Phát Hiện Ung Thư Máu / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Sept.edu.vn

Cách Phát Hiện Ung Thư Máu / 2023

Những cách phát hiện ung thư máu thường dùng để xác định bệnh bạch cầu. Bên cạnh các xét nghiệm thường dùng này, bạn có thể được xét nghiệm với các xét nghiệm khác tùy thuộc vào triệu chứng và loại bệnh bạch cầu của bạn.

Các bác sĩ đôi khi tìm thấy bệnh bạch cầu sau một đợt kiểm tra máu thường xuyên. Nếu bạn có các triệu chứng gợi ý bệnh bạch cầu, bác sĩ của bạn sẽ cố gắng tìm ra những gì gây nên các vấn đề. Bác sĩ của bạn có thể sẽ hỏi bạn về bệnh sử cá nhân và lịch sử bệnh gia đình của bạn.

Khám sức khỏe: Bác sĩ của bạn kiểm tra xem có sưng hạch bạch huyết, lách hoặc gan.

Các xét nghiệm máu: là một cách phát hiện ung thư máu bạch cầu cấp

Phòng xét nghiệm làm một xét nghiệm máu hoàn toàn để kiểm tra số lượng bạch cầu, số lượng hồng cầu, và tiểu cầu. Bệnh bạch cầu làm cho số lượng bạch cầu ở mức rất cao. Nó còn có thể làm giảm số lượng tiểu cầu và hemoglobin, chất được tìm thấy bên trong tế bào hồng cầu.

Sinh thiết: Bác sĩ của bạn loại bỏ mô để xem các tế bào ung thư. Sinh thiết là cách phát hiện ung thư máu duy nhất để chắc chắn liệu các tế bào bệnh bạch cầu có trong tủy xương của bạn. Trước khi mẫu được lấy, gây mê tại chỗ được sử dụng để làm tê khu vực đó. Điều này giúp giảm cơn đau. Bác sĩ của bạn loại bỏ vài tủy xương từ xương chậu hoặc một xương lớn. Một nghiên cứu bệnh học sử dụng kính hiển vi để kiểm tra mô cho các tế bào bệnh bạch cầu. Có hai cách phát hiện ung thư máu, bác sĩ có thể lấy tủy xương. Một số người sẽ có cả hai cách phát hiện ung thư máu trong quy trình:

* Tủy xương nguyện vọng: Bác sĩ sử dụng một kim dày, rỗng để lấy các mẫu của tủy xương

* Tủy xương sinh thiết: Bác sĩ sử dụng một kim rất dày, rỗng để lấy những mẫu nhỏ của xương và tủy xương

Những xét nghiệm mà bác sĩ của bạn đề nghị phụ thuộc vào những triệu chứng của bạn và loại bệnh bạch cầu. Bạn có thể có các xét nghiệm khác:

* Di truyền học tế bào: cũng là một cách phát hiện ung thư máu

Phòng xét nghiệm xem các nhiễm sắc thể của tế bào từ các mẫu máu, tủy xương, hoặc hạch bạch huyết. Nếu những nhiễm sắc thể bất thường được tìm thấy, xét nghiệm có thể cho thấy dạng nào của bệnh bạch cầu mà bạn mắc. Ví dụ, những người bị CML (chronic myeloid leukemia: bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính) có một nhiễm sắc thể bất thường gọi là nhiễm sắc thể Philadelphia.

* Dịch não tủy: thường gây đau đớn

Bác sĩ của bạn có thể lấy một ít dịch não tủy (chất dịch lấp đầy khoảng trống bên trong và xung quanh não và tủy sống). Bác sĩ sử dụng một kim dài, mỏng để lấy dịch từ đốt sống thấp hơn. Quy trình mất khoảng 30 phút và được gây mê tại chỗ. Bạn phải nằm bằng phẳng vài giờ sau đó để không bị đau đầu. Phòng xét nghiệm kiểm tra chất dịch cho tế bào bệnh bạch cầu các dấu hiệu của các vấn đề.

* X quang ngực: Một tia X có thể cho thấy sưng hạch bạch huyết hoặc các dấu hiệu khác của bệnh trong ngực của bạn.

Xét Nghiệm Máu Phát Hiện Sớm Ung Thư Gan / 2023

Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chỉ phát hiện ung thư khi đã xuất hiện các khối u, do vậy, nhu cầu tìm ra các chỉ dấu sinh hóa, miễn dịch (do tế bào ung thư tiết ra) giúp phát hiện ung thư sớm, trước khi xuất hiện khối u để chẩn đoán sớm là vấn đề cấp thiết trên toàn thế giới. Điều này sẽ giúp bệnh nhân được điều trị sớm, theo dõi tiến triển của khối u và nâng cao tỉ lệ sống sót của bệnh nhân.

Ung thư gan là loại ung thư phổ biến đứng hàng thứ 5 ở nam giới, và thứ 7 ở nữ giới với hơn nửa triệu trường hợp mắc bệnh mới được chẩn đoán mỗi năm trên toàn thế giới, đây là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 gây nên các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới sau ung thư phổi và dạ dày. Vào năm 2010, ước tính khoảng 754.000 người tử vong do ung thư gan. Ung thư tế bào gan nguyên phát (hepatocellular carcinoma – HCC) là dạng ung thư gan phổ biến nhất – chiếm 80% trường hợp mắc ung thư gan. Trên 80% trong số các trường hợp ung thư gan được tìm thấy ở các quốc gia ở châu Á, và khu vực châu Phi cận Sahara.

Ung thư gan – những nguyên nhân

Tuy nhiên, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chỉ phát hiện ung thư khi đã xuất hiện các khối u. Do vậy, nhu cầu tìm ra các chỉ dấu sinh hóa, miễn dịch (do tế bào ung thư tiết ra) giúp phát hiện ung thư sớm, trước khi xuất hiện khối u để chẩn đoán sớm là vấn đề cấp thiết trên toàn thế giới. Điều này sẽ giúp bệnh nhân được điều trị sớm, theo dõi tiến triển của khối u và nâng cao tỉ lệ sống sót của bệnh nhân. Các chỉ dấu hiện nay được sử dụng tại Việt Nam gồm:

1. Alpha-fetoprotein (AFP)

Trong số các chất chỉ dấu ung thư gan hiện nay thì AFP đã được ứng dụng trong xét nghiệm tầm soát HCC (Hepatocellular carcinoma). AFP là glycoprotein có một chuỗi đơn, trọng lượng phân tử 70kDa và carbohydrat chiếm 4%. AFP được tổng hợp chính ở gan phôi thai và túi noãn hoàng, rồi vào dịch ối, đi qua rau thai và vào máu mẹ. Nồng độ trong huyết thanh của AFP nhanh chóng giảm xuống sau khi sinh và sự biểu hiện của nó bị ức chế ở người trưởng thành. Ở người lớn khỏe mạnh, nồng độ AFP huyết thanh là 0 – 7ng/mL. Nồng độ AFP huyết thanh 20ng/mL là giá trị cắt thường được sử dụng nhất để phân biệt bệnh nhân có và không có HCC. Xét nghiệm AFP có độ nhạy 41 – 65% và độ đặc hiệu 80 – 90% khi phát hiện HCC với giá trị cắt là 20ng/mL. AFP huyết thanh có sự tương quan thuận một cách có ý nghĩa với kích thước của khối u HCC và có thể được sử dụng như một chỉ dấu có giá trị để phát hiện HCC và đánh giá giai đoạn của bệnh. Theo khuyến cáo của Hội nghiên cứu gan châu Á – Thái Bình Dương (Asian Pacific Association for the Study of the Liver -APASL) và Mạng lưới ung thư quốc gia Mỹ (National Comprehensive Cancer Network – NCCN) thì bệnh nhân có nguy cơ cao bị HCC cần thực hiện kiểm tra AFP kết hợp siêu âm định kỳ 6 tháng.

Tuy nhiên, trên thực tế ở một số bệnh nhân không bị ung thư gan nhưng có nồng độ AFP tăng, ví dụ những bệnh nhân bị bệnh gan mạn, bệnh lý viêm gan, xơ gan, u quái tinh hoàn, phụ nữ có thai. Bên cạnh đó cũng có một số bệnh nhân ung thư gan nhưng AFP không tăng. Do vậy, các nhà khoa học đã tiếp tục nghiên cứu về các chỉ dấu chẩn đoán ung thư gan hiệu quả hơn và kết quả, các tác giả Nhật Bản đã phát hiện hai chỉ dấu giúp phát hiện thư gan sớm quan trọng khác là AFP L3 và DCP (Des-gamma-carboxy prothrombin), DCP còn được gọi là PIVKA II (protein induced by vitamin K absence or antagonists II).

2. AFP-L3

Là một đồng đẳng (Isoform) của AFP. Ba dạng AFP được phân biệt bởi mức độ fucosyl hóa (fucosylation) của chuỗi đường gắn với N-acetylglucosamine. Các dạng này có khả năng gắn vào Lens culinaris agglutinin (LCA) với các ái lực khác nhau. AFP-L1 là loại không gắn LCA, là dạng chủ yếu được thấy ở những người bị bệnh gan lành tính như viêm gan B mạn hoặc xơ gan AFP-L2 là có khả năng gắn LCA với ái lực vừa và là dạng chủ yếu được sản xuất bởi các khối u túi noãn hoàng. AFP-L3 được sản xuất bởi các tế bào gan ác tính, gắn vào LCA với ái lực cao và là dạng chủ yếu được thấy ở các bệnh nhân bị HCC. AFP-L3 được ghi nhận là tỉ lệ phần trăm của AFP-L3 so với tổng mức AFP. Giá trị cắt của AFP-L3 được xác định là 10% thì xét nghiệm có độ nhạy 56% và độ đặc hiệu 90% trong phát hiện HCC. Người có giá trị AFP-L3 cao hơn 10% thì tăng gấp 7 lần nguy cơ xuất hiện HCC trong vòng 21 tháng.

3. DCP hay PIVKA II

DCP (des-gamma carboxyprothrombin) là một dạng bất thường của prothrombin được tạo ra bởi sự thiếu vitamin K, một yếu tố đông máu được sản xuất bởi gan. DCP có thể được sản xuất bởi các khối u gan và mức độ thường tăng lên khi bị HCC. Nồng độ DCP bình thường là 0 – 7,5ng/ml. Với giá trị cắt là 25ng/mL thì xét nghiệm DCP có độ nhạy là 87% và độ đặc hiệu là 85% trong chẩn đoán HCC. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự tăng DCP thường phản ảnh tình trạng của bệnh, kích thước khối u, sự xâm lấn tĩnh mạch cửa. Ngoài ra sau phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc sau điều trị ung thư gan bằng phương pháp khác, nồng độ DCP giảm nhanh. Sự tăng DCP trở lại sau điều trị thể hiện bệnh tái phát hoặc thất bại của điều trị.

Phần lớn các nghiên cứu bệnh hứng so sánh AFP với DCP trong chẩn đoán HCC cho thấy độ nhạy của DCP cao hơn AFP. Các nghiên cứu khẳng định sự kết hợp của DCP và AFP làm tăng rõ rệt độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán sớm HCC.

Hình chụp gan của một bệnh nhân xơ gan do rượu cho thấy một bướu ung thư điển hình (mũi tên trắng). A: hình chụp ở pha động mạch, bướu có màu sáng hơn tế bào xung quanh do sự tập trung máu động mạch vào bướu. B: hình chụp ở pha tĩnh mạch, bướu có màu nhạt hơn so với tế bào bình thường xung quanh. C: hình chụp ở pha chậm, tín hiệu của bướu hoàn toàn bị mất (vùng giảm tín hiệu). Đây là đặc điểm điển hình của một bướu ung thư gan

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Xét Nghiệm Máu Có Phát Hiện Ung Thư Không? / 2023

Xét nghiệm máu là một trong những thủ tục quan trọng cung cấp các chỉ số giúp chẩn đoán nhiều bệnh lý khác nhau. Vậy xét nghiệm máu có phát hiện ung thư không?

Chỉ cần Xét nghiệm máu có phát hiện ung thư không?

Xét nghiệm máu giúp phát hiện chất chỉ điểm ung thư trong máu và được dùng như phương tiện phát hiện và sàng lọc ung thư. Hầu hết các chất chỉ điểm ung thư là không đặc hiệu, trừ PSA trong ung thư tiền liệt tuyến. Một số chất chỉ điểm ung thư có giá trị liên lượng:

CEA: phát hiện ung thư đại trực tràng.

AFP: phát hiện ung thư gan nguyên phát

CA 125: phát hiện ung thư buồng trứng, vú, đại tràng, tử cung, cổ tử cung.

CA 15-3: phát hiện ung thư vú, phổi, nội mạc tử cung, dạ dày

CA 19-9: phát hiện ung thư đường mật, đại trực tràng, dạ dày.

CA 72-4: phát hiện ung thư dạ dày, đại trực tràng, buồng trứng

Những chất chỉ điểm ung thư trên không đặc hiệu do có nhiều tình trạng khác cũng làm tăng nồng độ các chất này trong máu như: chỉ số AFP có thể tăng ở phụ nữ có thai hoặc những bệnh nhân viêm gan, xơ gan, gan nhiễm độc. CA 125 có thể tăng ở phụ nữ đang trong tuần nguyệt san hoặc bị các bệnh lý phụ khoa như lạc nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, viêm vùng chậu… Ngược lại, trong nhiều trường hợp bệnh nhân mắc ung thư nhưng các chất chỉ điểm ung thư lại có nồng độ ở trong ngưỡng cho phép.

Như vậy, có thể thấy rằng xét nghiệm máu tìm dấu ấn ung thư chỉ là một biện pháp kỹ thuật bổ sung cho bác sĩ nhằm phát hiện sớm ung thư và theo dõi sự tiến triển của ung thư khi bệnh nhân, đánh giá hiệu quả điều trị. Để đưa ra kết luận chính xác về ung thư, cần thực hiện xét nghiệm máu cần kết hợp với chẩn đoán hình ảnh, sinh thiết.

Các xét nghiệm cần thiết trong chẩn đoán ung thư

Để xác định có khối u ác tính hay không, bên cạnh việc xét nghiệm máu, cần dựa vào những triệu chứng lâm sàng và thực hiện các thủ tục chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng, sinh thiết.

Chụp X-quang: đây là kỹ thuật đơn giản nhất nhưng có giá trị rất lớn trong chẩn đoán ung thư phổi- phế quản, ung thư xương, đặc biệt là ung thư vú.

Chụp CT: phương pháp này làm nổi bật các khối u nguyên phát và cả các ổ di căn với khả năng phát hiện các khối u (nguyên phát và thứ phát) có đường kính xấp xỉ 1 mm..

Nội soi: nội soi đóng một vai trò to lớn trong chẩn đoán các ung thư: đầu ; mặt ; cổ ; ung thư đường tiêu hóa: thực quản, dạ dày, đại trực tràng và ung thư phổi – phế quản.

Siêu âm : được ứng dụng nhiều trong chẩn đoán ung thư nguyên phát, sự xâm lấn của u nguyên phát sang các cơ quan lân cận và phát hiện di căn xa như: ung thư gan, ung thư thận, ung thư buồng trứng, ung thư tuyến giáp, cổ tử cung…

Chụp cộng hưởng từ (MRI): đây là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, chất lượng hình ảnh cao hơn chụp cắt lớp điện toán.

Chẩn đoán y học hạt nhân : nhằm chẩn đoán ung thư, xác định giai đoạn bệnh, đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị.

Các xét nghiệm khác : xét nghiệm sinh hóa (PAP, HPV : phát hiện bất thường ở cổ tử cung), xét nghiệm nước tiểu, tìm máu trong phân…

Sinh thiết: sau khi một loạt các xét nghiệm, chẩn đoán và đã xác định được khối u, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện sinh thiết để kết luận về ung thư.

Xét Nghiệm Máu Phát Hiện Ung Thư Phổi Không? / 2023

Xét nghiệm máu là xét nghiệm cơ bản có những giá trị nhất định, bao gồm cả vai trò gợi ý phát hiện ung thư. Xét nghiệm máu phát hiện ung thư phổi không là câu hỏi băn khoăn của nhiều người.

Xét nghiệm máu phát hiện ung thư phổi không?

Ung thư phổi bắt nguồn từ sự phát triển bất thường của các tế bào ác tính tại phổi – cơ quan nằm bên trong lồng ngực được bao bọc bởi các xương sườn thực hiện chức hô hấp cho cơ thể.

Xét nghiệm ung thư phổi được khuyến khích cho tất cả những người trưởng thành, đặc biệt là những thuộc nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao như nghiện thuốc lá, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư phổi, thường xuyên tiếp xúc với khói bụi trong môi trường làm việc độc hại…

Bạn nên biết: triệu chứng ung thư phổi

Xét nghiệm máu phát hiện ung thư phổi không là thắc mắc của nhiều người. Thực tế, xét nghiệm máu không thể khẳng định chính xác bạn có mắc ung thư phổi không mà đây chỉ là xét nghiệm mang tính chất gợi ý, phát hiện những bất thường nghi ngờ ung thư phổi để bác sĩ chỉ định các xét nghiệm chuyên sâu khác.

Một số xét nghiệm máu có thể được thực hiện kết hợp trong xét nghiệm ung thư phổi là SCC, CEA, Cyfra 21 – 1.

SCC: giá trị SCC bình thường nhỏ hơn 2 ng/ml và có thể tang ở những bệnh nhân ung thư phổi

CEA: giá trị bình thường CEA ở người không hút thuốc: 0 – 2.5 ng/ml, người hút thuốc: 0 – 5 ng/ml. Khoảng 29% bệnh nhân ung thư phổi có chỉ số CEA lớn hơn 10ng/ml.

Cyfra 21 – 1: 95% người khỏe mạnh bình thường có mức độ Cyfra 21 – 1 huyết thanh < 2,0 µg/L; 95% người bị các bệnh phổi lành tính có mức độ Cyfra 21 – 1 huyết thanh < 3,3 µg/L. Trong chẩn đoán ung thư phổi nguyên phát nói chung Cyfra 21 – 1 với giá trị cắt 3,5 ng/mL có độ nhạy là 43% và độ đặc hiệu là 89%.

Phát hiện ung thư phổi sớm như thế nào?

Xét nghiệm máu không thể khẳng định bạn có mắc ung thư phổi không mà cần phải dựa vào các phương pháp:

Chụp X quang lồng ngực thẳng và nghiêng: đây là phương pháp cơ bản để phát hiện đám mờ ở phổi giúp phát hiện vị trí, kích thước, hình thái, tổn thương u hạch

Nội soi phế quản: có thể thực hiện khi có các dấu hiệu bất thường khi chụp X- quang.

CT scan lồng ngực có thể phát hiện những tổn thương rất nhỏ ở phổi mà X quang có thể bỏ sót…