Phẫu Thuật Ung Thư Thanh Quản / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Sept.edu.vn

Các Phương Pháp Phẫu Thuật Ung Thư Thanh Quản (Phần 2): Phẫu Thuật Không Bảo Tồn Thanh Quản

Phần trước bạn đã tìm hiểu về nguyên tắc phẫu thuật ung thư thanh quản và các loại phẫu thuật ung thư bảo tồn thanh quản. Ở phần 2 này là phẫu thuật không bảo tồn thanh quản.

1. Phẫu thuật bảo tồn thanh quản (tiếp phần 1)

– Phẫu thuật cắt thanh quản trán bên kiểu Leroux-Robert

Phẫu thuật này chỉ định áp dụng đối với những khối u thanh quản ở mép trước và có lan ra tới một dây thanh nhưng dây thanh vẫn có thể di động bình thường.

Thực hiện phẫu thuật này sẽ cắt bỏ một phần của góc trước và phần cánh của sụn giáp, cắt cùng với mép trước của dây thanh phía bên bệnh. Nghĩa là bao gồm cả mỏm thanh hay một phần sụn phễu. Nếu như phía trên thì cắt một nửa băng thanh thất và bên sau khi bóc tách phần niêm mạc của dây thanh thất.

– Phẫu thuật cắt thanh quản trán trước

Phẫu thuật cắt bỏ thanh quản trán trước được áp dụng cho khối u đang ở mép trước hoặc khối u đã lan xuống tới mép dưới của thanh quản tuy nhiên trong trường hợp khối u lan tới chân thanh thiệt rồi thì bác sĩ sẽ không chỉ định áp dụng dạng phẫu thuật ung thư thanh quản này nữa.

Chính vì thế mà trong thực tế y học điều trị ung thư thanh quản ở Việt Nam hiếm khi chỉ định áp dụng loại phẫu thuật này.

Cách thực hiện ca mổ cũng tương tự như phẫu thuật loại bỏ thanh quản trán bên. Sau khi cắt lộ ra sụn giáp thì sẽ cắt bỏ một phần của góc trước sụn giáp theo một hình tam giác và lớp màng sụn ở trong và mép trước của thanh quản.

– Phẫu thuật cắt nửa thanh quản dạng Hautant

Không giống như phẫu thuật cắt một nửa thanh quản kiểu kinh điển thì Hautant sẽ giữ lại được mặt sụn nhẫn và thêm phần sau của sụn phễu để có thể bảo tồn được khớp nhẫn phễu.

Tuy nhiên theo như báo cáo nghiên cứu của nhiều chuyên gia thì phẫu thuật kiểu Hautant không đem lại kết quả cao do bệnh dễ có nguy cơ tái phát kèm theo đó là những biến chứng sau mổ ví dụ như hẹp lòng thanh quản, bắt buộc phải làm phẫu thuật mở khí quản,…

Vì vậy, một số bác sĩ đã cải tiến phương pháp này bằng cách đồng thời thực hiện phẫu thuật chỉnh hình ghép da tái tạo lại lòng thanh quản vừa đủ rộng đảm bảo cho đường thở sau này.

Phẫu thuật cắt nửa thanh quản là phẫu thuật chỉ được áp dụng đối với những khối u của dây thanh đã lan ra đến sụn phễu, khớp nhẫn phễu, vùng hạ thanh môn của nửa thanh quản tuy nhiên chưa lan ra mép trước và mép sau.

Do vậy phạm vi có thể thực hiện được phẫu thuật này cũng hạn chế nên ít được sử dụng.

2. Phẫu thuật ung thư thanh quản không bảo tồn

Phẫu thuật ung thư thanh quản loại không bảo tồn thanh quản được thực hiện rất nhiều tại Việt Nam. Nguyên nhân là bởi bệnh nhân tới các cơ sở y tế kiểm tra khi đã vào giai đoạn muộn và không thể bảo tồn thanh quản được nữa.

Chỉ định phẫu thuật này áp dụng với những khối u thanh quản đã lan tới cả hai bên cảu thanh quản. Thao tác thực hiện như thế nào sẽ phụ thuộc vào mức độ lây lan của tế bào ung thư.

Loại bỏ toàn bộ thanh quản có nhiều biến chứng nên nhiều người băn khoăn có nên thực hiện hay không. Những tác dụng phụ có thể kể đến của phẫu thuật ung thư thanh quản có thể là mất giọng nói, mất di khả năng giao tiếp với mọi người, đường thở gặp trở ngại,…

Vì vậy, phẫu thuật cắt bỏ toàn phần thanh quản này đã được áp dụng khá rộng rãi do có độ an toàn và có thể góp phần kéo dài tuổi thọ thêm cho người bệnh.

Thường thì thao tác thực hiện phẫu thuật cắt toàn bộ thanh quản có nhiều cách thực hiện:

– Cắt thanh quản từ dưới lên trên

– Cắt từ trên xuống dưới

– Cắt thanh quản từ phải sang trái

– Cắt thanh quản từ trái sang phải.

Việc thao tác như thế nào sẽ phụ thuộc vào vị trí của khối u. Nguyên tắc cần nhớ đó là cắt bỏ toàn bộ khối u thanh quản là thao tác cuối cùng. Bên cạnh đó thì tùy thuộc vào độ lan rộng mà sẽ xem xét tới việc giữ lại một phần hay toàn bộ cả sụn nhẫn do nếu giữ lại được sụn nhẫn thì có thể tránh được những di chứng như hẹp phần lỗ thở khí quản và giúp cho người bệnh có thể được bỏ ống thở dễ dàng hơn.

Phẫu Thuật Thành Công Cắt Ung Thư Thanh Quản Bằng Laser

Tại bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM đã áp dụng thành công công nghệ phẫu thuật cắt ung thư thanh quản bằng laser nội soi qua đường miệng. Chính vì vậy, chi phí và thời gian điều trị ung thư thanh quản chỉ bằng nửa so với phương thức áp dụng mổ thông thường. BS. Trần Phan Chung Thủy, Giám đốc bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM cho biết, sau thời gian cử đoàn bác sĩ qua Mỹ học hỏi kinh nghiệm, bệnh viện đã trang bị máy mổ bằng laser để thực hiện các ca phẫu thuật nội soi cho bệnh nhân bị ung thư thanh quản.

Theo BS.Thủy cho biết, thực hiện mổ nội soi bằng laser sẽ có nhiều lợi ích cho bệnh nhân như: Thời gian mổ rút ngắn chỉ còn 1/3 so với mổ hở và mất máu, phương pháp thẩm mỹ hơn và thời gian hồi phục cũng nhanh hơn. Khi tiến hành mổ hở các bác sĩ phải rạch một đường khoảng 10cm trên cổ, nhìn bằng mắt thường để mổ, bệnh nhân phải tốn chi phí trên 20 triệu đồng và nằm viện hơn 2 tuần. Trong khi đó, mổ bằng laser chỉ tốn dưới 10 triệu đồng và thời gian nằm viện chỉ có 1 tuần. Đồng thời, mổ bằng laser bác sĩ nhìn qua kính hiển vi nên có thể lấy hết các tế bào ung thư, giảm tỉ lệ tái phát so với mổ thường.

Có thể thấy đây chính là bước tiến mới trong điều trị phẫu thuật ung thư thanh quản tuy nhiên, hiện nay kỹ thuật này vẫn chưa được áp dụng ở các bệnh viện tuyến dưới đòi hỏi các bác sĩ phải có chuyên môn cao và hỗ trợ đầu tư trang thiết bị. Theo BS.Thủy, ung thư thanh quản gặp phải nhiều ở nam giới chiếm 4/1 so với nữ, nguyên nhân chủ yếu là do hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều. Biểu hiện ban đầu của ung thư thanh quản là khàn giọng.

Chính vì vậy, bệnh nhân nếu không may bị viêm họng, khàn giọng trên 3 tuần thì phải đi nội soi để kiểm tra sớm nhất. Tránh trường hợp để đến khi khối u ở giai đoạn 3 sẽ phải mổ hở và khi đó bệnh nhân không thể nói được mà phải thở qua đường ống nhân tạo. Lúc này không khí vào phổi sẽ không được lọc qua mũi nên bệnh nhân rất dễ bị viêm phổi và sẽ thường xuyên tái phát.

Có thể thấy phẫu thuật thành công cắt ung thư thanh quản bằng laser nội soi qua đường miệng là bước tiến mới trong ngành y học. Phương pháp này không hề ảnh hưởng đến giọng nói và hồi phục nhanh hơn.

Nguồn báo: http://khoe360.tienphong.vn/gia-dinh-suc-khoe/ap-dung-thanh-cong-cong-nghe-phau-thuat-cat-ung-thu-thanh-quan-bang-laser-1123249.tpo#ung thư

Bài thuốc hữu ích:

Bác sĩ Nguyễn Thu Hương

Từ khóa: Các giai đoạn bệnh ung thư thanh quản, Điều trị ung thư thanh quản

Phẫu Thuật Ung Thư Thực Quản

Đối với một số ung thư thực quản (ống dẫn thức ăn) ở giai đoạn sớm, có thể thực hiện phẫu thuật để loại bỏ ung thư. Nếu ung thư vẫn chưa di căn ra ngoài thực quản, việc cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ thực quản (và các hạch bạch huyết lân cận) có thể giúp điều trị ung thư. Đáng tiếc là hầu hết ung thư thực quản không được phát hiện kịp thời để có thể điều trị bằng phẫu thuật. Trong trường hợp đó, phẫu thuật thường được kết hợp với các phương pháp điều trị khác, như hóa trị và/hoặc xạ trị.

Cần thực hiện phương pháp phẫu thuật nào?

Phương pháp phẫu thuật dành cho ung thư thực quản sẽ tùy thuộc vào:

Kích thước của khối u

Vị trí của khối u trong thực quản.

Phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc hầu hết thực quản (gọi là phẫu thuật cắt bỏ thực quản) đều là phẫu thuật lớn.

Cắt bỏ một phần thực quản và một phần dạ dày

Nếu ung thư nằm ở phần dưới của thực quản (gần dạ dày) hoặc ở chỗ nối của thực quản và dạ dày, bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ một phần của dạ dày, phần thực quản bị ung thư, và khoảng 8 đến 10 cm đoạn thực quản bình thường nằm ngay phía trên khối u. Đây gọi là phẫu thuật cắt bỏ thực quản dạ dày. Sau đó dạ dày sẽ được nối với phần còn lại của thực quản phía trên ngực hoặc trên cổ.

Phương pháp này được áp dụng khi ung thư chỉ nằm ở thực quản. Bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ ung thư và một số mô lành lân cận. Sau đó dạ dày được kéo lên ngực để nối với thực quản.

Nếu khối u nằm ở đoạn trên hoặc đoạn giữa của thực quản, hầu hết thực quản sẽ bị cắt bỏ. Phẫu thuật này gọi là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ thực quản. Bác sĩ phẫu thuật sẽ sử dụng dạ dày hoặc hiếm hơn là một phần của ruột để thay thế cho phần thực quản đã bị cắt bỏ. Khi bác sĩ phẫu thuật sử dụng dạ dày để thay thế cho thực quản thì dạ dày sẽ được kéo lên trên ngực và nối với phần thực quản ở cổ.

Phẫu thuật cắt bỏ thực quản có thể được thực hiện bằng một trong hai kỹ thuật chính. Trong phẫu thuật mở thông thường, bác sĩ phẫu thuật sẽ thực hiện một hoặc nhiều đường rạch (vết mổ) lớn ở cổ, ngực hoặc bụng. Trong phẫu thuật ít xâm hại, bác sĩ phẫu thuật sẽ thực hiện một số đường rạch nhỏ hơn bằng cách sử dụng các dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng dài và nhỏ.

Phẫu thuật cắt thực quản ít xâm hại

Đối với một số ung thư (nhỏ) ở giai đoạn sớm, thực quản có thể được cắt bỏ qua một vài đường rạch nhỏ thay vì các đường rạch lớn. Bác sĩ phẫu thuật sẽ đưa một ống soi (như một loại kính viễn vọng rất nhỏ) qua một đường rạch để quan sát tất cả mọi thứ trong quá trình phẫu thuật. Sau đó, các dụng cụ phẫu thuật sẽ được đưa vào các đường rạch nhỏ khác. Để thực hiện tốt phẫu thuật này, bác sĩ phẫu thuật phải có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm trong việc cắt bỏ thực quản theo cách này. Do các đường rạch nhỏ hơn, phẫu thuật cắt bỏ thực quản ít xâm hại có thể cho phép bệnh nhân xuất viện sớm hơn và hồi phục nhanh hơn.

Dù thực hiện bằng bất kỳ phương pháp nào thì phẫu thuật cắt bỏ thực quản không phải là một phẫu thuật đơn giản và có thể cần nằm viện dài ngày.

Nạo vét hạch bạch huyết

Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật sẽ kiểm tra thực quản và các vùng lân cận, sau đó sẽ nạo vét tất cả các hạch bạch huyết xung quanh thực quản. Đây gọi là Phẫu thuật nạo vét hạch bạch huyết.

Bác sĩ phẫu thuật chỉ lấy đi các hạch bạch huyết khi chúng có các tế bào ung thư di căn từ nơi ung thư chính. Việc cắt bỏ hạch giúp giảm nguy cơ tái phát ung thư sau này. Đồng thời nó cũng giúp bác sĩ quyết định nếu cần hóa trị sau khi phẫu thuật.

Số hạch bạch huyết cần nạo vét sẽ khác nhau tùy trường hợp. Bác sĩ phẫu thuật cũng có thể nạo vét các hạch xung quanh dạ dày.

Tai biến và biến chứng của phẫu thuật cắt bỏ thực quản

Giống như hầu hết các ca phẫu thuật lớn, phẫu thuật thực quản cũng chứa đựng một số nguy cơ. Một vài biến chứng của phẫu thuật này có thể đe dọa đến tính mạng.

Các nguy cơ ngắn hạn bao gồm phản ứng với thuốc gây mê, chảy máu quá mức, huyết khối trong phổi hoặc những nơi khác, và nhiễm khuẩn. Hầu hết mọi người sẽ bị đau sau khi phẫu thuật, và các cơn đau này thường được kiểm soát khi dùng thuốc giảm đau.

Biến chứng ở phổi rất thường gặp. Viêm phổi có thể xảy ra làm kéo dài thời gian nằm viện, và đôi khi dẫn đến tử vong.

Một số người có thể thay đổi giọng nói sau khi phẫu thuật.

Tình trạng rò rỉ có thể xảy ra ở miệng nối dạ dày (hoặc ruột non) với thực quản, để khắc phục có thể cần phải phẫu thuật lại. Tuy nhiên, tình trạng này không còn phổ biến như trước đây vì đã có những cải tiến trong kỹ thuật phẫu thuật.

Miệng nối thực quản – dạ dày sau khi phẫu thuật có thể bị hẹp, gây ra các vấn đề về nuốt cho một số bệnh nhân. Để giảm triệu chứng này, bác sĩ có thể thực hiện nong những chỗ hẹp thực quản qua thủ thuật nội soi đường tiêu hóa trên.

Sau phẫu thuật, quá trình làm trống (thoát lưu) dạ dày có thể diễn ra rất chậm vì các dây thần kinh điều khiển sự co thắt đã bị ảnh hưởng bởi phẫu thuật. Đôi khi tình trạng này có thể làm cho bạn buồn nôn và nôn ói thường xuyên.

Sau phẫu thuật, mật và các chất trong dạ dày có thể trào ngược lên thực quản vì cơ kiểm soát chức năng này (cơ vòng thực quản dưới) thường bị cắt bỏ và thay đổi do phẫu thuật. Tình trạng này có thể gây ra các triệu chứng như ợ nóng. Đôi khi, các loại thuốc kháng axít (antacids) hoặc thuốc điều hòa chức năng vận động đường tiêu hóa (motility) có thể làm giảm các triệu chứng này.

Phẫu thuật giảm nhẹ

Đôi khi thay vì cố gắng điều trị bệnh, bác sĩ sẽ áp dụng các loại phẫu thuật nhỏ để giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm nhẹ các vấn đề do ung thư gây ra. Ví dụ, phẫu thuật đặt ống nuôi ăn trực tiếp vào dạ dày hoặc ruột non ở những người cần được cung cấp đủ dinh dưỡng.

Tìm Hiểu Về Dịch Vụ Phẫu Thuật Nội Soi Cắt Ung Thư Thanh Quản Bằng Laser

Gây mê mask thanh quản là kỹ thuật gây mê toàn thân có đặt mask thanh quản với mục đích kiểm soát hô hấp trong suốt cuộc phẫu thuật

I. ĐẠI CƯƠNG

Gây mê mask thanh quản là kỹ thuật gây mê toàn thân có đặt mask thanh quản với mục đích kiểm soát hô hấp trong suốt cuộc phẫu thuật

II. CHỈ ĐỊNH

-Lựa chọn khi đặt nội khí quản khó, đặc biệt khó thông khí hoặc không thông khí được. – Kiểm soát đường thở và hô hấp trong gây mê toàn thân cho một số phẫu thuật – Kiểm soát đường thở và hô hấp tạm thời trong cấp cứu.

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Dạ dầy đầy – Tổn thương hàm mặt phức tạp do chấn thương hoặc nhiễm trùng – Không đủ phương tiện gây mê, hồi sức

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện kỹ thuật – Bác sĩ, điều dưỡng viên chuyên khoa gây mê hồi sức. 2. Phương tiện: – Hệ thống máy gây mê kèm thở, nguồn oxy bóp tay, máy theo dõi chức năng sống (ECG, huyết áp động mạch, SpO2, EtCO2, nhịp thở, nhiệt độ) máy phá rung tim, máy hút… – Mask thanh quản các cỡ, ống hút, mặt nạ (mask), bóng bóp, canul miệng hầu. – Lidocain 10% dạng xịt. – Salbutamol dạng xịt. – Các phương tiện dự phòng đặt nội khí quản: ống nội khí quản và đèn soi thanh quản 3. Người bệnh – Thăm khám gây mê trước mổ phát hiện và phòng ngừa các nguy cơ, giải thích cho người bệnh cùng hợp tác. – Đánh giá đặt mask thanh quản khó. – Sử dụng thuốc an thần tối hôm trước mổ (nếu cần). 4. Hồ sơ bệnh án – Theo qui định của Bộ y tế

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Kiểm tra hồ sơ 2. Kiểm tra người bệnh 3. Thực hiện kỹ thuật Các bước tiến hành chung: – Tư thế: nằm ngửa, thở oxy 100% 3-6 l/phút trước khởi mê ít nhất 5 phút. – Lắp máy theo dõi – Thiết lập đường truyền có hiệu quả. – Tiền mê (nếu cần) Khởi mê: 160 – Thuốc ngủ: thuốc mê tĩnh mạch (propofol, etomidat, thiopental, ketamin…), thuốc mê bốc hơi (sevofluran…). – Thuốc giảm đau: fentanyl, sufentanil, morphin… – Thuốc giãn cơ (nếu cần): (succinylcholin, rocuronium, vecuronium…). – Điều kiện đặt mask thanh quản: người bệnh ngủ sâu, đủ độ giãn cơ (nếu cần). Kĩ thuật đặt mask thanh quản – Đặt đầu người bệnh ở tư thế trung gian hoặc hơi ngửa – Cầm mask thanh quản như cầm bút, ngón tay trỏ đặt vào chỗ nối giữa mask thanh quản và phần ống – Một tay mở miệng người bệnh – Tay kia đưa mask thanh quản qua các cung răng vào gốc lưỡi, tỳ mặt sau mask vào khẩu cái cứng, đẩy mask trượt dọc theo khẩu cái cứng để vào vùng hạ hầu – Dừng lại khi gặp lực cản – Bơm cuff theo đúng thể tích được hướng dẫn trên mask thanh quản. – Kiểm tra độ kín của mask thanh quản (không có dò khí, thông khí dễ dàng) – Kiểm tra vị trí đúng của mask thanh quản bằng nghe phổi và kết quả EtCO2

162 247 GÂY MÊ MASK THANH QUẢN PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ VIÊM TUYẾN MANG TAI BẰNG BƠM RỬA THUỐC QUA LỖ ỐNG TUYẾN I. ĐẠI CƯƠNG Gây mê mask thanh quản là kỹ thuật gây mê toàn thân có đặt mask thanh quản với mục đích kiểm soát hô hấp trong suốt cuộc phẫu thuật II. CHỈ ĐỊNH -Lựa chọn khi đặt nội khí quản khó, đặc biệt khó thông khí hoặc không thông khí được. – Kiểm soát đường thở và hô hấp trong gây mê toàn thân cho một số phẫu thuật – Kiểm soát đường thở và hô hấp tạm thời trong cấp cứu. III. CHỐNG CHỈ ĐỊNH – Dạ dầy đầy – Tổn thương hàm mặt phức tạp do chấn thương hoặc nhiễm trùng – Không đủ phương tiện gây mê, hồi sức IV. CHUẨN BỊ 1. Người thực hiện kỹ thuật – Bác sĩ, điều dưỡng viên chuyên khoa gây mê hồi sức. 2. Phương tiện: – Hệ thống máy gây mê kèm thở, nguồn oxy bóp tay, máy theo dõi chức năng sống (ECG, huyết áp động mạch, SpO2, EtCO2, nhịp thở, nhiệt độ) máy phá rung tim, máy hút… – Mask thanh quản các cỡ, ống hút, mặt nạ (mask), bóng bóp, canul miệng hầu. – Lidocain 10% dạng xịt. – Salbutamol dạng xịt. – Các phương tiện dự phòng đặt nội khí quản: ống nội khí quản và đèn soi thanh quản 3. Người bệnh – Thăm khám gây mê trước mổ phát hiện và phòng ngừa các nguy cơ, giải thích cho người bệnh cùng hợp tác. – Đánh giá đặt mask thanh quản khó. – Sử dụng thuốc an thần tối hôm trước mổ (nếu cần). 4. Hồ sơ bệnh án – Theo qui định của Bộ y tế V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 1. Kiểm tra hồ sơ 2. Kiểm tra người bệnh 3. Thực hiện kỹ thuật Các bước tiến hành chung: – Tư thế: nằm ngửa, thở oxy 100% 3-6 l/phút trước khởi mê ít nhất 5 phút. – Lắp máy theo dõi – Thiết lập đường truyền có hiệu quả. – Tiền mê (nếu cần) Khởi mê: 163 – Thuốc ngủ: thuốc mê tĩnh mạch (propofol, etomidat, thiopental, ketamin…), thuốc mê bốc hơi (sevofluran…). – Thuốc giảm đau: fentanyl, sufentanil, morphin… – Thuốc giãn cơ (nếu cần): (succinylcholin, rocuronium, vecuronium…). – Điều kiện đặt mask thanh quản: người bệnh ngủ sâu, đủ độ giãn cơ (nếu cần). Kĩ thuật đặt mask thanh quản – Đặt đầu người bệnh ở tư thế trung gian hoặc hơi ngửa – Cầm mask thanh quản như cầm bút, ngón tay trỏ đặt vào chỗ nối giữa mask thanh quản và phần ống – Một tay mở miệng người bệnh – Tay kia đưa mask thanh quản qua các cung răng vào gốc lưỡi, tỳ mặt sau mask vào khẩu cái cứng, đẩy mask trượt dọc theo khẩu cái cứng để vào vùng hạ hầu – Dừng lại khi gặp lực cản – Bơm cuff theo đúng thể tích được hướng dẫn trên mask thanh quản. – Kiểm tra độ kín của mask thanh quản (không có dò khí, thông khí dễ dàng) – Kiểm tra vị trí đúng của mask thanh quản bằng nghe phổi và kết quả EtCO2