Triệu Chứng Bệnh Ung Thư Xương Hàm / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Các Triệu Chứng Ung Thư Xương Hàm

hàm luôn khiến mọi người không thoải mái vì nó cản trở thói quen ăn uống bình thường. Các ung thư tăng dần gây nên sự suy giảm của . Những người bị ung thư hàm không thể nhai thức ăn đúng cách. Đau cấp tính trong xương hàm khi uống rượu hoặc ăn là một trong những dấu hiệu phổ biến nhất của ung thư xương hàm. 2. Khối u: Các có thể gây đau đớn và thường tạo thành dưới răng, trên . Các khối u trên đường viền hàm dưới cũng có thể gây . 3. Sưng hàm: Sự phát triển của khối trong các hàm không chỉ gây đau đớn cùng cực mà còn dẫn đến sưng hàm.4. Răng lung lay: Khi ung thư phát triển, nướu không còn có thể giữ răng thật chặt. Do đó, bệnh nhân có xu hướng bị răng lung lay. Vì vậy, răng có xu hướng di chuyển khi chạm vào. 5. Mặt sưng: Nếu khối u phát triển ở bên ngoài xương hàm, hiện tượng sưng mặt có thể được nhận thấy. Tuy nhiên, trong trường hợp sự phát triển ung thư xảy ra bên trong xương hàm, nó có thể làm phiền các liên kết bình thường của xương hàm. 6. Tê hoặc ngứa ran trong hàm: Bệnh nhân bị ung thư hàm thường có cảm giác ngứa ran như kim châm, dọc theo đường viền hàm dưới. Điều này cho thấy khối u đang gây áp lực quá nhiều vào các dây thần kinh cảm giác của khoang miệng. 7. khi thấy các hạch bạch huyết bên dưới xương hàm (trong ), dưới đường viền hàm dưới có nghĩa là ung thư đã lan ra từ vị trí ban đầu. Khi các tế bào ung thư nhân rộng có thể nhận thấy hạch bạch huyết cũng mở rộng. Sưng hạch bạch huyết thường xảy ra từ từ. Mặt khác, sự mở rộng đột ngột của các hạch bạch huyết thường kết hợp với nhiễm trùng cổ họng. Tuy nhiên, cách tốt nhất là tham khảo ý kiến bác sĩ và thực hiện các bài kiểm tra cần thiết để xác định nguyên nhân gây ra sưng hạch ở vùng cổ.

Ung Thư Xương Hàm Có Nguy Hiểm Không? Triệu Chứng Nhận Biết Của Bệnh

1. Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng ung thư xương hàm?

Ung thư xương hàm có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh như:

Nguyên nhân do răng: Sâu răng, răng bị vỡ, áp xe răng, nhiễm trùng chân răng là yếu tố hình thành nên ung thư xương hàm, làm cơ hàm có biểu hiện đau.

Sự tăng trưởng xương nhanh chóng của răng số 8 trong thời kỳ vị thành niên cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư xương hàm. Ung thư xương hàm do răng số 8 có thể phá hủy toàn bộ cấu trúc xương của bộ mặt.

Do rượu, thuốc lá: Những người lạm dụng chất kích thích, rượu bia nhiều có nguy cơ mắc ung thư hàm cao hơn.

Tuổi tác: Tuổi càng cao, sức đề kháng của cơ thể ngày càng suy giảm và không còn khả năng chống lại bệnh tật, tế bào ung thư xâm nhập vào cơ thể.

Chế độ ăn uống: Chế độ ăn không đủ dinh dưỡng, ít canxi là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư hàm.

Do virut HPV – Human Papillomavirus: Đây là loại virus lây nhiễm qua đường tình dục, cũng là nguyên nhân chính gây ra bệnh ung thư.

Do bệnh lý: Một số bệnh lý có thể dẫn tới ung thư hàm là bệnh bạch sản, bệnh erythroplakia.

2. Triệu chứng của ung thư xương hàm là gì?

Ung thư xương hàm gây nên tình trạng đau nhức, khó khăn khi ăn uống dẫn tới người bệnh dễ bị suy nhược cơ thể. Trẻ em và người lớn đều có nguy cơ mắc bệnh. Bạn có thể dễ dàng nhận biết các dấu hiệu của bệnh như sau:

Đau hàm: Người bệnh khó khăn khi nhai thức ăn, đau nhức chân răng, cơn đau dai dẳng và gây khó chịu về đêm. Đây là dấu hiệu đặc trưng nhất của bệnh, cơn đau tăng dần theo giai đoạn phát triển của khối u ung thư. Đau hàm có thể lan xuống cổ hoặc các cơ trên mặt nếu khối u chèn lên dây thần kinh.

Khối u: Bạn có thể quan sát thấy các khối u ở chân răng, nướu răng. Các khối u có thể lây lan ở viền hàm dưới làm tăng các cơn đau răng. Khi sờ vào vùng mô có khối u sẽ thấy mềm hơn các vùng khác.

Sưng hàm: Hàm bị sưng, biến dạng hàm. Nếu khối u phát triển ngoài xương hàm thì người bệnh sẽ sưng cả mặt, sưng một bên má.

Răng bị lung lay: Khi khối u phát triển, nướu dần bị phá hủy không thể giữ chặt răng, chân răng dần yếu đi và lung lay.

Cơ mặt bị sưng: Nếu khối u phát triển và lan ra bên ngoài xương hàm, người bệnh có thể bị sưng cơ mặt.

Cơ hàm tê cứng, ngứa ran: Người bệnh thường bị ngứa ran như kim châm vùng dọc viền hàm. Đây là phản ứng xảy ra khi khối u ung thư đè lên các dây thần kinh cảm giác trong miệng.

Sưng hạch bạch huyết: Khi khối u lan rộng ra, bạn sẽ thấy xuất hiện các hạch bạch huyết bên dưới xương hàm, ở vùng cổ. Khi tế bào ung thư phát triển, nhân rộng, các hạch bạch huyết cũng theo đó mà mở rộng hơn.

Đa phần các bệnh nhân mắc bệnh này đều không cảm thấy dấu hiệu gì rõ ràng. Một số người bệnh chỉ cảm thấy triệu chứng đau răng nên rất khó phát hiện bệnh ở giai đoạn đầu. Điều này dẫn đến tâm lý chủ quan, không thăm khám bệnh kịp thời, chỉ tới khi răng bị xô lệch, các cơn đau nhức dữ dội mới đi khám thì bệnh đã phát triển ở giai đoạn cuối.

3. Ung thư xương hàm có nguy hiểm không?

Ung thư xương hàm là một trong những bệnh ung thư xương nguy hiểm. Bệnh di căn rất nhanh, tốc độ di căn nhanh gấp 3 – 4 ần các loại ung thư khác. Bệnh ung thư này sẽ hình thành các khối u ác tính dần dần tiêu diệt các tế bào sống xung quanh. Tiên lượng sống của người bệnh tuy theo từng giai đoạn như sau:

Giai đoạn đầu: Tiên lượng sống của người bệnh trên 5 năm với tỷ lệ khoảng 80%. Ở giai đoạn này, khối u chỉ hình thành ở quai hàm và chưa lan sang các mô xung quanh.

Giai đoạn 2: Khối u đã phát triển với kích thước lớn nhưng chưa ảnh hưởng tới hạch bạch huyết. Tỷ lệ sống còn lại của người bệnh là khoảng 70% trong 5 năm.

Giai đoạn 3: Khối u ung thư xâm chiếm hạch bạch huyết gây biến dạng mặt. Người bệnh lúc này chỉ còn tiên lượng sống dưới 5 năm với tỷ lệ 60%.

Giai đoạn cuối: Bệnh đã di căn sang nhiều bộ phận khác trên cơ thể, các phương pháp điều trị lúc này đa phần không có tác dụng. Tiên lượng sống của người bệnh tối đa còn 5 năm.

4. Một số phương pháp điều trị ung thư xương hàm

Khi bạn phát hiện các dấu hiệu của bệnh nêu trên, bạn nên đi tầm soát ung thư xương hàm sớm để can thiệp điều trị kịp thời. Bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện chụp X-quang hoặc chụp CT 3D để xác định vị trí khối u ung thư. Sau đó, xét nghiệm sinh thiết được thực hiện để xác định khối u lành tính hay ác tính.

Với các khối u lành tính, u nang, bác sĩ sẽ chỉ cần theo dõi và thực hiện phẫu thuật cắt bỏ khối u. Với các khối u ác tính đã gây biến dạng hàm, một số phẫu thuật chỉnh hình cũng sẽ được áp dụng.

Phương pháp xạ trị, hóa trị ung thư có thể được sử dụng kết hợp trước và sau khi phẫu thuật để thu nhỏ kích thước khối u và loại bỏ hoàn toàn tế bào ung thư sau khi phẫu thuật.

5. Phòng tránh bệnh ung thư xương hàm hiệu quả

Vệ sinh răng miệng sạch sẽ.

Thường xuyên đi khám răng miệng định kỳ để phát hiện các dấu hiệu bất thường.

Hạn chế hút thuốc lá, uống rượu bia.

Không nhai trầu.

Tránh lây lan vi khuẩn HPV bằng cách hạn chế quan hệ tình dục bằng miệng.

Bổ sung vitamin A, C, E trong chế độ dinh dưỡng hằng ngày; ăn nhiều trái cây và rau xanh.

Hi vọng các kiến thức về bệnh ung thư xương hàm nêu trên sẽ giúp người bệnh sớm phát hiện và can thiệp điều trị bệnh kịp thời. Với công nghệ y học phát triển hiện đại, người bệnh có thể hoàn toàn yên tâm và giữ tinh thần lạc quan để điều trị bệnh.

Triệu Chứng Của Bệnh Ung Thư Xương

Trẻ em và thiếu niên có nhiều khả năng mắc bệnh ung thư xương hơn người trưởng thành.

Ung thư xương nguyên phát được gọi là “sarcoma”. Có nhiều loại sarcoma, mỗi thể bắt đầu từ một loại mô xương khác nhau. Thường thấy nhất là: sarcoma xương, Ewing’s sarcoma, và sarcoma sụn.

Sarcoma xương là loại thường thấy nhất của ung thư xương ở thiếu niên. Bệnh thường xuất hiện khoảng từ 10 đến 25 tuổi. Nammắc bệnh nhiều hơn nữ. Sarcoma xương thường xuất hiện ở đầu xương, nơi đó mô xương mới được hình thành ở tuổi thiếu niên. Sarcoma xương ảnh hưởng chủ yếu xương dài của cánh tay và chân.

Ewing’s sarcoma thường thấy khoảng 10- 25 tuổi. Thiếu niên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Ung thư này hình thành ở phần giữa (thân xương) của những xương lớn. Xương bị ảnh hưởng nhiều nhất là xương hông và xương dài ở đùi, tay. Ung thư này có thể xảy ra ở xương sườn.

Sarcoma sụn chủ yếu ở người lớn. Loại u này hình thành trong sụn (mô mềm dẻo xung quanh khớp).

Những loại ung thư xương khác bao gồm : sarcoma sợi, u tế bào khổng lồ ác tính, u sụn. Những người trên 30 tuổi hiếm khi mắc những loại này.

Ung thư xương nguyên phát thì hiếm. Mặt khác, ung thư xương thường do di căn từ các cơ quan khác. Khi điều này xảy ra, bệnh không được gọi là ung thư xương. Mỗi loại ung thư được đặt tên theo cơ quan hoặc mô bị ung thư nguyên phát. Điều trị ung thư xương thứ phát phụ thuộc vào loại ung thư nguyên phát và sự di căn của nó.

Ung thư bắt đầu từ cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu, và những mô liên kết hay nâng đỡ khác trong có thể gọi là sarcoma mô mềm. Bệnh xảy ra ở người lớn và trẻ em. Nhưng không bàn luận ở đây.

Leukemia, đa u tuỷ, và u lympho là ung thư bắt nguồn từ tế bào ở tủy xương. Đây là những bệnh khác nhau và không phải là ung thư xương.

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH UNG THƯ XƯƠNG

Cơ thể con người có khoảng hơn 200 chiếc xương với các hình dạng và kích thước khác nhau. Xương có các tế bào sống kết nối với nhau bởi một loại vật chất cứng như canxi. Vật chất này giúp cho bộ xương khoẻ và cứng. Xương có cấu tạo rỗng bên trong chứa một loại chất xốp gọi là tuỷ để sản xuất ra các tế bào máu.

Đầu các khớp xương được bao bọc bởi một lớp xương sụn. Đây là một chất cứng, có đàn hồi. Vì xương sụn có độ đàn hồi hơn xương nên nó giúp xương cử động một cách thoải mái giữa các khớp. Nó còn đóng vai trò là đệm ở khớp xương để ngăn không cho xương cọ xát với nhau.

Bộ xương có một số chức năng quan trọng. Bộ xương tạo cho cơ thể một điểm dựa vững chắc và các khớp xương đóng vai trò như những chiếc đòn bẩy giúp cơ thể di chuyển. Bộ xương còn giúp bảo vệ các cơ quan trong cơ thể, ví dụ như lồng ngực bảo vệ tim và phổi. Nó còn chứa một số loại chất khoáng quan trọng trong cơ thể, đặc biệt là canxi.

Nguyên nhân

Người ta chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra bệnh ung thư xương này. Các nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục tiến hành để tìm ra nguyên nhân. Vì bệnh ung thư xương xuất hiện nhiều ở lứa tuổi thiếu niên và những người trẻ tuổi nên ở một khía cạnh nào, người ta đó liên hệ nó với những sự thay đổi khi xương phát triển.

Bệnh lành tính của xương: có thể chuyển hóa thành ung thư – u tế bào khổng lồ, các chồi xương.

Tia xạ: một số trường hợp dùng tia xạ thấy ung thư tiến triển tại xương.

Chấn thương mãn tính: tỉ lệ ung thư xương cao hơn ở những bệnh nhân có chấn thương tại đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày do tai nạn. Những chấn thương mãn tính có thể kích thích tạo nên ung thư.

Rối loạn gen ức chế ung thư

Triệu chứng

Những cơn đau hoặc mềm mềm ở khu vực khối u: bắt đầu bằng những cơn đau kéo dài và đau nhiều vào ban đêm khi cơ bắp thư giãn. Đối với trẻ em, triệu chứng này có thể bị nhầm thành bong gân hoặc sự phát triển của xương lúc dậy thì. Nếu trẻ có các triệu chứng đau xương nhiều vào đêm thì tốt nhất bạn nên đưa trẻ đi khám bác sĩ.

Sưng vù xung quanh vùng xương bị ảnh hưởng: biểu hiện sẽ không rõ cho đến khi khối u phát triển tương đối to. Không phải lúc nào cũng nhìn thấy hoặc cảm nhận thấy khối u nếu phần xương bị ảnh hưởng nằm sâu trong các mô thịt.

Giảm khả năng cử động: nếu ung thư nằm ở gần khớp, khối u có thể làm khớp đó cử động khó khăn và do vậy ảnh hưởng đến sự di chuyển của toàn bộ chi này. Nếu ung thư nằm ở xương sống, nó sẽ tạo sức ép lên các dây chằng trong xương sống và làm các chi yếu đi, tê liệt hoặc đau nhói.

Gãy xương: Trong một số trường hợp, ung thư xương đôi khi được phát hiện ra khi một xương nào đó bị yếu đi do ung thư và gẫy khi bạn bị ngã nhẹ hoặc bị tai nạn.

Các triệu chứng trên toàn cơ thể: mệt mỏi, sốt cao hoặc ra mồ hôi, giảm cân.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ MẮC UNG THƯ XƯƠNG

Hầu hết các bệnh ung thư xương xảy ra ở những người có yếu tố nguy cơ có thể nhận dạng. Nó không được biết những gì gây ra ung thư xương, nhưng yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư xương bao gồm:

Hội chứng di truyền

Một số hội chứng di truyền hiếm qua các gia đình làm tăng nguy cơ ung thư xương, bao gồm hội chứng Li- Fraumeni, hội chứng Rothmund – Thomson, retinoblastoma cha truyền con nối và exostoses.

Bệnh Paget xương

Tình trạng tiền ung thư này có ảnh hưởng đến người lớn tuổi làm tăng nguy cơ ung thư xương.

Xạ trị cho bệnh ung thư

Tiếp xúc với liều lượng lớn bức xạ, như là những người trong thời gian xạ trị ung thư, tăng nguy cơ ung thư xương trong tương lai.

CÁC GIAI ĐOẠN BỆNH UNG THƯ XƯƠNG

Ung thư xương là một bệnh ung thư thường bắt đầu ở xương. Ung thư xương có thể bắt đầu ở bất kỳ xương nào trong cơ thể, nhưng phổ biến nhất là ảnh hưởng đến xương dài tạo nên những cánh tay và chân.

Giai đoạn I

Ở giai đoạn này, ung thư xương được giới hạn trong xương và không lây lan sang các khu vực khác của cơ thể. Sau khi thử nghiệm sinh thiết, ung thư ở giai đoạn này được xem là cấp thấp và không được xem là tích cực.

Giai đoạn II

Giai đoạn này của bệnh ung thư xương được giới hạn trong xương và không lây lan sang các khu vực khác của cơ thể. Nhưng thử nghiệm sinh thiết cho thấy bệnh ung thư xương là loại cao cấp và được xem là tích cực.

Giai đoạn III

Ở giai đoạn này, ung thư xương xảy ra ở hai hoặc nhiều nơi trên cùng một xương.

Giai đoạn IV

Giai đoạn này của bệnh ung thư xương cho thấy rằng ung thư đã lan rộng từ xương tới các khu vực khác của cơ thể, chẳng hạn như não, gan hoặc phổi.

Để chẩn đoán ung thư xương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử của bản thân và gia đình, và khám lâm sàng toàn diện. Ngoài ra còn kiểm tra tổng trạng, xét nghiệm máu, chụp x quang. X quang có thể cho thấy vị trí, kích thước và hình dạng u: U lành thường tròn, bờ rõ; ung thư xương thường có nhiều hình dạng và bờ không đều.

Nếu x quang thấy nghi ngờ ung thư xương, một số xét nghiệm chuyên biệt sau có thể được làm. Những xét nghiệm này còn cho biết ung thư xương di căn hay chưa.

Xạ hình xương cho thấy kích thước, hình dạng, và vị trí của vùng bất thường trên xương. Một lượng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào máu. Xương hấp thu chất này và được phát hiện bởi một dụng cụ đặc biệt gọi là scan.

CT scan hay CAT scan là kỹ thuật x quang cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang của CT, nhờ một máy vi tính.

MRI (hình ảnh cộng hưởng từ) cũng cho biết chi tiết những hình ảnh cắt ngang. MRI sử dụng từ trường rất mạnh liên kết với máy vi tính.

Chụp mạch máu là chụp x quang mạch máu. Chất cản quang được tiêm vào mạch máu vì vậy thấy chi tiết mạch máu, xét nghiệm này cũng được làm để giúp ích kế hoạch phẫu thuật.

Sinh thiết là cách chắc chắn để nói có ung thư hay không. Sinh thiết tốt nhất nên làm ở bệnh viện nơi có các bác sĩ kinh nghiệm về chẩn đoán ung thư xương. Bác sĩ lấy một mẫu mô từ u xương. Chuyên viên giải phẫu bệnh xem mẫu đó dưới kính hiển vi, nếu thấy ung thư thì anh ta có thể cho biết loại sarcoma và khả năng phát triển nhanh hay chậm.

Nếu đã chẩn đoán ung thư xương thì điều quan trọng cần xác định là nguyên phát hay thứ phát. Dữ kiện này rất quan trọng trong điều trị. Kết quả khám lâm sàng, xét nghiệm, x quang, chụp cắt lớp (scan), và sinh thiết được sử dụng để phân chia ung thư. Giai đoạn ung thư xác định ung thư đã di căn hay chưa và bao nhiêu mô bị ảnh hưởng.

ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ XƯƠNG

Nhiều yếu tố được xem xét để quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Đó là : loại, vị trí, kích thước, sự lan rộng, tuổi tác, tổng trạng. Một kế hoạch điều trị được vạch ra phù hợp với nhu cầu mỗi bệnh nhân.

Các phương pháp điều trị

phẫu thuật xạ trị, hoá trị. Bác sĩ thường phối hợp phương pháp điều trị phụ thuộc sự cần thiết của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được giới thiệu đến những bác sĩ chuyên về điều trị các loại ung thư. Thường thường, các chuyên gia làm việc với nhau như một đội; gồm: phẫu thuật viên, chuyên gia ung thư ở nhi và chuyên gia xạ trị.

Phẫu thuật là một phần của điều trị ung thư xương. Bởi vì, bệnh có thể tái phát gần vị trí ban đầu, phẫu thuật viên lấy u và một phần xương lành và mô lành khác xung quanh u.

Khi ung thư xương ở một cánh tay hay chân, phẫu thuật viên cố gắng lấy u và một vùng mô lành xung quanh u. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên có thể sử dụng một dụng cụ kim loại để thay thế phần xương bị lấy đi. Ở trẻ em, thay thế dụng cụ kim loại có thể kéo dài khi trẻ lớn. Cách thức bảo tồn chi này cần nhiều lần phẫu thuật để giữ sự kéo dài chi nhân tạo.

Tuy nhiên, khi u lớn có lẽ đoạn chi là cần thiết. Nếu đoạn chi thì cần làm chi giả: chân, cánh tay, bàn tay, bàn chân.

Hoá trị là dùng thuốc giết tế bào ung thư. Thường phối hợp từ 3 loại thuốc trở lên, thuốc có thể uống hay tiêm vào cơ hay mạch máu. Thuốc theo dòng máu đi khắp cơ thể. Hoá trị được tiến hành nhiều đợt: sau một đợt điều trị là một khoảng thời gian hồi phục, tiếp sau đó là một điều trị mới và tiếp tục nhiều đợt.

Một số bệnh nhân điều trị hoá trị ngoại trú bệnh viện, dưỡng đường, hay phòng khám tại nhà của bác sĩ. Tuy nhiên, tuỳ theo loại thuốc điều trị bệnh nhân cần phải ở trong bệnh viện một thời gian ngắn.

Hoá trị luôn phối hợp với phẫu thuật ung thư xương. Đôi lúc, hoá trị được dùng để thu nhỏ kích thước u trước khi phẫu thuật. Hoá trị còn là một điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật để diệt hết những tế bào ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể và phòng ngừa tái phát. Có khi bệnh nhân được hoá trị trước và sau phẫu thuật. Đối với vài loại ung thư xương hoá trị phối hợp với xạ trị. Hoá trị có thể được dùng để kiểm soát ung thư xương có di căn.

Xạ trị là dùng tia xạ năng lượng cao để làm tổn thương tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển. Vài trường hợp, xạ trị dùng thay thế phẫu thuật để phá huỷ u hay những tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật.

Bệnh nhân cần phải đến bệnh viện hay dưỡng đường mỗi ngày để xạ trị. Thường điều trị 5 ngày một tuần, trong 5 đến 8 tuần.

Tác dụng phụ của điều trị ung thư xương ?

Các phương pháp điều trị ung thư xương rất mạnh. Thật khó khăn để hạn chế những ảnh hưởng của điều trị, không những tế bào ung thư bị phá hủy mà tế bào bình thường cũng bị tổn thương. Điều đó cho thấy tại sao việc điều trị gây ra nhiều tác dụng phụ. Tác dụng phụ tùy thuộc vào phương pháp điều trị và vị trí u.

Phẫu thuật ung thư xương là một đại phẫu. Vùng phẫu thuật phải được theo dõi cẩn thận về nhiễm trùng. Phục hồi chức năng là phần quan trọng sau phẫu thuật .

Tác dụng phụ của hoá trị phụ thuộc loại thuốc điều trị, và mỗi người có phản ứng khác nhau. Hoá trị ảnh hưởng tế bào đang phát triển, như tế bào tạo máu và tế bào lót đường tiêu hoá. Kết quả là bệnh nhân bị tác dụng phụ như: dễ nhiễm trùng, chán ăn, buồn nôn, ói, loét miệng, cảm giác yếu sức, rụng tóc. Những tác dụng phụ này ảnh hưởng trong thời gian ngắn và thường hết khi ngưng điều trị.

Trong thời gian xạ trị, bệnh nhân có thể rất mệt mỏi vì điều trị liên tục. Quan trọng là nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt. Vùng điều trị trị thường có phản ứng da đỏ hay khô, và da nên được bảo vệ dưới ánh nắng mặt trời, chăm sóc cẩn thận, không sử dụng dung dịch hay kem thoa lên da mà không có ý kiến bác sĩ.

Đối với vài bệnh nhân, cần thiết phải khám răng miệng trước khi điều trị. Bởi vì, điều trị ung thư có thể làm miệng nhạy cảm và dễ nhiễm trùng.

Chán ăn có thể là vấn đề trong quá trình điều trị ung thư. Ăn uống giúp bệnh nhân có thể chống lại tác dụng phụ tốt hơn, vì vậy dinh dưỡng tốt là quan trọng. Ăn tốt nghĩa là đủ năng lượng để ngăn không sụt cân và đủ đạm phục hồi, tái tạo lại mô bình thường. Nhiều bệnh nhân nhận thấy ăn nhiều bữa nhỏ và ít tốt hơn là ba bữa lớn trong ngày.

Tác dụng phụ gặp phải trong điều trị thì thay đổi ở mỗi bệnh nhân. Thậm chí, khác nhau giữa những đợt điều trị. Nhiều nỗ lực để những tác dụng phụ này xảy ra ít nhất. May mắn thay, những tác dụng này là tạm thời. Bác sĩ, y tá, chuyên gia dinh dưỡng có thể giải thích tác dụng phụ do điều trị ung thư và đề nghị cách giải quyết.

Các nhà nghiên cứu quan tâm khả năng tác dụng phụ lâu dài ở người trẻ được điều trị với xạ trị và hoá trị, phụ thuộc vào vị trí u và cách điều trị. Vài loại hoá trị ảnh hưởng khả năng sinh sản của bệnh nhân. Nếu tác dụng phụ này thường xuyên nó có thể gây vô sinh, cả nam và nữ. Xạ trị có thể làm tăng khả năng u tái phát sẽ phát triển sau đó ở vùng đã điều trị. Bác sĩ có thể bàn bạc chi tiết với bệnh nhân và gia đình về những tác dụng phụ này.

Theo dõi đều đặn sau điều trị ung thư xương là điều quan trọng. Bác sĩ sẽ kiểm tra bệnh nhân chặt chẽ trong vài năm để chắc chắn ung thư không tái phát hay điều trị nhanh chóng nếu nó tái phát. Kiểm tra gồm: khám lâm sàng, xét nghiệm máu, X- quang, scan, và một số cận lâm sàng khác.

Điều trị ung thư có thể gây tác dụng phụ nhiều năm sau đó. Vì lý do này, bệnh nhân nên tiếp tục kiểm tra định kỳ và cho bác sĩ biết ngay bất cứ vấn đề nào mới xuất hiện.

Bệnh nhân bị đoạn chi cần trị liệu vật lý. Các nhà vật lý trị liệu và bác sĩ chuyên về phục hồi chức năng giúp bệnh nhân học cách thực hiện những hoạt động hằng ngày theo cách mới, cách sử dụng chi giả.

Chẩn đoán ung thư làm thay đổi cuộc sống bệnh nhân và người thân của họ. Những thay đổi này khó có thể điều khiển được. Bệnh nhân, gia đình họ và bạn bè có nhiều cảm xúc khác nhau và đôi lúc lại lo sợ, hoang mang khi nghe nói bị ung thư.

Lúc này, bệnh nhân và người thân cảm thấy sợ hãi, giận dữ, hay trầm cảm. Đây là phản ứng bình thường khi họ đối mặt với vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Những bệnh nhân trẻ em và thiếu niên, thường có thể đương đầu những vấn đề này tốt hơn nếu họ có thể nói thoải mái về sức khoẻ và cảm xúc của họ với gia đình và bạn bè. Chia sẻ cảm xúc với người khác có thể giúp mọi người thấy dễ chịu hơn, đó là cách để người khác thấy sự lo âu và yêu cầu hỗ trợ của họ.

Mối quan tâm tương lai, như lo lắng về các kiểm tra, điều trị, nhập viện, viện phí. Việc nói với bác sĩ, y tá, nhân viên chăm sóc sức khoẻ có thể trấn an lo âu và cảm giác sợ hãi. Bệnh nhân có vai trò quyết định về việc chăm sóc và lựa chọn điều trị bằng cách đặt câu hỏi về ung thư xương. Họ có thể hỏi bất cứ điều gì mà họ thắc mắc, chưa tường tận. Bệnh nhân và gia đình có nhiều câu hỏi quan trọng và bác sĩ là người hợp lý nhất để trả lời.

Thỉnh thoảng, bệnh nhân dùng con số thống kê ước tính cơ hội chữa trị của họ. Tuy nhiên, nên nhớ rằng đây chỉ số liệu trung bình, chúng được tính dựa trên số lượng lớn và không có hai bệnh nhân ung thư nào hoàn toàn giống nhau. Chỉ bác sĩ theo dõi trực tiếp bệnh nhân mới hiểu rõ tình hình để bàn bạc về cơ hội hồi phục (tiên lượng). Bác sĩ thường dùng từ “sống sót” hay “lui bệnh” hơn là khỏi bệnh. Ngay cả nhiều bệnh nhân ung thư xương hoàn toàn hồi phục, bởi vì bệnh có thể tái phát.

Bệnh nhân ung thư xương có thể lo lắng về việc đoạn chi hay phẫu thuật khác sẽ ảnh hưởng đến không những vẻ bề ngoài của họ mà còn cảm nghĩ người khác về họ. Cha mẹ có thể lo lắng con họ không thể tham gia hoạt động bình thường ở trường học hay hoạt động xã hội. Người lớn (đã phẫu thuật lớn) lo âu về việc làm, tham gia hoạt động xã hội và chăm sóc gia đình.

Nhà vật lý trị liệu có thể giúp bệnh nhân thực hiện cách thức mới để làm việc. Đặc biệt quan trọng đối với những người mất một phần hay cả chi và học sử dụng chi giả.

Học cách sống với những thay đổi do bệnh ung thư xương sẽ dễ dàng hơn cho bệnh nhân và những người chăm sóc họ khi họ có sự trợ giúp thông tin và dịch vụ nâng đỡ. Nhiều bệnh nhân cảm thấy có ít khinói chuyện với những người có hoàn cảnh giống họ, họ có thể gặp những người này do tự liên lạc hay nhờ nhóm trợ giúp.

Triệu Chứng Của Ung Thư Xương.

Hầu hết các khối u xương là lành tính, không có triệu chứng và thường được phát hiện sau một chấn thương. Các khối u xương ác tính nguyên phát (ung thư xương) không phổ biến nhưng là một nguyên nhân đáng kể gây tử vong, đặc biệt ở những người trẻ tuổi. Việc phát hiện các dấu hiệu ung thư xương đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình điều trị, tăng khả năng bảo tồn chi, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

Khi nghi ngờ có khối u xương, mục tiêu là chẩn đoán mô bệnh học, đánh giá mức độ bệnh và tính khả thi của phẫu thuật cắt bỏ dựa trên các nguyên tắc của phẫu thuật cắt cụt chi. Các dấu hiệu ung thư xương chủ yếu xảy ra tại chỗ, dễ nhầm lẫn với các bệnh lành tính khác của xương. Vì vậy cần phải kết hợp các triệu chứng lâm làng và cận lâm sàng để chẩn đoán xác định.

1.1. Triệu chứng lâm sàng.

–Đau tại chỗ: là dấu hiệu đầu tiên, triệu chứng đau chiếm 87,5% các sarcom xương. Đặc điểm đau ban đầu ít ngắt quãng sau đó đau liên tục và kéo dai, đau nhói kiểu gãy vụn xương. Vận động giảm ở giai đoạn muộn hoặc tổn thương xương nhiều vị trí.

-Biểu hiện toàn thân: Bệnh nhân ung thư xương biểu hiện mệt mỏi, mất ngủ do đau. Các biểu hiện như sốt thường ít gặp.

-Sờ thấy khổi u: Khổi u ở sâu, hình thoi hoặc hình cầu, cứng chắc, có ranh giới rõ. Da trên u nóng hơn phần da lành, đôi khi thấy các đám tĩnh mạch nổi tại chỗ. Khối u thường xuất hiện ở đầu các xương dài, ở hành xương. Thường gặp ở đầu trên xương chày, đầu dưới xương đùi, ít gặp hơn là đầu trên xương cánh tay, đầu trên xương đùi. Các xương dẹt hay bị tổn thương là xương châụ, xương bả vai.

-Teo cơ, sưng nề ở phần mềm hoặc u máu ở ngoài da cũng là một triệu chứng giúp chẩn đoán ung thư xương.

-Gãy xương tự nhiên gặp từ 1,1% đến 5% trường hợp.

1.2. Các triệu chứng cận lâm sàng.

-Chụp Xquang quy ước. Xquang quy ước đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán các khối u xương. Phim Xquang cung cấp nhiều thông tin qua trọng cho chẩn đoán. Cho biết số lượng, vị trí, ranh giới tổn thương, sự xâm lấn phần mềm. Hình ảnh tạo xương, tiêu xương hoặc hỗn hợp.

-Chụp cắt lớp vi tính. Đánh giá mức độ lan rộng của các tổn thương trong xương, trong tuỷ xương và ngoài xương. Phát hiện sự tiêu huỷ xương dưới vỏ và các gãy xương khó thấy.

-Chụp cộng hưởng từ (MRI). Đánh giá sự lan rộng của khối u trong tuỷ xương và mô mềm, xâm lấn mạch máu, thần kinh. MRI còn giúp đánh giá mức độ nhậy cảm với hoá trị dựa vào việc đo tỷ lệ hoại tử của mô u.

-Chụp xạ hình xương. Chụp xạ hình xương có thể xác định được giới hạn, cho phép theo dõi tiến triển của các tổn thương xương. Đánh giá hiệu quả của hoá trị, giúp tìm ra các ổ di căn, đặc biệt là di căn xương.

-Chụp PET/CT. Có thể dựa vào PET/CT để phát hiện các tổn thương xương, vi di căn xa mà các phương pháp khác không xác định được.

-Các xét nghiệm sinh hoá. Phosphatase kiềm có giá trị bình thường ở độ tuổi 1- 12 tuôi là 50= 140 U/l. Ở người trưởng thành là 20- 40 U/l. Chỉ số này không có giá trị nhiều trong chẩn đoán ung thư xương. Nhưng có giá trị cao trong việc theo dõi sau điều trị cắt bỏ chi hoặc sau hoá trị tiền phẫu. Nếu sau điều trị Photphastase kiềm tăng trở lại thì nghĩ nhiều đến tái phát hoặc di căn.

-Mô bệnh học: Là xét nghiệm có giá trị quyết định chẩn đoán, xác định loại mô bệnh học để có cách điều trị thích hợp.

2. Phân biệt ung thư xương với các bệnh dễ nhầm khác.

-Viêm tuỷ xương cấp di vi khuẩn sinh mủ.

Nguyên nhân chủ yếu do tụ cấu chiếm 75%, sau đó là liên cầu tan huyết nhóm A. Khởi phát bệnh ở người lớn thường không rầm rộ như trẻ em. Tăng cảm giác đau tại chỗ, sau đó có thể sưng đau phần mềm. Trên phim chụp X quang giai đoạn sớm thường không có gì đặc biệt. Giai đoạn sau có thể có hình ảnh mất ranh giới các mô, mất chất khoáng xương, thay đổi cấu trúc màng xương và viêm màng xương. Cần xét nghiệm chọc hút tuỷ xương và màng xương để cấy vi khuẩn giúp chẩn đoán.

Tuy viêm tuỷ xương bán cấp có triệu chứng trên phim Xquang và xạ hình xương giống với ung thư xương. Tuy nhiên trên lâm sàng thường kèm theo sốt, tốc độ máu lắng tăng. Chọc hút khối u có thể có mủ, có thể nuôi cấy mủ tìm vi khuẩn.

Đặc biệt những khối u phần mềm ở chi phát triển mạnh, kích thước lớn gây biến dạng tại chỗ, làm lệch sự đối xứng của chi. Khi khối u hoại tử, xâm lấn vào xương có thể gây đau nhiều, gãy xương bệnh lý. Chụp Xquang thường có dày màng xương, tiêu xương, gãy xương. Chụp MRI thấy hình ảnh các khối u phần mềm xâm lấn vào xương. Cần làm xét nghiệm mô bệnh học để chẩn đoán xác định.

Các triệu chứng thường gặp là đau, tổn thương thần kinh, gãy xương bệnh lý, khối u xương. Đôi khi phát hiện có tăng canxi máu. Các bệnh thường di căn xương là ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường tiêu hoá trên, ung thư thận.