng điều trị thành công sẽ thay đổi. Cụ thể như sau:

Bệnh K cổ tử cung điều trị được không đã trả lời ở trên. Hiện nay, với nền y khoa ngày càng hiện đại và tiến bộ; bệnh ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi được nếu phát hiện sớm. Như vậy, ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi được nếu phát hiện kịp thời. Vì vậy, chị em phụ nữ cần thực hiện tầm soát ung thư phụ khoa; để phát hiện và chữa trị ung thư cổ tử cung kịp thời. Nếu để bệnh càng tiến triển thì việc chữa trị càng trở nên khó khăn.

Ung thư cổ tử cung: Không còn là nỗi lo!

Các biện pháp điều trị ung thư cổ tử cung

Phẫu thuật điều trị ung thư cổ tử cung: là phương pháp phổ biến.

Hóa trị: đưa hóa chất vào cơ thể để chống lại tế bào ung thư.

Xạ trị trước khi phẫu thuật để làm giảm kích thước khối u.

Xạ trị sau phẫu thuật để tiêu diệt tận gốc tế bào ung thư.

Bệnh nhân không phẫu thuật được thì tiến hành xạ trị trong và ngoài.

Các phương thức điều trị ung thư cổ tử cung đã được giới thiệu ở trên. Ung thư cổ tử cung là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Có nhiều phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung hiệu quả. Nhưng lưu ý rằng, căn bệnh này có tiên lượng sống sót cao hơn nhiều nếu được phát hiện sớm. Các biện pháp điều trị K cổ tử cung sẽ thành công khi được điều trị ở giai đoạn đầu.

Những quan niệm sai về ung thư cổ tử cung

Những quan niệm sai về ung thư cổ tử cung là gì? Hiện nay, ung thư cổ tử cung đang là một căn bệnh không còn xa lạ đối với xã hội; đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi từ 15-44 tuổi. Ung thư cổ tử cung gây ra nhiều gánh nặng cho chính bản thân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, theo khảo sát gần đây, nhiều người vẫn có quan niệm sai về căn bệnh nguy hiểm này. Cụ thể như sau:

Ung thư cổ tử cung là bệnh di truyền.

Vệ sinh cá nhân sạch sẽ không bị ung thư cổ tử cung.

Chỉ khám phụ khoa định kỳ và tầm soát là đủ.

Chủng ngừa ung thư cổ tử cung sớm là không cần thiết.

Nhiễm HPV sẽ dẫn đến ung thư cổ tử cung.

Đã tiêm chủng ngừa HPV thì không cần khám tầm soát.

Dự đám tang làm cho bệnh di căn nhanh hoặc tái phát trở lại.

Sừng tê giác chữa được ung thư cổ tử cung.

Thay thế liệu pháp chữa trị ung thư cổ tử cung.

Những quan điểm chưa đúng về ung thư cổ tử cung đã được nêu lên ở trên. Theo HPV Information Center (2018), ở Việt Nam ung thư cổ tử cung phổ biến thứ 3 ở phụ nữ. Mỗi năm khoảng 4.177 ca mắc mới và 2.420 ca tử vong do căn bệnh này; tức mỗi ngày có 7 phụ nữ Việt tử vong do ung thư cổ tử cung. Nếu không phát hiện điều trị sớm, ung thư cổ tử cung có thể có những biến chứng nguy hiểm.

Chế độ dinh dưỡng cho người bị ung thư cổ tử cung

Chế độ ăn uống cho người bị K cổ tử cung hợp lý rất quan trọng. Chế độ ăn uống an toàn sẽ cải thiện sức khỏe, hỗ trợ điều trị ung thư thuận lợi hơn. Những bệnh nhân đang trong quá trình điều trị; nên kết hợp chế độ dinh dưỡng hợp lý với những liệu pháp điều trị bệnh của bác sĩ; để đem lại kết quả chữa bệnh tốt nhất.

Thực phẩm phòng bệnh ung thư cổ tử cung ” Những thực phẩm phòng bệnh UNG THƯ CỔ TỬ CUNG “

Đồ ăn cho người ung thư cổ tử cung

Đồ ăn cho người ung thư cổ tử cung là gì? Để cơ thể luôn khỏe mạnh, tăng sức đề kháng để chống chọi lại bệnh ung thư tử cung; cần bổ sung vào thực đơn dinh dưỡng những thực phẩm nhiều dinh dưỡng. Cụ thể như sau:

Sữa, sản phẩm làm từ sữa: phô mai, sữa chua, sữa lắc,…

Trứng luộc.

Gà, thịt nạc, gà tây.

Cá gồm cá nước ngọt và nước mặn, cùng các loại sò hến.

Đu đủ: chứa hàm lượng Vitamin C, Beta-cryptoxanthin và Zeaxanthin rất dồi dào.

Quả mâm xôi: giàu dinh dưỡng, ngăn sự phát triển tế bào nhiễm HPV.

Trà xanh: giàu chất chống Oxy hóa, ngăn chặn chất Urokinase.

Măng tây: ngăn tế bào K phát triển, tăng khả năng miễn dịch.

Cà rốt: cung cấp dưỡng chất, ức chế sự phát triển tế bào K.

Cá hồi: giàu Axit béo Omega-3 và chất chống ung thư Astaxanthin.

Nghệ: tiêu diệt tế bào gây hại, ức chế ung thư di căn.

Bông cải xanh: hạn chế lây lan tế bào K, bổ sung khoáng chất.

Rau Arugula: ngăn ngừa chất độc hại, ức chế lây lan tế bào K.

Quả cherry: chứa Perillyl phá vỡ tế bào K, giúp không di căn.

Mầm cải Brussels: có Indole-3-carbinol thúc đẩy quá trình giải độc.

Các loại hạt: lúa mì, gạo lứt, bột yến mạch, bánh mì ngũ cốc,…

Các loại đậu: đậu nành, sản phẩm từ đậu nành, đậu Hà Lan,…

Thực phẩm cho người bị ung thư cổ tử cung được khuyên dùng ở trên. Các thực phẩm khi dùng cho người bệnh phải được rửa sạch, tiệt trùng, nấu chín. Bệnh nhân có thể dùng thêm các loại sinh tố, trà, đồ uống điện giải pha loãng. Nên chia thực phẩm ăn thành nhiều bữa, mỗi bữa cách nhau khoảng 2-3 giờ đồng hồ.

Ung thư cổ tử cung không nên ăn gì?

Thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh.

Thực phẩm cay nhiều gia vị.

Hạn chế đồ ăn lên men chua, mặn.

Rượu bia và chất kích thích.

Các loại thịt đỏ.

Bệnh K cổ tử cung nên kiêng những loại thức ăn kể ở trên. Xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học, kiêng món ăn độc hại; là yếu tố quan trọng cải thiện bệnh ung thư cổ tử cung. Dinh dưỡng mà bệnh nhân ung thư cổ tử cung cần theo mỗi giai đoạn là khác nhau. Chính vì thế, việc tham khảo lời khuyên của bác sĩ điều trị là điều nhất thiết cần thực hiện.

Bài thuốc hữu ích:

hiennt.utvn

Ung Thư Cổ Tử Cung Biểu Hiện Ra Sao? Cách Điều Trị U Tử Cung

Ung thư cổ tử cung biểu hiện, triệu chứng, dấu hiệu nhận biết bệnh như thế nào? Ung thư tử cung là một trong những căn bệnh nguy hiểm ở nữ giới. Dựa trên biểu hiện để phát hiện ung thư cổ tử cung. Từ đó người bệnh được điều trị kịp thời bằng các phương pháp phù hợp. Điều trị ung thư cổ tử cung giúp phòng ngừa di căn.

Ung thư cổ tử cung là một trong những căn bệnh nguy hiểm hiện nay. Xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trên thế giới. Với ung thư cổ tử cung thì chủ yếu do các tế bào ở cổ tử cung phát triển một cách mạnh mẽ, mất kiểm soát gây ra. Và dần tạo nên các khối u bên trong tử cung.

Tuy nhiên thì mọi người cũng cần biết về vấn đề Ung thư cổ tử cung biểu hiện ra sao? Để có thể phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì sẽ có khả năng chữa khỏi.

Ung thư cổ tử cung biểu hiện ra sao?

Ung thư cổ tử cung biểu hiện ở giai đoạn đầu thường khó có thể phát hiện được. Chỉ đến khi các khối u bắt đầu hình thành và phát triển dần. Ảnh hưởng đến các bộ phận khác thì mới dễ phát hiện. Tuy nhiên cũng sẽ có một số biểu hiện cụ thể sau.

Nếu tự nhiên cảm thấy đau vùng xương chậu đột ngột, thường xuyên thì có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung. Nếu những lúc tới ngày thì cũng có tình trạng đau xương chậu là bình thường. Nhưng những ngày bình thường mà cũng đau ở vùng xương chậu thì cần phải chú ý. Cần đến ngay bác sĩ để kiểm tra và xét nghiệm để chuẩn đoán một cách chính xác nhất.

Nếu thấy âm đạo tiết ra những dịch có màu bất thường như vàng, xanh, có lẫn thêm màu hồng của máu và có mùi. Thì trường hợp này bạn đã gặp một số vấn đề về phụ khoa. Có thể là ung thư buồng trứng và nguy hiểm hơn là ung thư cổ tử cung.

Triệu chứng của bệnh ung thư da đầu giai đoạn đầu như thế nào?

Nếu chưa tới ngày mà bị chảy máu một cách bất thường thì cần phải cảnh giác ngay. Nếu thấy lạ thì cần phải đi kiểm tra và xét nghiệm ngay vì đây cũng chính là một trong những biểu hiện của bệnh ung thư cổ tử cung.

Nếu hỏi Ung thư cổ tử cung biểu hiện ra sao thì không thể bỏ qua triệu chứng này. Chu kì kinh nguyệt của bạn thường không đến đúng ngày so với trước đây. Muộn hơn hay trễ hơn trong thời gian quá lâu, hay máu kinh nguyệt có màu đen sẫm…thì cần phải đi kiểm tra ngay.

Nếu lúc đi tiểu chảy máu, hay hắt hơi mà bị són tiểu, đay thì nên đi khám ngay. Vì đây là một trong những triệu chứng của ung thư cổ tử cung không nên bỏ qua. Và triệu chứng này rất nguy hiểm, vì lúc này thì các tế bào ung thư có thể đã lan rộng ra nhiều bộ phận khác.

Vì khi cơ thể mắc bệnh thì thiếu máu một các nghiêm trọng. Lúc này số lượng tế bào hồng cầu khỏ mạnh đang bị giảm đi rất nhiều. Và thay vào đó là các tế bào bạch cầu nên khiến năng lượng bị hao mòn. Dẫn tới cơ thể bị mệt mỏi, xanh xao, giảm cân, chán ăn,…

Thuốc phòng ngừa ung thư cổ tử cung được tin dùng hiện nay là gì?

Các phương pháp và cách điều trị u tử cung

Nhưng những phương pháp điều trị thường được áp dụng hiện nay như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị.

Khi phẫu thuật thì bác sĩ thường sẽ cắt bỏ những khối u của ung thư như:

Cắt bỏ cổ tử cung: Nhưng mô xung quanh phần trên của âm đạo, vẫn giữ nguyên tử cung.

Cắt bỏ tử cung: Bao gồm cả cổ tử cung và tử cung. Nên có thể sẽ cắt bỏ cả buồng trứng và ống dẫn trứng nếu là giai đoạn cuối. Nên nếu cắt bỏ tử cung sẽ không thể có con.

Đoạn chậu: Một khi đã phẫu thuật đoạn chậu có nghĩa là phải cắt bỏ cả tử cung và buồng trứng. Nên nguy cơ vô sinh sẽ rất cao, cũng như khó có thể chữa khỏi.

Với hóa trị liệu thì thường được áp dụng sau khi phẫu thuật. Hoặc kết hợp với xạ trị để điều trị các tế bào ung thư còn xót lại sau khi phẫu thuật, hay xạ trị.

Xạ trị là phương pháp chiếu các chùm tia năng lượng vào các tế bào ung thư. Nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư đang phát triển đối với các bệnh nhân giai đoạn muộn, hay không thể phẫu thuật được.