Đau Nhức Xương Khớp Có Phải Ung Thư Xương?

Đây là một hiện tượng cần có sự cảnh giác do có thể là dấu hiệu ung thư xương. Những lý giải của bác sĩ sẽ giúp bạn biết thêm về điều này.

Đau nhức xương tay và chân, luôn mệt mỏi buồn ngủ

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Năm nay em 23 tuổi. Mấy năm trước em có bị nhức xương 1 bên chân nghi thấp khớp. Đi khám thì bác sĩ bảo thiếu canxi. Thời gian sau thời tiết thay đổi lại chuyển sang chân khác. Dạo gần đây em luôn mệt mỏi buồn ngủ, thi thoảng lại đau nhức xương ở tay. Liệu em có bị ung thư xương không ạ? Bệnh này có chữa được không?

Cảm ơn bác sĩ!

Triệu chứng đau nhức xương cũng có thể gặp trong bệnh ung thư xương nhưng ngoài ra còn gặp trong nhiều bệnh lý khác như: chấn thương xương khớp, viêm khớp, thấp khớp, loãng xương, thoái hóa xương khớp,… Ung thư xương có một số dấu hiệu sớm có thể thấy được trên phim chụp Xquang. Còn khi ung thư xương đã sờ được các khối u thì đã là giai đoạn muộn. Vì vậy, bạn nên đi khám để bác sĩ kiểm tra cho bạn. Bệnh ung thư xương cũng như các bệnh ung thư khác, hiện nay vẫn chưa có phương pháp nào có thể chữa trị khỏi hoàn toàn được. Các biện pháp chữa trị chủ yếu là để kéo dài thời gian sống thêm.

bị đau và sưng chân trái, co duỗi rất khó khăn

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Con 22 tuổi cách đây 1 tháng con bị đau và sưng chân trái. Co duỗi rất khó khăn. Con khám bệnh viện chấn thương chỉnh hình bác sĩ kêu con con bị viêm khớp và cho con uống thuốc nhưng không hết. Con đi bệnh viện Chợ Rẫy khám bác sĩ kêu con bị viêm khớp phản ứng và suy van tĩnh mạch 2 chi dưới. Bác sĩ cho con hỏi đây có phải là dấu hiệu của Ung thư xương không?

Cảm ơn bác sĩ.

Đây không phải là dấu hiệu của ung thư xương, vì ung thư xương trước hết là phải có khối u ở xương nổi lên trên mặt da, khối u to nhanh, bệnh nhân rất đau đớn. Bệnh của em chỉ là viêm khớp, bệnh viêm khớp triệu chứng bằng sưng nóng đỏ đau tại khớp, và thường hay đau nhức nhiều về ban đêm, sáng ngủ dậy hay có triệu chứng cứng khớp.

Điều trị viêm khớp, dùng các thuốc chóng viêm giảm đau nhóm Non-steroid. Bệnh của em chữa trị chưa khỏi được vì thứ nhất là em chưa uống đủ liều lượng thuốc, thông thường cần uống từ 6 đến 8 tuần, cho đến khi không còn triệu chứng viêm; thứ hai là em cần hạn chế đi lại trong thời gian chữa trị thì mới chữa trị hiệu quả.

Như vậy em nên tái khám để bác sĩ điều chỉnh đơn thuốc cho đúng. Ngoài ra, em có thể chữa trị vật lý trị liệu sử dụng sóng ngắn có tác dụng chống viêm rất tốt.

Chúc em mạnh khỏe

Rát họng, ho, thỉnh thoảng đau nhức xương khớp tay chân có phải ung thư?

Câu hỏi bởi: tanpopo

Chào bác sĩ!

Em năm nay 25 tuổi. Nửa tháng gần đây em cảm thấy hơi rát họng, ho húng hắng vài tiếng, thỉnh thoảng đau nhức xương khớp tay chân, lúc đánh răng thường xuyên bị chảy máu chân răng. Cách đây 4 tháng em có đi kiểm tra sức khỏe và kết quả xét nghiệm máu bình thường. Liệu bây giờ em có bị ung thư máu không ạ?

Em cảm ơn nhiều!

Nguyên nhân gây chảy máu chân răng thường gặp nhất là do viêm lợi, viêm quanh răng . Đó là tình trạng tổn thương mô nha chu khiến lợi bị viêm, sưng đỏ, sung huyết nên dễ chảy máu khi có ảnh hưởng như đánh răng. Những thói quen như vệ sinh răng miệng kém, không đánh răng, không lấy cao răng định kì, ăn uống thiếu chất dẫn đến viêm lợi và dễ chảy máu khi đánh răng. Ngoài ra một lí do có thể ít gặp hơn nhưng lại nguy hiểm nếu không phát hiện kịp thời đó là chảy máu khi đánh răng do xuất huyết giảm tiểu cầu. Nếu là do lí do này ngoài chảy máu khi đánh răng thường đi kèm với sốt và xuất hiện những mụn nhỏ li ti dưới da mà không biến mất khi làm căng da.

Đối với tình huống của bạn đã làm xét nghiệm máu cho thấy kết quả bình thường, như vậy bạn không nên quá lo lắng. Nếu chảy máu do lí do răng miệng đơn thuần do viêm lợi hoặc viêm quanh răng thì vấn đề không quá nguy hiểm có thể điều trị và phòng ngừa được. Để chữa trị chảy máu khi đánh răng lí do do viêm lợi cần đến các phòng khám Nha khoa lấy cao răng và làm sạch thân chân răng; sử dụng các thuốc chữa trị viêm lợi nếu cần; loại bỏ các thói quen xấu như đánh răng bằng bàn chải cứng, chải răng quá mạnh, dùng tăm xỉa răng…

Để dự phòng chảy máu chân răng cần thực hiện đầy đủ các bước vệ sinh răng miệng; khám răng định kì 6 tháng một lần; đánh răng đúng cách 2 lần một ngày: sáng và tối trước khi đi ngủ; súc miệng sau khi ăn bằng nước súc miệng; nếu có điều kiện nên sử dụng chỉ tơ nha khoa. Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là các vitamin nhóm C.

Đau nhức đầu gối, tê và đau lưng, là bị bệnh gì?

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Năm nay em 24 tuổi, em bị đau nhức đầu gối chân và nằm cảm thấy tê và đau lưng nay cũng được 3 tháng. Em có tới bệnh viện được xét nghiệm máu và sinh hoá máu thì bình thường. Bác sĩ cho em hỏi liệu em có bị ung thư xương hay bệnh gì khác không ạ?

Em xin cảm ơn bác sĩ.

Tình trạng đau nhức đầu gối của bạn có thể do rất nhiều lí do gây nên. Để loại trừ xem có phải ung thư xương hay không thì bạn cần phải chụp phim X-quang. Nếu là ung thư xương thì trên phim X-quang có một số dấu hiệu chỉ điểm gợi ý cho các bác sĩ lâm sàng ở ngay từ giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến triển nặng, có thể sờ thấy các khối bất thường bằng việc thăm khám thông thường. Tuy nhiên, tình huống của bạn, ngoài đau chân còn kèm theo đau và tê lưng thì nghĩ nhiều tới lí do là bệnh lý cột sống. Các bệnh lý cột sống hay gặp như: thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống,… Xảy ra ở người trẻ thường là do chấn thương, làm việc sai tư thế,… Gây chèn ép vào các rễ thần kinh và gây đau ở những vùng mà dây thần kinh đó chi phối. Vì vậy, bạn cần đi khám chuyên khoa Xương Khớp để bác sĩ trực tiếp khám và kiểm tra cho bạn.

Chân đau không rõ nguyên nhân có phải do ung thư?

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Em năm nay 23 tuổi, là nam. 2 năm gần đây em thấy hai ống đồng có triệu chứng đau. Lúc đầu em tưởng là do đá bóng nhiều. Nhưng gần đây về đêm, nó cũng đau mà không bị va chạm hay chấn thương gì. Ngồi một lúc đứng dậy thì càng đau. Đây có phải biểu hiện ung thư xương không thưa bác sĩ?

Cảm ơn bác sĩ!

Trước hết cháu cần biết đôi điều về ung thư xương cẳng chân. Đây là dạng ung thư xương phổ biến nhất ở nam thiếu niên, thường xuất hiện trong giai đoạn dậy thì. Nam bị u xương ác tính nhiều gấp đôi nữ và thường thấy ở những người có chiều cao vượt trung bình.

Nguyên nhân gây bệnh có thể là do gene, hoặc là hậu quả của một dạng ung thư khác, ví dụ như retinoblastoma – u phát triển trong võng mạc có thể là tiền đề của bệnh u xương ác tính. Những thiếu niên được xạ trị để chữa loại ung thư khác thì nhiều khả năng sẽ bị u xương ác tính.

Những biểu hiện phổ biến nhất của u xương ác tính là đau và sưng ở một cánh tay hoặc cẳng chân, đôi khi đi kèm u bướu. Một số người bị đau về đêm hoặc khi tập thể dục. U xương ác tính thường xuất hiện ở các xương quanh đầu gối. Trong một số tình huống hiếm gặp, khối u có thể di căn từ xương tới các dây thần kinh và mạch máu ở chi. Di căn là thuật ngữ được dùng khi các tế bào của một khối u vượt ra khỏi vùng ung thư ban đầu và ‘du ngoạn’ tới các mô và tổ chức khác.

Trường hợp của cháu bị đau 2 xương cẳng chân, đau tăng khi vận động. Triệu chứng này có thể gặp ở ung thư xương nhưng cũng có thể gặp ở nhiều bệnh khác. Do đó để chẩn đoán chính xác cháu nên đi khám chụp X-quang và làm xét nghiệm để phát hiện sớm lí do gây đau.

Chúc cháu chóng khỏe!

Đau Nhức Trong Xương Là Bệnh Gì

Phân biệt đau xương với đau khớp, đau cơ

Đau cơ xương khớp là một thuật ngữ mà ta rất thường nghe. Đây là một thuật ngữ rộng dùng để chỉ bất kỳ cơn đau nào ảnh hưởng đến xương, khớp, cơ, gân, dây chằng và dây thần kinh.

Tuy nhiên, ta cần biết rằng, đau xương, đau cơ và đau khớp có những triệu chứng khác nhau và nguyên nhân cũng khác nhau:

Đau xương thường có xu hướng khu trú và được mô tả là một cơn đau sâu, sắc nét, thâm nhập hoặc âm ỉ.

Đau cơ thường ít dữ dội hơn đau xương, có thể bao gồm co thắt cơ hoặc chuột rút. Đau cơ có thể do chấn thương, tình trạng tự miễn dịch, mất lưu lượng máu đến cơ, nhiễm trùng hoặc do khối u.

Đau khớp xảy ra ở một hoặc nhiều khớp, cơn đau có đặc điểm là gây cứng khớp, co rút khớp, sờ vào da quanh khớp bị ảnh hưởng thấy mềm, ấm, sưng,… Tùy thuộc vào khớp bị ảnh hưởng, cơn đau có thể trở nên tồi tệ hơn khi hoạt động và giảm đi khi nghỉ ngơi. (Tìm hiểu thêm: Các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh khớp)

.v.v.

Triệu chứng đau nhức trong xương Triệu chứng thường gặp

Đau, khó chịu là triệu chứng thường gặp nhất khi đau xương.

Các cơn đau này thường có đặc điểm là:

Cực kỳ đau, khó chịu ở một hay nhiều xương;

Đau sâu, sắc nét hoặc âm ỉ;

Dù bạn đang ngồi yên hay di chuyển thì cơn đau vẫn còn và không thuyên giảm (khác với đau cơ, đau khớp).

Triệu chứng kèm theo

Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra đau nhức trong xương, vì thế các triệu chứng kèm theo sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân cụ thể, chẳng hạn như:

Bầm tím quanh vùng xương bị ảnh hưởng, sưng, vỡ, biến dạng xương có thể nhìn thấy được (gãy xương);

Đau cơ, mô, rối loạn giấc ngủ, chuột rút, mệt mỏi (thiếu khoáng);

Đau lưng, có tư thế khom lưng, mất chiều cao theo thời gian (loãng xương);

Đau đầu, đau ngực, gãy xương, co giật, chóng mặt, vàng da, khó thở, sưng bụng (ung thư xương di căn, các triệu chứng tùy thuộc vào nơi ung thư đã lan rộng)

Tăng nguy cơ bị gãy xương, có một khối u dưới da, tê hoặc ngứa ran (nếu có khối u chèn ép vào dây thần kinh) (ung thư xương nguyên phát);

Đau khớp, yếu khớp, mất chức năng khớp (suy giảm tuần hoàn máu tới xương, thường xảy ra do bị xơ vữa động mạch, bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm);

Có vệt, đỏ, sưng, ấm ở vị trí bị nhiễm trùng, giảm phạm vi chuyển động, buồn nôn, chán ăn (nhiễm trùng xương);

Mệt mỏi, da xanh xao, khó thở, đổ mồ hôi đêm, sụt cân không rõ nguyên nhân (bệnh bạch cầu);

.v.v.

Phần dưới chúng ta cùng tìm hiểu rõ hơn các bệnh lý có thể gây ra đau nhức trong xương.

Lưu ý: Đây không phải là toàn bộ các nguyên nhân gây ra triệu chứng đau nhức trong xương.

Chấn thương

Chấn thương là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra đau nhức trong xương. Bạn có thể bị chấn thương do tai nạn giao thông, ngã từ vị trí cao, khi chơi thể thao,…

Chấn thương nhẹ có thể gây ra bầm tím, đau nhẹ ở xương bị ảnh hưởng. Chấn thương nặng có thể làm gãy xương, vỡ xương, biến dạng xương, gây đau đau đớn dữ dội…

Thiếu khoáng

Để duy trì sự khỏe mạnh, xương của chúng ta cần có đủ khoáng chất và vitamin, đặc biệt là canxi và vitamin D. Sự thiếu hụt hai khoáng chất này thường dẫn đến chứng loãng xương, một loại bệnh xương khớp phổ biến nhất. Những người ở giai đoạn cuối của bệnh loãng xương thường bị đau xương.

Thoát vị đĩa đệm

Bị thoát vị đĩa đệm có nghĩa là đĩa đệm của người bệnh bị lệch ra khỏi vị trí bình thường của nó bên trong đốt sống. Đĩa đệm thoát vị chèn ép vào dây thần kinh gây ra các cơn đau nhức trong xương, tê và yếu ở tay, chân, gây khó khăn trong vận động…

Thoái hóa khớp

Hiện tượng đau nhức trong xương của bệnh viêm khớp là do lớp sụn bao bọc ở đầu khớp bị sói mòn, khiến hai đầu xương cọ xát vào nhau, dẫn đến đau, cứng, giảm khả năng vận động, thậm chí có thể hình thành gai xương.

Xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch xảy ra khi có một khối vật chất bám trong mạch máu khiến tắc nghẽn lưu thông. Sự tắc nghẽn này làm suy giảm tuần hoàn máu tới xương, khớp, khiến cho xương không được cung cấp đầy đủ các dưỡng chất, dẫn tới đau nhức và yếu xương, yếu khớp.

Lao xương khớp

Là một bệnh do vi trùng lao gây ra, bệnh gây đau ở các khớp háng, cột sống và khớp gối. Biểu hiện khi bị đau nhức xương do lao gây ra là khớp háng không co duỗi chân được, đối với cột sống thì không cúi, gập hay ngửa ra được.

Ung thư xương nguyên phát

Đau nhức trong xương một trong những triệu chứng phổ biến nhất của ung thư xương. Ung thư xương được chia thành hai loại là ung thư xương nguyên phát và ung thư xương di căn (ung thư xương thứ phát).

Bệnh đa u tủy

Đa u tủy xương là một bệnh lý ung thư máu, còn được gọi là bệnh Kahler. Bệnh biểu hiện bởi sự tăng sinh bất thường và không kiểm soát được của tương bào trong tủy xương.

Ở giai đoạn đầu, bệnh nhân có triệu chứng mệt mỏi, suy nhược cơ thể, ăn uống kém, đau xương sườn, xương cột sống, đau khớp, đau đầu,… Tới giai đoạn toàn phát, bệnh gây suy nhược toàn thân, đau xương cột sống thắt lưng, xương sọ, xương ức, cường độ đau liên tục và không đáp ứng với thuốc giảm đau. Có trường hợp bệnh nhân còn bị gãy xương tự phát.

Bệnh bạch cầu

Các cơn đau xương thường gặp nhất trong bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính (hay còn gọi là bệnh ung thư máu), tuy nhiên nó cũng có thể xảy ra trong bệnh bạch cầu cấp tính hoặc hội chứng loạn sinh tuỷ myelodysplastic.

Đau xương khi mang thai

Đau xương chậu là tình trạng phổ biến đối với nhiều bà bầu. Hiện tượng này đôi khi còn được gọi là đau vùng chậu thai kỳ (PPGP). Các triệu chứng bao gồm đau ở xương mu, cứng và đau ở xương chậu.

Đau xương chậu thai kỳ thường chỉ được điều trị sau khi mẹ bầu đã sinh em bé. Các lựa chọn điều trị có thể bao gồm:

Vật lý trị liệu;

Thực hiện các bài tập nước, các bài tập tăng cường sàn chậu;

Sử dụng một số loại thuốc,…

Đau nhức trong xương có cần đi khám không?

Khi bị đau nhức trong xương nếu các cơn đau chỉ xuất hiện khi hoạt động hay làm việc nhiều mà hết đau khi được nghỉ ngơi thì có thể không cần đi khám. Với trường hợp này bạn chỉ cần chú ý làm việc hay hoạt động vừa sức, nhẹ nhàng và nghỉ ngơi hợp lý.

Ngược lại, bệnh nhân cần đi khám sớm nếu các cơn đau kéo dài, mức độ nghiêm trọng, xấu đi theo thời gian, hoặc thấy có hiện tượng sưng, đỏ, ấm, sốt, giảm cân không rõ nguyên nhân hay sờ thấy các khối, cục. Bởi với các triệu chứng kể trên bạn có thể đã mắc phải một số bệnh lý nguy hiểm về xương như thoát vị đĩa đệm, thoái hóa khớp, viêm khớp…

Việc đi khám kịp thời sẽ giúp phát hiện sớm nguyên nhân gây đau nhức trong xương, từ đó có cách khắc phục sớm, giảm các cơn đau cũng như áp lực tinh thần cho người bệnh.

Để chẩn đoán đau nhức xương, bác sĩ sẽ phải xem xét tiền sử bệnh án chi tiết của bạn, kiểm tra thể chất và tiến hành làm một hoặc nhiều xét nghiệm hình ảnh, xét nghiệm máu,… tùy thuộc vào sự nghi ngờ của bác sĩ về nguyên nhân tiềm ẩn.

Tiền sử bệnh

Để tìm hiểu tiền sử bệnh của bạn, bác sĩ có thể hỏi một số câu hỏi, như:

Bạn đau ở vị trí nào?

Cơn đau nhức trong xương xuất hiện lúc nào?

Bạn có trải qua bất kỳ chấn thương hay va đập nào gần đây không?

Cơn đau của bạn diễn ra liên tục hay đến rồi đi?

Có điều gì làm cho nỗi đau của bạn tồi tệ hơn hoặc tốt hơn không?

Cơn đau có đánh thức bạn vào ban đêm?

Bạn có gặp các triệu chứng nào khác ngoài đau không, ví dụ, sốt, giảm cân hoặc yếu cơ?

Kiểm tra thể chất

Bác sĩ sẽ sờ nắn và ấn vào vị trí đau của bạn để kiểm tra mức độ đau, sưng, đổi màu ở vùng da quanh đó, kiểm tra xem có các khối, cục hay không. Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra các cơ và khớp xung quanh để đánh giá khả năng chịu trọng lượng và di chuyển của xương bị ảnh hưởng.

Xét nghiệm máu

Một số xét nghiệm máu có thể được yêu cầu là:

Xét nghiệm công thức máu;

Xét nghiệm điện di Protein;

Xét nghiệm kháng nguyên (ví dụ, kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA ), kháng nguyên carcinoembyronic (CEA),…)

Xét nghiệm hình ảnh

Những xét nghiệm này có thể bao gồm:

X-quang;

Quét xương;

Chụp cắt lớp vi tính (CT);

Chụp PET/CT;

Chụp cộng hưởng từ (MRI);

Thường được chỉ định nếu bác sĩ nghi ngờ ung thư xương, nhiễm trùng xương,…

Điều trị đau nhức trong xương

Phác đồ điều trị đau nhức trong xương sẽ phụ thuộc vào chẩn đoán cơ bản của bạn. Hãy nhớ rằng, đối với nhiều trường hợp, kế hoạch điều trị có thể khá phức tạp, cần kết hợp nhiều phương pháp.

Điều trị ung thư xương, gồm các lựa chọn:

Phẫu thuật

Hóa trị

Xạ trị

Thuốc Mifamurtide, bisphosphonates, thuốc opioids…

Điều trị đau nhức trong xương do nguyên nhân khác, gồm:

Tự chăm sóc tại nhà

Thuốc giảm đau

Kháng sinh

Bổ sung canxi và vitamin D (cho bệnh loãng xương)

Hydrea (hydroxyurea)

Thuốc chống co giật

Thuốc chống trầm cảm

Corticosteroid

Vật lý trị liệu

Thực hiện các bài tập

Thay khớp

.v.v.

Đối với đau nhức xương khớp, bầm tím do chấn thương nhẹ, bạn có thể tự giảm đau bằng một số phương pháp đơn giản tại nhà, chẳng hạn như:

Nghỉ ngơi. Giúp thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương.

Chườm đá. Chườm lạnh lên vùng xương bị bầm tím có thể làm giảm sưng, cứng và đau.

Sử dụng công cụ hỗ trợ. Nếu xương bị bầm gần khớp (như xương đầu gối), bạn có thể đeo nẹp đầu gối để giúp ổn định xương, giảm đau.

Thuốc giảm đau

Có nhiều loại thuốc giảm đau khác nhau. Với các cơn đau nhức xương nhẹ, bác sĩ có thể kê Paracetamol hoặc thuốc chống viêm không steroid (NSAID). Đối với những cơn đau nghiêm trọng, bác sĩ có thể kê đơn thuốc có opioids.

Bisphosphonate

Đây là một loại thuốc được sử dụng để điều trị bệnh loãng xương, bệnh Paget và những tổn thương xương do ung thư.

Được truyền qua tĩnh mạch (tiêm tĩnh mạch) để điều trị nhiễm trùng xương.

Bổ sung canxi và vitamin D

Nếu bệnh nhân bị đau nhức xương do thiếu khoáng, việc bổ sung canxi và vitamin D là cực kỳ cần thiết. Với việc bổ sung này, các cơn đau xương có thể cải thiện đáng kể trong vòng vài tuần.

Đây là loại thuốc uống được sử dụng để điều trị bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh bạch cầu myelogenous mãn tính,… Nếu sử dụng để điều trị bệnh hồng cầu hình liềm, thuốc sẽ giảm số lượng các đợt tấn công.

Thuốc chống co giật, thuốc chống trầm cảm

Việc sử dụng các loại thuốc này có thể được xem xét ở những bệnh nhân bị đau xương có nguồn gốc thần kinh.

Corticosteroid

Hay còn gọi là steroid. Đây là một loại thuốc giúp giảm đau, chống viêm mạnh mẽ. Thuốc được chỉ định cho nhiều loại đau như: Đau lưng, đau cổ, đau xương,…

Phương pháp điều trị ung thư sử dụng thuốc để tiêu diệt các tế bào và mô ác tính.

Phương pháp sử dụng bức xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Vật lý trị liệu

Đây thường là một phần quan trọng trong kế hoạch trị liệu gãy xương (đặc biệt với các xương chính như xương hông). Sau khi xương gãy đã lành, vật lý trị liệu sẽ được thực hiện. Mục đích của vật lý trị liệu là tăng cường, cải thiện tính linh hoạt và khả năng vận động của các cơ xung quanh xương. Vật lý trị liệu cũng hữu ích để cải thiện sức mạnh và sức khỏe của xương ở những người bị loãng xương hoặc nhuyễn xương. Ngoài các bài tập, bác sĩ vật lý trị liệu cũng có thể sử dụng một số liệu pháp như: liệu pháp nhiệt, xoa bóp, siêu âm,…

Một số bài tập cũng giúp giảm đau nhức trong xương do một số nguyên nhân cụ thể, chẳng hạn như:

Đau lưng dưới. Các bài tập kéo dài, đi bộ, bơi lội, đạp xe;

Loãng xương. Đi bộ, tập với máy chạy bộ, leo cầu thang, khiêu vũ, bơi lội, đạp xe

Viêm xương khớp. Đi bộ, bơi lội và đạp xe. Tránh các bài tập gây căng thẳng cho khớp, chẳng hạn như chạy, các bộ môn có tính cạnh tranh cao, thể dục nhịp điệu.

Phẫu thuật có thể được chỉ định để:

Sửa chữa xương bị gãy;

Loại bỏ xương và mô bị tổn thương do nhiễm trùng;

Ổn định xương do ung thư xương đã làm nó suy yếu hoặc gãy;

Loại bỏ một phần xương để cải thiện lưu lượng máu trong hoại tử xương;

.v.v.

Các biện pháp phòng ngừa và giảm đau nhức trong xương

Để phòng ngừa cũng như giảm đau nhức trong xương cần chú ý đến chế độ ăn uống, sinh hoạt hay các bài tập vật lý trị liệu…

Chế độ ăn uống: Bổ sung thực phẩm giàu canxi, vitamin D, nhóm B, C, E, khoáng chất kali, magie sẽ giúp chống oxy hóa qua đó ngăn ngừa quá trình lão hóa xương. Hạn chế ăn mặn vì có thể khiến cơ thể không hấp thụ được canxi có trong thức ăn.

Tránh các tư thế chưa đúng khi sinh hoạt: đối với các khớp xương thì tư thế tốt nhất là đứng thẳng do lúc này diện tích tiếp xúc giữa 2 mặt khớp sẽ cao nhất qua đó hạn chế tối đa lực ép lên các khớp xương. Bên cạnh đó việc nằm lâu, ngồi lâu một chỗ cũng hoàn toàn không được khuyến khích bởi điều đó sẽ gây ứ trệ tuần hoàn máu, ảnh hưởng đến xương khớp.

Tập luyện thể dục thể thao, các bài vật lý trị liệu nhẹ nhàng, vừa phải :khi đã xảy ra hiện tượng đau nghĩa là xương đã bị tổn thương, và nó cần thời gian để hồi phục. Do đó việc nghỉ ngơi hoặc tập những bài tập nhẹ nhàng sẽ giúp xương thư giãn, giúp giảm đau và cải thiện sự dẻo dai cho xương.

Tránh hút thuốc, sử dụng các chất kích thích;

Hạn chế uống rượu.

Để ngăn ngừa chấn thương xương, hãy mặc đồ bảo vệ trong các môn thể thao tiếp xúc (ví dụ: sử dụng miếng đệm đầu gối, khuỷu tay) và đeo dây an toàn khi lái xe.

Có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra đau nhức trong xương. Hi vọng những thông tin trên đã giúp bạn hình dung được phần nào những nguyên nhân này và hiểu được tình trạng đau nhức trong xương của bản thân, để từ đó có hướng điều trị thích hợp.

*** Bài viết có sự cố vấn của PGS. TS Lê Minh Hà, hiện nay đang công tác tại Viện Hàn Lâm Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam.

Mắc Ung Thư Xương Hàm Vì Bỏ Qua Dấu Hiệu Đau Nhức Răng

Đó là trường hợp của cô gái Jennie Yoo, 28 tuổi, sống tại thủ đô Bangkok, Thái Lan. Cô phát hiện triệu chứng đau nhức ở răng và xương hàm trên vào tháng 11/2024 nhưng đã bỏ qua không đi khám. Khi đến gặp nha sĩ và đã bị sốc khi phát hiện mình mắc ung thư.

Để điều trị, cô đã phải cắt bỏ khối u và phát triển hóa trị liệu. Căn bệnh khiến khuôn mặt cô biết dạng, rụng răng. Gần đây, cô không thể nói chuyện hay ăn uống. Các bác sỹ cho biết, tình trạng của cô đã khá nặng và chỉ sống được một thời gian ngắn.

Chị Đặng Thị H (Hòa Bình) cũng tưởng bị đau răng không ngờ mắc ung thư hàm vì bỏ qua dấu hiệu cơ bản. Cách đây mấy tháng, chị cảm thấy đau, tê buốt vùng hàm trên từng đợt nhưng chị cứ nghĩ do viêm răng lợi bình thường gây ra và không để ý tới.

Các đợt đau buốt tăng dần lên khiến chị có lúc bị tê dại cả khuôn mặt, kèm theo đó là tình trạng ngạt mũi cũng xuất hiện. Được mọi người bảo bị viêm xoang, chị đi mua thuốc nhỏ mũi và kháng sinh về dùng nhưng không hề có tác dụng. Đi khám, chụp phim chị đau đớn biết mình bị ung thư xương hàm.

Ung thư xương hàm là một bệnh nguy hiểm có thể làm biến dạng khuôn mặt, ảnh hưởng đến khả năng nhai, thậm chí tử vong nếu không được điều trị sớm.

Tuy nhiên, theo các bác sỹ của Bệnh viện ung bướu Hưng Việt (Hà Nội) đa phần người bệnh thường phát hiện bệnh muộn. Nguyên nhân do biểu hiện ung thư xương hàm thường không rõ ràng và dễ nhầm lẫn với bệnh khác về răng. Nhiều người bệnh chỉ thấy biểu hiện răng đau buốt lại nghĩ bị đau nhức răng thông thường nên mất nhiều thời gian chữa tủy răng, rồi nhổ răng… mà không đỡ. Chỉ khi đến bệnh viện chụp phim mới xác định được bệnh ung thư xương hàm. Việc phát hiện muộn gây khó khăn cho việc điều trị.

Một số dấu hiệu cơ bản để giúp nhận biết sớm bệnh, trong đó có một số các biểu hiện phổ biến như răng đau; bị đau hàm, tê ngứa trong hàm. Bệnh nhân rất đau khi nhai thức ăn, luôn có cảm giác đau đớn làm cho người bệnh ăn không ngon miệng. Ngoài ra có triệu chứng sưng mặt; răng lung lay…

Các chuyên gia khuyến cáo, mọi người cần vệ sinh, chăm sóc răng miệng đúng cách để tránh các bệnh về răng miệng nói chung, ung thư xương hàm nói riêng. Không ăn uống thức ăn nóng lạnh đột ngột gây hại cho răng. Khi có các dấu hiệu bất thường trong khoang miệng cần đi khám để tìm ra nguyên nhân, không tự ý dùng thuốc. Điều lưu ý là nên khám miệng định kỳ, chụp phim khảo sát xương hàm định kì mỗi năm.

Việc phát hiện sớm khối u có giá trị rất lớn cho việc điều trị. Bởi vậy, mọi người đừng nên bỏ qua những dấu hiệu cơ bản như trên. Nếu bệnh chuyển sang giai đoạn nặng khuôn mặt sẽ có nhiều biến dạng, gây khó khăn hơn cho việc điều trị và nguy cơ cao lây lan sang những bộ phận khác. Bệnh nhân sẽ mất hoàn toàn khả năng nhai và có thể dẫn đến tử vong.

Việc điều trị bệnh hiện đã tốt hơn nhiều với các tiến bộ y học. Điều trị ung thư hàm chủ yếu bằng phẫu thuật khoét bỏ u khi u còn nhỏ và phải cắt đoạn xương khi u phát triển lan rộng. Tùy giai đoạn bệnh, các bác sỹ sẽ tiến hành cắt bỏ rồi chọn phương pháp hóa, xạ trị kết hợp.

Hà My

Ung Thư Xương (Sarcoma Mạch Máu) Ở Chó

Cũng như với nhiều loại bệnh ung thư, những con chó có tuổi đời lớn thường bị chẩn đoán là mắc sacôm mạch máu.

Triệu chứng

Nếu khối u nằm ở chân, chú chó sẽ bị khập khiễng chân hoặc chân bị sưng

Gãy xương là do xương yếu

Sưng tại vùng bị ảnh hưởng bởi khối u

Khó thở nếu khối u nằm ở xương sườn

Niêm mạc nhợt nhạt ( mũi, môi, tai, bộ phận sinh dục)

Thiếu máu do mất máu từ khối u bị vỡ.

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính xác gây nên sacôm mạch máu trong xương hiện tại vẫn chưa tìm ra.

Chẩn đoán

Bác sỹ thú y sẽ tiến hành kiểm tra sức khỏe tổng thể cho chú chó của bạn, bao gồm hồ sơ máu hoàn chỉnh, bảng phân tích thành phần hóa học của máu, công thức máu tổng quát và phân tích nước tiểu. Việc tiến hành các xét nghiệm và phân tích có thể chỉ ra liệu có bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể bị ảnh hưởng hay không và liệu hiện tại có bất kỳ tình trạng bệnh nào khác hay không. Một số tình trạng có thể xảy ra đồng thời với sacom mạch máu là bệnh thiếu máu có thể tái tạo hồng cầu , là do số lượng hồng cầu non cao bất thường; lượng protein thấp bất thường (chứng giảm protein trong huyết); số lượng bạch cầu tăng bất thường (chứng tăng bạch cầu) có thể chỉ ra rằng cơ thể đang chiến đấu với tình trạng bệnh tật; lượng tiểu cầu trong máu thấp ( chứng giảm tiểu cầu), – tiểu cầu có nhiệm vụ trong việc làm đông máu; và tế bào máu không đồng đều về kích thước hoặc có hình dạng bất thường( tương ứng gọi là bệnh anisocytosis và poikilocytosis).

Một chẩn đoán mang tính kết luận có thể được đưa ra dựa trên việc tìm những khoảng không trong mạch máu có chứa tế bào hồng cầu, cục máu đông, các mảnh vụn của tế bào chết và tế bào u biến đổi.

Điều trị

Phẫu thuật tích cực vẫn là phương pháp được lựa chọn trong việc điều trị khối u này. Khối u và các vùng xung quanh khối u sẽ cần được cắt bỏ hoàn toàn. Nếu khối u ở chi nào thì trường hợp có thể xảy ra nhất chính là chi đó sẽ bị cắt cụt, sau đó thì phần lớn các chú chó sẽ bình phục hoàn toàn.Khối u trục ảnh hưởng đến vùng đầu hoặc phần thân – khá khó để điều trị. Hóa trị cùng với phẫu thuật là biện pháp điều trị được khuyến nghị sử dụng trong kế hoạch điều trị bệnh ung thư này.

Chăm sóc

Bác sỹ thú y sẽ lập một lịch biểu cho việc thăm khám nhằm đánh giá tiến độ hồi phục, bắt đầu từ tháng đầu tiên sau điều trị ban đầu và lặp lại cứ mỗi 3 tháng tiếp đó. Biện pháp hóa trị có thể gây ra những tác dụng phụ có hại nên bác sỹ thú y cần phải giám sát chặt chẽ tình trạng ổn định của chú chó, thay đổi liều lượng thuốc nếu cần thiết. Chụp X quang định kỳ vùng ngực, tim và bụng để kiểm tra sự tái phát hoặc tiến độ phục hồi.

Sau phẫu thuật, bạn cần phải biết rằng chú chó của mình sẽ phải chịu cảm giác đau đớn. bác sỹ thú y sẽ kê thuốc giảm đau để giúp chú chó của bạn giảm tối thiểu cảm giác khó chịu do đau đớn gây ra. Sử dụng thuốc giảm đau một cách thận trọng; một trong những tai nạn dễ ngăn ngừa nhất chính là việc cho vật nuôi của bạn sử dụng thuốc quá liều. Tuân thủ theo tất cả các hướng dẫn một cách cẩn thận.

Bác sỹ thú y sẽ cho bạn biết khi nào an toàn để chú chó của bạn vận động bình thường trở lại. Phần lớn các chú chó sẽ hồi phục tốt sau khi cắt cụt chi và chúng sẽ học cách đi lại với cái chân bị mất.

Vấn đề quan trọng là phải kiểm soát thức ăn và nước uống của chú chó trong quá trình hồi phục. Nếu chú chó của bạn không muốn ăn, có lẽ bạn cần phải sử dụng ống dẫn thức ăn để nó có thể nhận được đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho việc hồi phục hoàn toàn. Bác sỹ thú y sẽ chỉ cho bạn cách sử dụng ống dẫn thức ăn đúng cách, và sẽ hộ trợ bạn trong việc lập lịch ăn cho chú chó.

Tình trạng của mỗi con chó là khác nhau. Một số sẽ sống lâu hơn những con khác nhưng thời gian sống sót trung bình sau phẫu thuật là 6 tháng Và số con sống sót trong một năm sau phẫu thuật ít hơn 10%.

Bệnh Đa U Tủy Xương (Ung Thư Máu)

Đa u tủy xương có nguy hiểm không? Đa u tủy xương hay còn gọi là bệnh Kahler thuộc 8% bệnh lý ác tính trong hệ tạo huyết, là bệnh lý ung thư tương bào là những tế bào giữ chức năng tiết ra kháng thể. Khi những tương bào này trở nên ác tính, nó chỉ tiết ra kháng thể đơn dòng không có chức năng như bình thường mà lắng đọng ở những cơ quan trong cơ thể dẫn đến rối loạn chức năng ở những bộ phận này. Ngoài ra, khi bị bệnh globulin miễn dịch của bệnh nhân cũng giảm đi nhiều nên khả năng miễn dịch của bệnh nhân cũng giảm đi rất nhiều. Những dấu hiệu ban đầu của bệnh đa u tủy xương Kahler bao gồm mệt mỏi, suy nhược cơ thể, gầy sút, ăn uống kém, đau xương sườn, xương cột sống, đau khớp, nhức đầu… Khi tiến tới giai đoạn toàn phát, bệnh đa u tủy và các u tương bào làm cho bệnh nhân suy nhược cơ thể toàn thân, đau những xương như cột sống thắt lưng, xương sọ, xương ức và cường độ đau liên tục và không đáp ứng với thuốc giảm đau, có những trường hợp còn xảy ra gãy xương tự phát. Bệnh nhân đa u tủy xương Kahler còn có những triệu chứng của thiếu máu bình sắc hồng cầu bình thường, tăng canxi máu do sự tăng hủy xương và bất động quá lâu, suy thận, nhiễm khuẩn… Đa u tủy xương Kahler là bệnh lý rất nguy hiểm với những biến chứng ảnh hưởng đến tính mạng con người như nhiễm trùng phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, biến chứng về thần kinh do sự chèn ép tủy làm liệt chi dưới, liệt dây thần kinh sọ, rối loạn tâm thần. Ngoài ra, bệnh còn để lại những biến chứng về máu rất nghiêm trọng, dễ dẫn đến suy tủy, chảy máu. Triệu chứng suy thận ở bệnh làm tăng nồng độ axit uric. Phương pháp điều trị bệnh Đa u tủy xương. Vì đây là một căn bệnh ác tính nên những phương pháp điều trị bệnh đa u tủy xương có thể giúp bệnh nhân duy trì sự sống trong thời gian từ 6 tháng đến 3 năm. Mục tiêu điều trị bệnh đa u tủy xương Kahler là giảm triệu chứng, giảm sự sinh sản protein và ngăn chặn khả năng ác tính của bệnh. Những phương pháp điều trị bệnh đa u tủy xương phổ biến là hóa trị, xạ trị hoặc có thể là thay huyết tương, ghép tế bào gốc. Trong trường hợp bệnh nhân có kèm theo hiện tượng suy thận thì cần điều trị suy thận kết hợp với điều trị hóa chất, trường hợp tăng canxi máu thì phải lọc huyết tương hay sử dụng kháng sinh trong trường hợp bệnh nhân bị nhiễm trùng. Ghép tế bào gốc tạo máu là phương pháp điều trị triệt để nhất, cơ hội giúp bệnh nhân mắc bệnh về máu ác tính, trong đó có bệnh đa u tủy xương để bệnh nhân có thể lui bệnh và có cuộc sống bình thường.

========================

Lương y. Phạm Quốc KhánhĐiện thoại: 093636.2656