Ung Thu Bi Tai Phat / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Phòng Khám Siêu Âm Bé Bi

Phòng khám siêu âm thai 4 chiều Bé Bi là một trong những cơ sở khám chữa bệnh uy tín tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phòng khám cung cấp cho các khách hàng các dịch vụ siêu âm thai, khám thai bằng công nghệ 4D mang đến chất lượng hình ảnh rõ nét.

Thông tin về phòng khám Siêu âm Bé Bi

Phòng khám siêu âm Bé Bi tọa lạc tại số 264B Nguyễn Tiểu La, Phường 8, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Là phòng khám tư nhân, ngoài việc ngoài giờ, được Sở Y tế Thành phố cấp giấy phép hoạt động dịch vụ y tế.

Từ những ngày đầu hoạt động đến hiện tại, phòng khám luôn nhận được nhiều phản hồi tốt từ các khách hàng Quận 10 và các khu vực lân cận. Phòng khám luôn tiếp nhận các ý kiến đóng góp từ các khách hàng để xây dựng phòng khám trở thành địa chỉ khám chữa bệnh uy tín.

1. Đội ngũ bác sĩ

Bên cạnh đó, phòng khám còn có cả đội ngũ nhân viên trực điện thoại, tư vấn và hướng dẫn cho các bệnh nhân, làm việc với tác phong chuyên nghiệp, luôn niềm nở, thân thiện với các khách hàng.

2. Cơ sở vật chất

Phòng khám siêu âm Bé Bi hoạt động với quy mô nhỏ, nhưng không ngừng chú trọng đầu tư các cơ sở vật chất, thiết bị y tế, máy móc cần thiết để quá trình điều trị được diễn ra an toàn, chẩn đoán bệnh cho các bệnh nhân thêm chính xác.

3. Dịch vụ khám chữa bệnh

Phòng khám siêu âm thai Bé Bi luôn mang đến cho các khách hàng các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng như siêu âm 4D, khám thai định kỳ cho sản khoa, điều trị đau họng,… Để biết thêm thông tin về dịch vụ khám chữa bệnh ở đây, bệnh nhân vui lòng liên hệ trực tiếp với phòng khám để được tư vấn và hỗ trợ.

4. Chi phí khám chữa bệnh

Hiện tại, phòng khám siêu âm Bé Bi chưa cập nhật mức giá khám chữa bệnh. Bạn đọc quan tâm về vấn đề này, có thể liên hệ trực tiếp với phòng khám để biết thêm thông tin.

5. Quy trình khám chữa bệnh

Quy trình khám chữa bệnh tại phòng khám siêu âm Bé Bi tương tự như các phòng khám ngoài giờ hoặc tư nhân khác. Phòng khám siêu âm Bé Bi gồm các bước khám chữa bệnh đơn giản sau, bạn đọc có thể tham khảo qua:

Bước 1: Bệnh nhân làm thủ tục đăng ký khám chữa bệnh và lấy số thứ tự.

Để thuận tiện hơn trong việc khám chữa bệnh, bệnh nhân có thể đặt lịch hẹn khám trước khi di chuyển đến phòng khám.

Bước 2: Thanh toán chi phí ban đầu (nếu có).

Bước 3: Ngồi chờ bác sĩ ngoài buồng khám và vào phòng khi tới lượt khám của mình.

Bước 5: Tiến hành siêu âm 4 chiều theo chỉ định của bác sĩ.

Bước 6: Nhận kết quả điều trị và toa thuốc từ bác sĩ.

Bước 7: Nhận thuốc tại nhà thuốc của phòng khám.

Bước 8: Thanh toán chi phí khám chữa bệnh còn lại tại quầy thu ngân.

Bước 9: Ra về rồi quay trở lại phòng khám để tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ (nếu có).

6. Thời gian làm việc

Phòng khám siêu âm thai 4 chiều Bé Bi hoạt động và làm việc trong khung giờ cụ thể sau:

7. Thông tin liên hệ

Địa chỉ: Số 264B Nguyễn Tiểu La, Phường 8, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

Số điện thoại: (028) 3502 2731 – 0932 796 790

Ung Thu Khoang Mieng, Ung Thu, Dieu Tri Ung Thu Khoang Mieng, Benh Ung Thu Khoang Mieng, Nguyen Nhan Mac Benh Ung Thu, Phuong Phap Dieu Tri Ung Thu

Khái niệm về ung thư khoang miệng: bệnh ung thư khoang miệng là một loại bệnh có khối u ác tính trong khoang miệng thường hay gặp. Ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu khá giống với bệnh viêm loét khoang miệng, có rất nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư vòm họng trong giai đoạn đầu thường lầm tưởng là mình bị nhiệt miệng, loét miệng đơn thuần hoặc chỉ là một căn bệnh về miệng nào đó, chính điều này đã làm bỏ lỡ mất cơ hội điều trị bệnh sớm nhất và tốt nhất.

Nguy cơ gây ung thư khoang miệng:

Các nguyên nhân dẫn đến ung thư khoang miệng cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng trong đó vẫn có các yếu tố sau: hút thuốc lá và uống bia rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mắc bệnh trong một thời gian dài: niêm mạc miệng bị kích thích bởi một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào hoặc bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài. Ở Việt Nam, những người ăn trầu thuốc (thuốc lào) trong thời gian dài cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư này. Thói quen ăn trầu thuốc, răng lệch lạc, vệ sinh răng miệng kém… có thể gây nên những tổn thương cơ học trong khoang miệng tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư phát triển. Bệnh cũng thường gặp ở nhóm nam giới trên 40 tuổi;…

Ung thư khoang miệng có những triệu chứng

1. Đau đớn: giai đoạn đầu thông thường không đau hoặc chỉ một chỗ nào đó trong miệng có cảm giác bất thường khi chạm vào, nếu như xuất hiện vết loét da miệng gây cảm giác đau, theo đà xâm lấn của khối u tới những dây thần kinh xung quanh, có thể dẫn đến đau trong tai và khoang mũi họng.

2. Thay đổi sắc da: Niêm mạc khoang miệng nếu như thay đổi màu sắc, màu nhợt hoặc màu đen lại, có nghĩa là khi đó tế bào biểu mô niêm mạc miệng đang thay đổi. Đặc biệt là niêm mạc miệng chuyển thô, dày hơn hoặc xơ cứng lại, xuất hiện niêm mạc miệng trắng bợt hoặc ban đỏ, rất có thể là biến chứng của ung thư.

3. Loét không khỏi: Vết loét miệng thông thường không thể quá 2 tuần mà không khỏi, nếu như có cảm giác nóng rát, đau quá thời gian 2 tuần vẫn không đỡ nên cảnh giác với ung thư khoang miệng.

4. Sưng hạch: ung thư hạch thường di căn đến vùng hạch cổ gần đó, có khi ổ bệnh nguyên phát rất nhỏ, thậm chỉ triệu chứng còn chưa rõ, nhưng hạch vùng cổ đã bị di căn. Do đó, khi hạch vùng cổ đột ngột sưng to, cần đi kiểm tra chụp CT, để kiểm tra có phải hạch do ung thư hay không.

5. Bên trong khoang miệng chảy máu: Chảy máu là một tín hiệu nguy hiểm lớn của bệnh ung thư khoang miệng. Vì khối u phát triển trong khoang miệng tiếp xúc nhẹ cũng sẽ gây chảy máu.

6. Chức năng gặp trở ngại: Khối u có thể xâm lấn cơ đóng mở miệng và xương cằm làm cho vận động đóng mở của cơ miệng bị giới hạn, gây ra hiện tượng ngậm mở miệng khó khăn.

7. Xương hàm và răng: một vị trí nào đó tại xương hàm sưng to, làm cho mặt bị lệch. Đột nhiên xuất hiện hiện tượng răng lung lay, rụng, khi nhai đồ ăn khó khăn, có cảm giác khó nhai như người lắp răng giả, vùng khoang mũi họng tê, đau, sau khi điều trị thì bệnh không có chuyển biến, nên cảnh giác là căn bệnh ung thư khoang miệng.

8. Vận động của lưỡi và tri giác: tính linh hoạt của lưỡi bị hạn chế, dẫn đến nhai, nuốt hoặc nói khó khăn, hoặc một bên lưỡi mất cảm giác, tê, tất cả đều cần kiểm tra xác định nguyên nhân sớm.

Ngoài ra còn xuất hiện các hiện tượng khác như sự bất thường ở thần kinh mặt, cảm giác tê, chảy máu mũi không rõ nguyên nhân…, cũng phải lập tức đến bệnh viện sớm để kiểm tra tìm nguyên nhân chính xác.

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Ung thư khoang miệng được chia làm 4 giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 và 2 được coi là giai đoạn sớm. Tùy theo giai đoạn của khối u mà bệnh nhân sẽ được điều trị các biện pháp thích hợp. Ở giai đoạn sớm, việc điều trị ung thư khoang miệng sẽ đơn giản và đạt hiệu quả cao, người bệnh có thể bảo tồn được chức năng của khoang miệng cũng như đảm bảo về mặt thẩm mỹ. Còn ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hiệu quả điều trị kém, gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh.

Do đó khi thấy một trong các dấu hiệu đã nêu trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám. Ngoài ra để phòng và hạn chế nguy cơ gây ung thư khoang miệng cần thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, không nên hút thuốc lá, uống rượu, ăn trầu,… giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Phương pháp chẩn đoán ung thư miệng

1. Kiểm tra hình ảnh học

(1) Kiểm tra đồng vị phóng xạ có thể cho biết tình trạng tuyến giáp và di căn xương của ung thư miệng.

(2) Chụp Xquang và chụp cắt lớp, có thể giúp bác sỹ nắm được thông tin tương đối có giá trị về tình trạng bệnh khi ung thư miệng di căn đến xương hàm trên, hàm dưới, xoang mũi và các khoang cạnh mũi.

2. Xét nghiệm tế bào học và sinh thiết

(1)Xét nghiệm tế bào học phù hợp cho tiền ung thư chưa có triệu chứng hoặc ung thư giai đoạn đầu mà phạm vi xâm lấn của ung thư chưa rõ ràng, sử dụng cho những trường hợp kiểm tra sàng lọc, sau đó đối với những kết quả dương tính và hoài nghi ung thư sẽ tiếp tục tiến hành sinh thiết xác định chính xác bệnh.

(2)Đối với chuẩn đoán ung thư miệng biểu mô tế bào vảy thông thường áp dụng chọc hút hoặc cắt một phần khối u đi sinh thiết. Vì niêm mạc bề mặt thường loét hoặc không bình thường, vị trí nông, nên tránh tổ chức hoại tử, lấy tế bào tại nơi tiếp xúc giữa tổ chức ung thư với các tổ chức bình thường xung quanh, khiến cho những tiêu bản lấy được vừa có tế bào ung thư vừa có tế bào thường.

3. Tự kiểm tra

(1)Kiểm tra vùng đầu: Tiến hành quan sát sự đối xứng, chú ý sự thay đổi màu sắc da với vùng đầu và cổ.

(2) Kiểm tra vùng cổ: dùng tay kiểm tra, từ sau tai sờ đến xương hàm, chú ý khi sờ có thấy đau và sưng hay không.

(3) Kiểm tra môi: Trước tiên lật bên trong môi dưới, quan sát môi và niêm mạc trong môi, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái lật môi dưới từ trong ra ngoài, từ bên trái qua bên phải, sau đó kiểm tra môi trên cũng giống như vậy, sờ xem có khối u hay không, quan sát xem có tổn thương gì hay không. Tiếp đó dùng phương pháp tương tự kiểm tra bên trong môi trên.

(4) Kiểm tra lợi: Kéo môi ra, quan sát lợi, và kiểm tra bằng cách sờ vùng má xem có bất thường gì không.

(5) Kiểm tra lưỡi: đưa lưỡi ra, quan sát màu sắc và kết cấu lưỡi, dùng gạc vô trùng bọc đầu lưỡi lại sau đó kéo lưỡi hướng sang phải, rồi sang trái để quan sát 2 bên cạnh của lưỡi.

(6) Kiểm tra vòm miệng phía trên : đối với kiểm tra vòm miệng cần dùng phần tay cầm của bàn chải đánh răng đè lưỡi bẹt xuống, đầu hơi ngả về phía sau, quan sát màu sắc và hình thái của ngạc mềm và ngạc cứng.

#1【Đốt Điện Cuốn Mũi Dưới】Tai Mũi Họng Bệnh Viện Thu Cúc

Thủ thuật đốt điện cuốn mũi dưới thực hiện tại Bệnh viện Thu Cúc bởi các bác sĩ giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm. Đây là phương pháp hiệu quả nhằm thu nhỏ cuốn mũi dưới, giải quyết vấn đề lưu thông không khí qua mũi. Tại chuyên khoa Tai mũi họng thuộc Bệnh viện Thu Cúc, người bệnh được khám và điều trị với các thiết bị chất lượng cao, sự chăm sóc và hỗ trợ ở mức tối đa.

Cuốn mũi là gì?

Cuốn mũi là những mảnh xương xoắn mỏng, nhô ra từ hai vách mũi và được bao bọc bởi niêm mạc mũi. Trong mũi mỗi bên có 3 – 4 cuốn mũi tạo sự khúc khuỷu để không khí đi từ từ qua mũi giúp ấm không khí, tăng độ ẩm, lọc sạch không khí. Nếu cuốn mũi bị phù đại sẽ che lấy lối đi của không khí gây khó thở cho người bệnh.

Triệu chứng cuốn mũi phù nề

Khi cuốn mũi bị kích thích bởi các tác nhân gây viêm nhiễm nhưng không được điều trị trong thời gian dài sẽ gây hiện tượng cuốn mũi phù nề.

Cuốn mũi phù nề thường biểu hiện thành những dấu hiệu điển hình:

Cuốn mũi phù nề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần của người bệnh. Cụ thể:

Đốt cuốn mũi có tốt không?

Đốt cuốn mũi là một phương pháp giúp làm giảm đáng kể thể tích mô bệnh một cách chính xác. Tuy nhiên việc đốt cuốn mũi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đường hô hấp, không khí khi vào cơ thể không được lọc sạch bụi bẩn, không được làm ấm trước khi vào phổi,… Do đó, chỉ trong trường hợp bắt buộc thì người bị cuốn mũi phì đại mới nên đốt cuốn mũi. Việc đốt cuốn mũi phải theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Cuốn mũi phù nề điều trị thế nào?

Có nhiều phương pháp điều trị căn bệnh phì đại cuốn mũi có nhiều giải pháp khác nhau.

Sử dụng thuốc Tây y chữa viêm cuốn mũi

Cách điều trị viêm cuốn mũi quá phát thường là dùng kết hợp thuốc nhỏ và thuốc xịt mũi theo chỉ định cả bác sĩ.

Thuốc giảm phù nề: Các loại thuốc chứa thành phần Hormone có tác dụng làm co mạch máu, giảm phù nề cuốn mũi nhanh chóng. Tuy nhiên, hiệu quả chỉ trong thời gian ngắn.Thuốc kháng histamine: giúp giảm thiểu tần suất, mức độ nghiêm trọng của phản ứng miễn dịch, giảm sưng cuống mũi khi bị dị ứng.Thuốc xịt steroid: giúp cải thiện tình viêm cuống mũi và cải thiện hô hấp.

Dùng thuốc Đông y trị viêm cuốn mũi

Theo Đông y, viêm cuốn mũi là do phong hàn, phong nhiệt làm khế khí bị mất điều hòa. Bài thuốc được dùng trong trường hợp này gồm các vị thuốc: Ké đầu ngựa (16g), Hạ khô thảo (12g), Tân di (8g), Bạc hà (6g), Cát cánh (4g), Bạch chỉ (4g), Cam thảo (12g),…

Trường hợp nguyên nhân gây viêm cuốn mũi là do phong hàn, nước mũi trong thì bỏ hạ thảo khô, thêm 12g kinh giới, 8g phòng phong và 8g khương hoạt. Nếu nguyên nhân do phong nhiệt, nước mũi có màu vàng, đục thì thêm tang bạch bi và hoàng cầm mỗi loại 12g.

Kiên trì áp dụng và kết hợp châm cứu và nhĩ châm sẽ thấy tình trạng viêm cuốn mũi thuyên giảm hẳn.

Sử dụng phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật cuốn mũi có 2 dạng cắt cuốn mũi và đốt cuốn mũi, được chỉ định trong một số trường hợp nhất định

Cắt cuốn mũi

Nếu cuốn mũi dưới bị thoái hóa sẽ phải cắt 1/3 cuốn mũi dưới. Trường hợp cuốn mũi giữa bị thoái hóa thì sẽ phải cắt bỏ hết. Phẫu thuật cắt cuốn mũi có thể gây ra biến chứng sau phẫu thuật là chảy máu và dính.

Sử dụng sóng năng lượng tần số radio để giảm thể tích cuốn mũi. Đây là thủ thuật đặc hiệu làm giảm đáng kể các biểu hiện của phì đại cuống mũi như tắc nghẽn đường thở và rối loạn giấc ngủ.

Đốt cuốn mũi thường được chỉ định trong các trường hợp cần đốt cuốn mũi bao gồm:

Những lưu ý khi điều trị bệnh

Để ngăn ngừa và giảm các triệu chứng của bệnh, cần thực hiện những điều sau:

Giữ ấm cho cơ thể mỗi khi trời lạnh

Không tự ý ngoáy mũi

Chi bị ngạt mũi cần điều trị ngay và vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý đều đặn…

Ngưng tiếp xúc với các chất kích ứng cũng như chất gây dị ứng.

Khi phì đại cuốn mũi xảy ra, có thể làm dịu đi tình trạng bệnh bằng các thuốc xịt rửa mũi và các thuốc chống dị ứng tại chỗ.

Phẫu thuật chỉ đặt ra khi bệnh mãn tính, không đáp ứng với thuốc, hoặc trường hợp người bệnh không thể dùng thuốc vì một lý do nào đó.

Thủ thuật đốt điện cuốn mũi dưới tại Bệnh viện Thu Cúc

Thủ thuật đốt điện cuốn mũi dưới thực hiện tại Bệnh viện Thu Cúc bởi các bác sĩ giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm. Tại chuyên khoa Tai mũi họng thuộc Bệnh viện Thu Cúc, người bệnh được khám và điều trị với các thiết bị chất lượng cao, sự chăm sóc và hỗ trợ ở mức tối đa.

Quy trình thực hiện đốt điện cuốn mũi dưới tại Thu Cúc

Dụng cụ để thực hiện đốt cuốn mũi dưới bao gồm đông điện, banh mũi, nguồn sáng đeo trán (đèn clar, đèn trán), que bông, bấc, thuốc tê niêm mạc. Trước khi thực hiện thủ thuật, người bệnh cũng được bác sĩ giải thích rõ về thủ thuật, tránh tâm lý lo lắng.

Trước hết, bác sĩ cho gây tê toàn bộ cuốn mũi dưới bằng thuốc tê niêm mạc (xylocain 6 – 10%). Dùng que bông bôi thuốc nhiều lần khắp bề mặt cuốn, khe giữa và dưới cuốn mũi hoặc đặt bấc tẩm thuốc tê niêm mạc.

Biến chứng có thể gặp nếu không đốt điện cuốn mũi dưới

Ý kiến người bệnh

“Em tôi mắc chứng phì đại cuốn mũi và đã đi chữa ở một nơi khác trước khi lên Hà Nội khám ở Bệnh viện Thu Cúc. Khoa Tai mũi họng ở Thu Cúc rất sạch đẹp và tiện nghi, các thiết bị lại rất hiện đại. Bác sĩ chuyên khoa đã khám cẩn thận và đưa ra cách điều trị bằng đốt điện cuốn mũi dưới cho em tôi. Kết quả điều trị rất khả quan. Giờ em tôi đã khỏi bệnh rồi, không còn khổ sợ vì thường xuyên tắc mũi, nhức đầu nữa. Tôi rất mừng vì đã giúp em có lựa chọn đúng về địa chỉ khám chữa bệnh này”. – Hồ Thu Thủy – Thái Bình.

U Vú, Tiên Lượng Ác Tính Theo Phân Loại Bi

 U vú, tiên lượng ác tính theo phân loại BI-RADS siêu âm và X-quang

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV103, HVQY

1. Sơ lược giải phẫu tuyến vú

Giải phẫu tuyến vú.

– Mỗi tuyến vú được tạo nên từ 15-20 thuỳ tuyến. Mỗi thuỳ tuyến gồm có nhiều tiểu thuỳ nằm rải ra trong tổ chức liên kết đệm và tổ chức mỡ của tuyến vú. Kích thước tuyến vú phụ thuộc chủ yếu vào số lượng của tổ chức liên kết đệm và tổ chức mỡ của vú.

+ Tiểu thuỳ tuyến là đơn vị cấu trúc cơ bản của tuyến vú, mỗi tiểu thuỳ tuyến có một ống tiểu thuỳ, từ ống này tách ra nhiều ống tuyến nội tiểu thuỳ, mỗi ống tuyến nội tiểu thuỳ lại chia ra các túi tận cùng là các tuyến sữa (còn gọi là các Acini). Một tiểu thuỳ tuyến vú có từ 3-100 (hoặc hơn) các Acini.

+ Các ống tiểu thuỳ trong một thuỳ tuyến sẽ đổ về ống tuyến sữa chính tương ứng với thuỳ tuyến đó. Các ống tuyến chính này đổ tập trung về quầng vú và vào núm vú. Như vậy ở núm vú sẽ có khoảng 15-20 đầu cuối của ống tuyến sữa chính, mỗi đầu đại diện cho đường ra của một thuỳ tuyến vú riêng biệt.

– Các thuỳ tuyến không phân bố đều trong tuyến vú. Các vùng phía ngoài, nhất là một phần tư trên ngoài có nhiều thuỳ tuyến hơn. Vì vậy, vùng này tổ chức tuyến vú có vẻ chắc hơn và hay gặp Ung thư hơn.

2. Một số bệnh lý tuyến vú dạng u

2.2. Các bệnh của hệ thống ống tuyến sữa

2.2.1. Nang sữa đóng kén (Galactocele)

– Nang sữa đóng kén là một bệnh ở ống tuyến sữa chính của tuyến vú. Bệnh gặp ở những phụ nữ cho con bú. Nguyên nhân là do có một hay vài ống tuyến sữa chính bị tắc nên sữa bị ứ lại, làm dãn dần và phá huỷ thành ống, phát triển quá trình viêm và xơ hoá của tổ chức xung quanh để bao lấy vùng tổn thương. Kết quả là tạo nên một nang nằm trong tổ chức tuyến vú.

Nang có thể to nhỏ khác nhau. Trong lòng thường chứa đầy dịch sữa loãng hay đặc. Lớp ngoài cùng của thành nang là tổ chức liên kết xơ tương đối chắc (trong lớp này có thể còn thấy các thành phần còn lại của ống tuyến sữa chính), lớp trong của thành nang thường có xâm nhiễm các tế bào viêm và tổ chức hoại tử.

-Triệu chứng:

+ Lâm sàng: Xuất hiện một khối (nốt) trong tuyến vú ở phụ nữ có cho con bú. Khối đó thường không đau. Khám vú thấy khối tổn thương thường nằm gần núm vú, có hình tròn hay bầu dục, mặt nhẵn, ranh giới khá rõ, mật độ mềm và đàn hồi, kích thước to nhỏ khác nhau (đường kính có thể 1-6 cm), di động, không đau. Khi bóp vào khối tổn thương có thể thấy dịch sữa chảy ra đầu núm vú.

+ Cận lâm sàng: Siêu âm tuyến vú thấy nang trong tuyến vú. Chọc hút sinh thiết tuyến vú thấy có dịch sữa.

– Điều trị:

+ Có thể chọc hút điều trị nang sữa đóng kén (dùng kim cỡ 22). Tuy nhiên kết quả thường không chắc chắn.

+ Nếu sau chọc hút thấy nang lại tái phát trong vòng 2 tháng thì phải chỉ định mổ cắt bỏ nang. Phẫu thuật này vừa để điều trị vừa để chẩn đoán mô bệnh học.

2.2.2. Dãn ống tuyến sữa (Duct ectasia)

– Bệnh dãn ống tuyến sữa là một bệnh ở ống tuyến sữa chính của tuyến vú. Bệnh thường xuất hiện ở những phụ nữ đẻ nhiều và cho con bú nhiều năm. Sau nhiều năm cho con bú, một số hoặc tất cả các ống tuyến sữa chính sẽ bị dãn ra và chứa đầy dịch sữa, các chất dịch sữa này dần dần đặc lại tạo nên một chất giống như chất phomat. Đồng thời với quá trình này là tình trạng phản ứng viêm mạn tính xảy ra xung quanh các ống tuyến sữa bị dãn.

– Triệu chứng:

+ Lâm sàng: Thường là phụ nữ tuổi trên 40, đẻ nhiều con.  Có nhiều trường hợp thấy chảy dịch núm vú màu trắng hay nhờ nhờ, có lúc giống như chất phomat. Có thể có tiền sử nhiễm trùng tại chỗ vùng dưới quầng vú. Khám vú: Sờ thấy có đám cứng tạo thành các dây ở ngay dưới quầng vú, toả ra phía ngoài một vài centimet. Nặn vú thấy có chất dịch đặc như chất phomat dễ dàng chảy ra từ đầu núm vú. Có thể thấy rõ các chất này chỉ chảy ra từ một vài ống tuyến sữa chính.

+ Cận lâm sàng: Siêu âm tuyến vú thấy các ống tuyến dãn. Chọc hút sinh thiết tuyến vú thấy có dịch sữa.

– Điều trị:

+ Nếu bệnh không gây phiền nhiễu gì lớn cho bệnh nhân thì không cần điều trị gì đặc biệt. Có thể điều trị nhiệt (hồng ngoại, chườm nóng) kết hợp với nặn hút sữa mỗi ngày một đến hai lần.

+ Nếu có nhiễm khuẩn tái diễn nhiều lần ở vùng các ống tuyến sữa bị dãn (thường ở vùng quanh quầng vú và dưới quầng vú) thì có thể chỉ định mổ cắt bỏ hệ thống ống tuyễn sữa chính bị dãn.

2.2.3. Bệnh nang xơ tuyến vú (Fibrocystic)

+ Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do tổ chức tuyến vú bị tác động kéo dài của tình trạng rối loạn cân bằng giữa Estrogen và Progesterone của cơ thể, trong đó Estrogen tăng hơn so với Progesterone (tăng nồng độ Estrogen nội sinh hoặc tăng sự nhạy cảm của tuyến vú đối với nồng độ bình thường của Estrogen nội sinh).

+ Tổn thương thường xuất hiện ở cả hai vú (tuy không đều nhau):

Các ống tuyến sữa thuỳ và tiểu thuỳ có nhiều chỗ bị dãn ra thành các nang có kích thước to nhỏ khác nhau (0,2-1,5 cm). Trong lòng nang chứa dịch tiết và các tế bào biểu mô bị bong ra. Lớp biểu mô tuyến và tổ chức xơ ở thành nang có thể phát triển mạnh và lồi vào trong lòng nang.

Tất cả các biến đổi trên xảy ra ở các mức độ khác nhau trong các ống tuyến thuỳ và tiểu thuỳ, tuỳ theo quá trình nào chiếm ưu thế mà bệnh có thể được chia ra các thể: thể xơ nang hay thể nang xơ. Tuy nhiên có rất nhiều sự chồng chéo cả về dấu hiệu và triệu chứng tương tự nhau đến mức mà trên lâm sàng chúng có thể được coi là một.

+ Bệnh Nang xơ tuyến vú sẽ làm tăng nguy cơ bị ung thư vú, nhất là khi sinh thiết thấy có tình trạng tăng sản không điển hình hoặc trên bệnh nhân có tiền sử ung thư vú gia đình.

– Triệu chứng:

+ Lâm sàng: Đại đa số bệnh nhân ở tuổi 35 – 45. Tăng cảm và đau từ nhẹ đến trung bình ở tuyến vú trước các kỳ kinh. Có trường hợp đau và khó chịu đến mức bệnh nhân không dám mặc áo ngực và không dám đụng chạm đến. Có thể tự sờ thấy có các chỗ lổn nhổn không đều trong tuyến vú. Các triệu chứng trên thay đổi theo các kỳ kinh (trước kỳ kinh các triệu chứng rõ hơn, sau kỳ kinh các triệu chứng giảm đi rõ rệt). Khám vú: thường thấy tổn thương ở cả hai vú với các mức độ khác nhau. Có thể khám thấy có các vùng tuyến vú “dày lên”, mật độ tuyến vú ở vùng này chắc hơn và có các nhân nhỏ trên nền tổ chức đó. Đôi khi có thể thấy có các nang nằm riêng biệt, kích thước nhỏ (<1,5 cm), mật độ mềm hoặc chắc. Nắn tuyến vú thường thấy đau nhẹ. Khi thấy có chảy dịch đầu núm vú khi sờ nắn thì nên cho mổ sinh thiết tuyến vú để chẩn đoán phân biệt với ung thư tuyến vú.

+ Cận lâm sàng: Chụp X-quang tuyến vú, do bệnh nang xơ tuyến vú thường ở lứa tuổi cần được chụp vú để chẩn đoán sàng lọc ung thư, nên phương pháp chụp vú càng có thêm lý do để thực hiện trên những bệnh nhân này. Sinh thiết hút tế bào bằng kim nhỏ: nếu thấy có hình ảnh tăng sản không điển hình các tế bào tuyến vú thì phải chỉ định mổ sinh thiết tuyến vú. Mổ sinh thiết: cho kết quả chẩn đoán xác định bệnh. Chỉ định mổ sinh thiết khi có chảy dịch đầu núm vú tự phát hoặc khi chọc sinh thiết hút tế bào có nghi ngờ ung thư vú.

– Điều trị:

+ Giảm đau: Tuỳ mức độ đau mà có thể dùng các loại thuốc giảm đau khác nhau. Với các trường hợp bệnh nhẹ thì chỉ cần cho các thuốc giảm đau vào trước các kỳ kinh. Có thể thêm thuốc lợi tiểu nhẹ trong tuần trước kỳ kinh. Biện pháp này có tác dụng giảm giữ nước và muối trong cơ thể, nhờ đó giảm được áp lực trong tổ chức tuyến vú và giảm đau tuyến vú.

+ Chế độ ăn: Dùng chế độ ăn giảm cân đối với những phụ nữ béo phì (vì ăn nhiều mỡ thường làm tăng Estrogen nội sinh dẫn đến mất cân bằng Estrogen và Progesterone trong cơ thể). Kiêng dùng các chất Cà phê, chè, Socola… Các loại Vitamin: Vitamin B1 (Thiamine) 50-100 mg/ngày có thể làm giảm được các Estrogen nội sinh. Vitamin E.

+ Điều trị bằng Hormon: Do có tình trạng tăng tương đối của Estrogen so với Progesterone nên có thể làm giảm được bệnh bằng cách làm giảm Estrogen hoặc tăng Progesterone. Có một số biện pháp để thực hiện được mục đích này là: Các thuốc tránh thai đường uống (chứa nhiều Progesterone), sau 3-4 tháng rất nhiều bệnh nhân thấy các triệu chứng được cải thiện rõ ràng.

Các thuốc Progesterone: Medroxyprogesterone (Provera): uống 5-10 mg/ngày trong 10 ngày trước mỗi kỳ kinh. Kem Progesterone (Progesterogel) để xoa bóp vú hàng ngày.

Danazol (một dẫn chất của 17 ethinyl-testosterone, có tác dụng giảm tiết cả Prolactin và Estrogen): có thể dùng 200-600 mg/ngày, khi thấy có tác dụng thì dùng liều duy trì 50 – 100 mg/ngày trong 6 – 8 tháng. Thuốc có nhiều tác dụng phụ nên chỉ dùng cho các bệnh nhân bị nang xơ tuyến vú nặng.

Tamoxifen (có tác dụng kháng Estrogen): Tác dụng điều trị với bệnh nang xơ tuyến vú tương tự như Danazol. Có thể uống 10 mg x 2 lần/ngày trong 3 – 4 tháng, có thể nhắc lại khi cần thiết.

+ Phẫu thuật: Chỉ định cho các trường hợp bệnh rất nặng cần phải tiến hành sinh thiết chẩn đoán rất nhiều lần vì luôn xuất hiện các khối bệnh lý mới và ở những người có nguy cơ bị ung thư vú cao do bị tăng sản tế bào tuyến vú không điển hình… Phương pháp phẫu thuật: Mổ cắt bỏ tuyến vú, để lại da và núm vú nhằm tạo hình lại tuyến vú. Đôi khi có thể chỉ định mổ cắt bỏ buồng trứng (không cắt tuyến vú): biện pháp này về khía cạnh nào đó cũng tương tự như biện pháp điều trị bằng Hormon.

2.3. Các bệnh U lành tính tuyến vú

2.3.1. Bệnh U xơ tuyến vú (Fibroadenoma)

– U xơ tuyến vú hay còn gọi là bướu sợi tuyến, là một dạng u lành tính phổ biến của tuyến vú. U tròn, nhẵn, tạo cảm giác như một u nang nhưng nhẵn, cứng giống như hòn bi rơi vào trong mô vú. U này di động dễ dàng trong mô vú và thường ở gần núm vú nhưng cũng có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi nào trong vú và rất dễ phân biệt với mô vú còn lại.

U xơ tuyến vú là loại u hỗn hợp của tổ chức biểu mô tuyến và tổ chức liên kết ở tuyến vú. Tuỳ thành phần biểu mô tuyến hay tổ chức xơ chiếm ưu thế trong u mà có thể gọi là u tuyến xơ hay u xơ tuyến của tuyến vú. Bệnh thường xảy ra ở những phụ nữ trẻ, ít gặp ở người trên 50 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do tăng mẫn cảm ở các vùng nhất định của tổ chức tuyến vú đối với Estrogen.

– Triệu chứng:

+ Lâm sàng: Các triệu chứng của u xơ vú có thể xấu đi trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc ngay trước đó. Khi hết kỳ kinh nguyệt thì các triệu chứng biến mất. Thông thường, phụ nữ bị u xơ vú có thể cảm thấy đau, rát, sưng và nhạy cảm. Cảm giác căng ngực hay xuất hiện, có thể thấy ngứa ở núm vú…

Bệnh nhân thường ngẫu nhiên phát hiện thấy có một khối to lên ở một tuyến vú, thường không đau và không ảnh hưởng đến sinh hoạt. Khám vú: khối u thường nằm ở vùng một phần tư trên – ngoài của một vú, da trên bề mặt khối u bình thường, bề mặt u nhẵn, mật độ chắc và đàn hồi, có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước khối u có thể to hay nhỏ, ranh giới rất rõ, di động tốt, nắn bóp khối u không đau.

+ Cận lâm sàng:

Siêu âm vú: Thường áp dụng ở phụ nữ dưới 30 tuổi vì mô vú dày ở phụ nữ trẻ làm cho chụp nhũ ảnh khó giải thích. Siêu âm vú có thể giúp xác định một khối u vú là rắn hay chứa đầy chất lỏng. Một khối rắn có nhiều khả năng là một u tuyến xơ, và một khối chứa đầy dịch có nhiều khả năng là u nang.

Chụp nhũ ảnh: Một u tuyến xơ thường xuất hiện trên chụp quang tuyến vú là một khối vú mịn màng, các cạnh tròn, khác biệt với xung quanh mô vú. Để đánh giá một nghi ngờ u tuyến xơ, chụp nhũ ảnh thường được thực hiện cho phụ nữ 30 tuổi trở lên.

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ, xác định được tế bào biểu mô tuyến vú bình thường. Nếu không xác định được chắc chắn thì có giá trị định hướng để mổ sinh thiết khối u. Mổ sinh thiết khối u: vừa để chẩn đoán xác định vừa để điều trị.

– Điều trị: Mổ cắt bỏ khối u với nhiều mục đích. Để điều trị nếu thực sự là u tuyến, xơ tuyến vú lành tính. Để chẩn đoán xác định bệnh về mô bệnh học. Để ổn định về mặt tâm lý và thẩm mỹ cho bệnh nhân. Phương pháp phẫu thuật: Tuỳ vị trí khối u mà chọn đường rạch da phù hợp để đảm bảo thẩm mỹ cho bệnh nhân. Bóc tách cắt bỏ toàn bộ khối u (thường bóc tách và cắt bỏ dễ vì u thường có ranh giới rất rõ với tổ chức tuyến vú xung quanh).

2.3.2. U nhú tuyến vú

– U nhú tuyến vú là một u của tổ chức biểu mô tuyến vú. U được hình thành từ các tế bào biểu mô lát trong lòng ống tuyến sữa chính nên còn gọi là u nhú nội ống (Intraductal Papilloma). Bệnh gây chảy dịch máu đầu núm vú nên luôn cần phải làm xét nghiệm để chẩn đoán phân biệt với ung thư tuyến vú.

– Triệu chứng:

+ Lâm sàng: Bệnh nhân thường thấy ở một vú có dịch chảy ra từ núm vú khi sờ nắn. Dịch có thể có màu trong, có máu hoặc màu xanh nâu (do có máu cũ). Khám Thường không xác định được rõ khối u ở tuyến vú. Nắn bóp tuyến vú thấy dịch chỉ chảy ra từ một ống tuyến sữa ở đầu núm vú. Dịch có thể màu trong, màu xanh nâu hoặc dịch máu.

+ Xét nghiệm:

Xét nghiệm dịch núm vú bằng phương pháp kính phết Papanicolaou có thể xác định được có các tế bào u nhú. Nếu không tìm thấy các tế bào u nhú thì không được kết luận ngay là không có tổn thương bệnh lý.

Chụp vú: Có thể thấy hình ảnh giống các quả bóng nhỏ nằm ở một ống tuyến sữa chính, nhưng các tổn thương phải có kích thước lớn hơn 1cm thì mới nhìn thấy trên phim chụp vú.

– Điều trị: Điều trị bằng phẫu thuật, mổ cắt bỏ u để điều trị đồng thời để xét nghiệm chẩn đoán phân biệt với ung thư tuyến vú. Phương pháp phẫu thuật: Luồn một catheter hay dây nhỏ vào ống tuyến sữa có u nhú, sau đó dựa trên catheter (hay dây nhỏ đó) để mổ bộc lộ ống tuyến sữa chính có u và cắt bỏ u nhú.

2.3.3. Các loại U lành tính khác ở Tuyến vú

– U tuyến tuyến vú (u của biểu mô tuyến tuyến vú đơn thuần).

– Các u của tổ chức liên kết của tuyến vú: U mỡ, u xơ, u xương, u sụn, u mạch máu, u bạch huyết, u da…

+ Các loại u này nói chung ít gặp. Triệu chứng cơ bản là có khối u ở tuyến vú. Cần tiến hành chọc sinh thiết hút tế bào khối u bằng kim nhỏ để định hướng chẩn đoán và điều tri.

+ Điều trị chủ yếu là mổ cắt bỏ khối u. Mục đích mổ cắt khối u là vừa để điều trị vừa để chẩn đoán xác định về mô bệnh học.

3. Siêu âm phân loại BI-RADS (BI-RADS siêu âm)

3.1. Nguồn gốc

Vào năm 2003, nhận thấy siêu âm được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán hình ảnh vú, Hiệp hội Điện quang Mỹ (ACR) đã thành lập ấn bản đầu tiên về thuật ngữ BI-RADS (Breast Imaging – Reporting and Data System) cho siêu âm để nỗ lực tiêu chuẩn hóa các báo cáo và diễn giải hình ảnh, và để cải thiện sự thống nhất thông tin giữa các nhà điện quang, các bác sỹ lâm sàng và các nhà phẫu thuật. Tuy nhiên, thuật ngữ BI-RADS siêu âm (cho đến nay vẫn là bản thứ nhất) đã không được củng cố bằng số liệu có quy mô lớn, mạnh về thống kê đối với các kết quả nghiên cứu, và do đó ít được thừa nhận so với thuật ngữ BI-RADS cho X-quang vú.

3.2. Phân loại BI-RADS siêu âm vú

Bảng 1. Đánh giá siêu âm BI-RADS

Phân loại BI-RADS siêu âm

Đánh giá và quản lý

BI-RADS-0

Chưa hoàn thành: cần thêm hình ảnh để đánh giá

BI-RADS-1

Tổ chức tuyến vú bình thường

BI-RADS-2

Nốt tổn thương lành tính

BI-RADS-3

Nốt tổn thương có thể lành tính: Khoảng thời gian theo dõi ngắn

BI-RADS-4

Nghi ngờ (ác tính): Cần sinh thiết

4A

Mức độ nghi ngờ thấp

4B

Mức độ nghi ngờ trung gian

4C

Mức độ nghi ngờ vừa phải

BI-RADS-5

Rất gợi ý ác tính: Cần sinh thiết

BI-RADS-6

Ác tính đã biết: tiếp tục điều trị

Bảng 2. Các từ mô tả BI-RADS siêu âm.

Mô tả siêu âm

Các đặc điểm thiên về lành tính

Các đặc điểm thiên về ác tính

Các đặc điểm trung gian

Hình dạng nốt

Bầu dục

Tròn, không đều

Hướng của nốt

Song song với mặt da

Không song song với mặt da

Bờ của nốt

Giới hạn rõ

Giới hạn không rõ, có góc cạnh, tua gai

Ranh giới của nốt

Bề mặt chuyển tiếp đột ngột

Có quầng âm

Cấu trúc âm bên trong

Trống âm, tăng âm

Phức hợp

Đồng âm, giảm âm

Đặc điểm của âm phía sau

Có bóng cản, dạng kết hợp

Tăng âm, không có bóng cản

                Hình 1a                                Hình 1b                            Hình 1c

Hình 1 (a, b, c). Hướng và hình dạng. Các khối đặc của vú trên ảnh siêu âm có thể phân loại theo hướng và hình dạng. Hướng của khối đặc hoặc là song song (b) hoặc không song song (a, c) với bề mặt da. (a) Hình tròn (các mũi tên) được định nghĩa như là hình cầu, hình bóng; hình tròn thì hiếm gặp nhưng có tỷ lệ ác tính tương đối cao (60% – 100%). Các tổn thương có hướng không song song bao gồm cả những tổn thương hình tròn. (b) Hình bầu dục (mũi tên) được định nghĩa như là hình elip, hình trứng (bờ có thể có hai hoặc ba chỗ lượn sóng (tức là “chia thùy” hoặc “thùy to”). Khoảng 60% các khối được mô tả siêu âm hình bầu dục được sinh thiết, tỷ lệ ác tính là 16%. (c) Khối hình dạng không đều (méo mó) thì không tròn cũng không bầu dục. Khoảng 40% các khối méo mó được sinh thiết, và xấp xỉ 60% khối trong đó được phát hiện là ác tính.

  

                 Hình 2a                                                   Hình 2b                                 Hình 2c

                                 Hình 2d                                                Hình 2e

              Hình 3a                                Hình 3b                             Hình 3c

Hình 3 (a, b, c). Cấu trúc âm bên trong. Cấu trúc âm của tổn thương trên ảnh siêu âm được mô tả theo quy chiếu với cấu trúc âm của mỡ dưới da vùng vú. Tổn thương (các mũi tên chỉ) được mô tả là giảm âm (a), đồng âm (b), hoặc tăng âm (c) so với mỡ (đầu các mũi tên). Bởi vì phần lớn các khối đặc của vú là giảm âm, bao gồm cả u xơ tuyến và ung thư xâm lấn, nên các dấu hiệu khác như đặc điểm bờ sẽ giúp thiết lập mức độ nghi ngờ ác tính.

                                    Hình 4a                                                Hình 4b

Hình 4 a, b. Đặc điểm âm phía sau. Các tính chất âm phía sau có thể là hoặc không phải là đặc điểm của khối đặc trên siêu âm. (a) Tăng âm phía sau (mũi tên) là một dấu hiệu siêu âm bất định (mập mờ) và trong trường hợp này là u xơ tuyến. (b) Bóng cản âm phía sau (mũi tên) là một dấu hiệu nghi ngờ ác tính thường thấy với ung thư biểu mô xâm lấn và trong trường hợp này là ung thư biểu mô ống xâm lấn.

Bảng 3. Giá trị dự báo dương tính và âm tính của các đặc điểm siêu âm.

NPV (Negative predictive value) giá trị dự báo âm tính. PPV (Positive predictive value) giá trị dự báo dương tính.

  

                        Hình 5a                                            Hình 5b                                         Hình 5c

Hình 5 a, b, c. Cục máu tụ ở bệnh nhân nữ 45 tuổi bị chấn thương ngực trái mới đây. (a) Ảnh siêu âm ban đầu cho thấy một khối tương ứng (mũi tên). Nếu vị trí của chấn thương có tương quan với vị trí của khối phát hiện trên siêu âm thì nên nghi ngờ cục máu tụ, và khối này có thể xếp loại BI-RADS 3, với khoảng thời gian theo dõi ngắn. (b) Trên ảnh siêu âm 4 tuần sau đó, khối đã giảm kích thước (mũi tên). Mặc dù khối này ban đầu được xếp loại BI-RADS 4 (lúc ghi ảnh a), khi bệnh nhân trở lại sau 4 tuần để sinh thiết, thủ thuật đã được hoãn lại. Bệnh nhân được yêu cầu theo dõi tiếp 1 tháng. (c) Ảnh siêu âm 1 tháng sau cho thấy tổn thương (mũi tên) đã được đánh giá lại là BI-RADS 2. Mô tả BI-RDS khuyến cáo cho các dấu hiệu ở a là khối ở tạo vị trí chấn thương có bờ rõ với cấu trúc âm bên trong không đồng nhất, hướng song song: BI-RADS 3, khuyến cáo theo dõi ngắn hạn 4-6 tuần.

                            Hình 6a                                                          Hình 6b

Hình 6 a, b. Khối có thể sờ thấy ở vú trái bệnh nhân nữ 70 tuổi. (a) Ảnh siêu âm ban đầu cho thấy khối (mũi tên) được xếp loại BI-RADS 3, hầu như lành tính. (b) Ảnh siêu âm theo dõi 6 tháng sau, mặc dù các dấu hiệu của khối ổn định (mũi tên), nhưng người giám định khác đã xếp loại khối là BI-RADS 4 và khuyên sinh thiết. Nghiên cứu mô học phát hiện ung thư biêu mô ống xâm lấn kích thước 4mm. Dựa vào tuổi của bệnh nhân và hướng của tổn thương không song song, lẽ ra nên khuyên sinh thiết ngay từ đánh giá lần đầu. Mô tả BI-RADS khuyến cáo cho các dấu hiệu nhìn thấy ở hình a là khối giảm âm có hình bầu dục, bờ rõ, và hướng không song song: BI-RADS 4B.

                                    Hình 7                                                                     Hình 8

Hình 7. “Khối chia thùy, BI-RADS 3” ở nữ 40 tuổi với khối vú trái có giới hạn rõ được phát hiện trên x quang vú. Ảnh siêu âm cho thấy khối (mũi tên) đã được mô tả là “chia thùy”, một thuật ngữ không phải là từ mô tả siêu âm BI-RADS. Tổn thương có dưới 3 lượn sóng (chỗ nhấp nhô) và do đó có thể mô tả như là khối hình bầu dục. Mặc dù phân loại BI-RADS 3, nhưng sinh thiết lõi bằng kim lớn đã được thực hiện do yêu cầu của bệnh nhân và bác sỹ lâm sàng. Chẩn đoán mô học là u xơ tuyến. Mô tả BI-RADS khuyến cáo trong trường hợp này là khối giảm âm có hình bầu dục, bờ rõ, bề mặt chuyển tiếp đột ngột, và hướng song song: BI-RADS 3.

Hình 8. BI-RADS 4A ở một phụ nữ 55 tuổi xuất hiện một khối có thể sờ thấy và sưng lên ở vú trái. Ảnh siêu âm cho thấy khối tương ứng giảm âm (mũi tên). Phẫu thuật sau đó bộc lộ nang bị vỡ. Đánh giá BI-RADS 4 bao gồm một khoảng rộng các phát hiện bệnh học, từ u xơ tuyến lành tính tới ung thư biểu mô xâm lấn. Phân loại nhỏ hơn thành 4A, 4B, và 4C được khuyến cáo để thiết lập mức độ quan tâm và kỳ vọng về loại mô học sẽ xuất hiện. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối giảm âm, hình bầu dục, bờ có phần không rõ, hướng song song, và bóng tăng âm nhẹ phía sau: BI-RADS 4A.

  

                             Hình 9a                                         Hình 9b                                           Hình 10

Hình 9 a, b. BI-RADS 4B. (a) Ảnh siêu âm cho thấy một khối giảm âm (mũi tên) ở một phụ nữ 47 tuổi có mật độ vú phải không rõ ràng trong một phim vú sàng lọc (không trình bày). Kết quả mô học sinh thiết lõi bằng kim to là ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS). Sự phù hợp bệnh học là rất quan trọng đối với các tổn thương loại 4B, biết rằng cả tổn thương lành tính và ác tính có tỷ lệ ngang nhau trong phân nhóm này. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối giảm âm, hình dạng không đều, bờ không rõ, cấu trúc âm bên trong không đồng nhất, và hướng song song: BI-RADS 4B. (b) Một phụ nữ 68 tuổi đã cắt khối vú phải và xạ trị 15 năm trước, bây giờ có biểu hiện không cân xứng khu trú tăng lên khi chụp x quang vú (không trình bày), ảnh siêu âm bộc lộ một khối giảm âm, hình dạng không đều (mũi tên), bờ không rõ, cấu trúc âm bên trong không đồng nhất. Kết quả mô học của sinh thiết lõi bằng kim to dưới hướng dẫn siêu âm là hoại tử mỡ, kết quả này được xem là không phù hợp. Sinh thiết lại kết quả tương tự, và bệnh nhân có các vị trí khác cũng bị hoại tử mỡ. Khi theo dõi, khối ổn định trong 18 tháng. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối giảm âm, hướng không song song, hình bầu dục, bờ không rõ, và cấu trúc âm bên trong không đồng nhất: BI-RADS 4B.

Hình 10. BI-RADS 5 ở một phụ nữ 59 tuổi có khối không đều, bờ tua gai nhìn thấy trên x quang vú. Ảnh siêu âm cho thấy một khối tương ứng (mũi tên). Kết quả mô học của sinh thiết lõi bằng kim lớn là một nang lớn có dị sản vẩy, kết quả này không phù hợp. Định vị (bằng) dây kim loại khi sinh thiết đã phát hiện một tổn thương xơ cứng phức hợp và hạch xơ cứng. Đối với các khối được phân loại BI-RADS 5, nên khuyên cắt bỏ bất kể kết quả sinh thiết lõi không thấy ác tính. Mô tả BI-RADS khuyến cáo trường hợp này là khối giảm âm có hình dạng không đều, bờ không rõ, hướng không song song, và bóng cản âm phía sau: BI-RADS 5.

  

                  Hình 11a                                            Hình 11b                                                   Hình 11c

Hình 11 a, b, c. Tầm quan trọng của tương quan vị trí giữa siêu âm và phim x quang vú. (a) Phim x quang sàng lọc vú chụp chếch trong – ngoài của một phụ nữ 69 tuổi cho thấy một dấu hiệu không đối xứng khu trú 9m (mũi tên) ở vú trái. Siêu âm bộc lộ 2 hạch bạch huyết bình thường trong vú: một ở vị trí 2 giờ cách núm vú 20cm, và một ở vị trí 3 giờ cách núm vú 7cm. (b) Ảnh siêu âm cho thấy hạch bạch huyết thứ ba bình thường ở trong vú (mũi tên) vị trí 3 giờ cách núm vú 20cm. Hạch thứ ba này được cho là tương ứng với dấu hiệu không cân xưng khú trú của phim x quang vú, và bệnh nhân được khuyến cáo theo dõi 6 tháng. (c) Phim x quang vú theo dõi cho thấy bất thường không đối xứng khu trú đó đã tăng kích thước (mũi tên). Sinh thiết được thực hiện bằng định vị dây kim loại và phẫu thuật. Kết quả mô học là ung thư biểu mô xâm lấn có các tính chất ống và tiểu thùy. Khi hồi cứu, bờ của khối ở trong ảnh a là không rõ và không có giới hạn nhất định, một dấu hiệu không tương quan với hạch bạch huyết ở ảnh b.

4. Phân loại X-quang BI-RADS (BI-RADS nhũ ảnh)

Chụp nhũ ảnh (mammography) từ lâu đã được xem là phương tiện chẩn đoán chuẩn với bệnh lý tuyến vú. Máy chụp nhũ ảnh sẽ đè ép 2 bên vú và chụp bước đầu bằng 2 tư thế cơ bản là CC và MLO. Có những tư thế chụp đặc biệt hoặc chụp phóng to khu trú được quyết định bởi bác sĩ ung thư và bác sĩ chẩn đoán hình ảnh nhằm tăng khả năng phát hiện cao nhất tổn thương nghi ngờ ung thư vú.

Năm 1993, ACR đã đưa ra phân loại BI-RADS mammography, nhằm mục đích chuẩn hóa việc chẩn đoán, tiên lượng nguy cơ ác tính cũng như thái độ xử trí thích hợp.

Bảng cập nhật 2003, ACR bổ sung thêm thuật ngữ để mô tả trên siêu âm. Năm 2013, ACR đã có chỉnh sửa bảng thuật ngữ này.

Bảng 4. Đánh gía X-quang BI-RADS (BI-RADS nhũ ảnh).

Phân loại BI-RADS nhũ ảnh

Đánh giá và quản lý

BI-RADS-0

Chưa hoàn thành: cần thêm hình ảnh để đánh giá

BI-RADS-1

Tổ chức tuyến vú lành

BI-RADS-2

Nốt tổn thương lành tính (0% ác tính)

BI-RADS-3

Nốt tổn thương có thể lành tính (<2% ác tính): Khoảng thời gian theo dõi ngắn.

BI-RADS-4

Nghi ngờ ác tính (2-95% ác tính): Cần sinh thiết

4A

Mức độ nghi ngờ thấp (2-10% ác tính)

4B

4C

BI-RADS-5

BI-RADS-6

Ác tính đã biết: tiếp tục điều trị

Nhũ ảnh: Ung thư vú (tổn thương trong vòng tròn vẽ màu đỏ).

Nhũ ảnh: Bên trái nhũ ảnh bình thường, bên phải Ung thư tuyến vú.

1. http://www.benhhoc.com/bai/1746-Mot-so-benh-tuyen-vu-lanh-tinh.html

2. https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_u_x%C6%A1_v%C3%BA

4. https://drive.google.com/file/d/0B0V6R9lDbtE7WVNTYmFhaG1Jc3M/view

  

CHIA SẺ BÀI VIẾT