Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Mang Thai / 2023 / Top 19 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Sept.edu.vn

【New】Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Khi Mang Thai Có Được Không? / 2023

Chào bác sĩ, Em gái tôi năm nay 23 tuổi, đang mang thai được 6 tuần nhưng muốn đi chích vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung. Mong bác sĩ tư vấn giúp là việc chích ngừa ung thư cổ tử cung khi mang thai có được không? Có ảnh hưởng gì đến thai nhi trong bụng không?. Thêm nữa là tôi hiện nay 25 tuổi, đang cho con bú, thì liệu có đi chích ngừa được không? Vì tôi sắp hết tuổi được chích vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, nên nếu được thì tôi cũng muốn đi chích ngừa. Nếu được thì chị em tôi nên chích ở đâu để thuốc được chuẩn nhất? Cảm ơn bác sĩ. Mai Lan, 25 tuổi, Tp. Hồ Chí Minh Trả lời

Chào bạn

Nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung là do nhiễm virus Papilloma (HPV). Để phòng ngừa ung thư cổ tử cung, có 2 cách. Thứ nhất là ngăn ngừa lây nhiễm Human Pappilomavirus HPV qua đường tình dục bằng cách tiêm vắc xin. Thứ 2 là làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung ( PAP smear) để phát hiện và điều trị sớm các trường hợp tổn thương tiền ung thư cổ tử cung để ngăn chặn diễn tiến thành ung thư.

Phương pháp tiêm vắc xin hiện nay được nhiều phụ nữ trẻ dùng vì tính hiệu quả và tiện lợi cao. Vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung không được tiêm cho phụ nữ đang mang thai, tuy nhiên những bà mẹ đang cho con bú vẫn có thể tiêm bình thường. Như vậy, hiện nay em gái bạn đang mang thai thì không được tiêm loại vắc xin này, tuy nhiên bạn thì có thể tiêm. Việc tiêm vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung sẽ không ảnh hưởng gì đến con bạn. Sau khi em gái bạn sinh xong thì vẫn hoàn toàn có thể tiêm vắc xin này.

Để tiêm vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung, bạn có thể đến các bệnh viện phụ sản hoặc trung tâm y tế dự phòng của thành phố (tỉnh), quận (huyện) nơi bạn đang sinh sống.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý thêm là cho dù có tiêm ngừa hay không vẫn phải tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung ( Pap smear) vì có nhiều nguyên nhân khác gây ung thư cổ tử cung ngoài nhiễm HPV. Theo thống kê, có đến 30% trường hợp ung thư cổ tử cung không thể phòng tránh bởi các vắc xin phòng chống HPV hiện nay. Do đó, ngoài việc tiêm vắc xin, bạn và em bạn nên đi làm xét nghiệm Pap 1 năm 1 lần, bắt đầu từ khoảng 3 năm sau khi có quan hệ tình dục lần đầu tiên. Sau khoảng 2 -3 lần xét nghiệm cho kết quả bình thường, bạn có thể cân nhắc là xét nghiệm này 3 năm 1 lần và duy trì cho đến khi 70 tuổi.

Bệnh viện Thu Cúc hiện đã trang bị đầy đủ các thiết bị, máy móc phục vụ cho tầm soát và điều trị ung thư nên nếu bạn có điều kiện ra Hà Nội, bạn có thể đến đây làm xét nghiệm Pap tầm soát ung thư cổ tử cung và được các bác sĩ của chúng tôi tư vấn cụ thể hơn về căn bện này.

Để đặt lịch tầm soát ung thư cổ tử cung, vui lòng liên hệ Tổng đài 1900 55 88 96/ hotline: 0904.970.909.

Ung Thư Cổ Tử Cung Và Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

1. Ung thư cổ tử cung là gì?

Ung thư cổ tử cung là sự tăng trưởng bất thường của các tế bào ở tử cung – bộ phận có hình nón cụt và là một phần của hệ cơ quan sinh dục nữ.

2. Tìm hiểu về Virus Papillomavirus (HPV)

2.1. Virus Papillomavirus (HPV) là gì?

Papillomavirus (HPV) là tên được đặt cho một nhóm vi-rút gây u nhú ở người. Có hơn 100 loại HPV khác nhau và khoảng 40 loại ảnh hưởng đến vùng sinh dục.

HPV rất phổ biến và rất dễ lây qua bất kỳ loại quan hệ tình dục nào với người khác đã mắc bệnh này. Nhiễm trùng do HPV thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và hầu hết mọi người sẽ không biết họ bị nhiễm bệnh. Nhiễm trùng với các loại HPV có thể gây ra:

+ Mụn có sinh dục – tăng trưởng nhỏ hoặc thay đổi da trên hoặc xung quanh khu vực sinh dục hoặc hậu môn; chính là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất (STI) ở Anh;

+ Mụn cóc da và verrucas – không phải trên khu vực bộ phận sinh dục;

+ Mụn cóc trên hộp giọng nói hoặc dây thanh âm (u nhú thanh quản).

2.2. Papillomavirus (HPV) lây lan như thế nào?

Nhiễm trùng HPV có thể lây lan qua bất kỳ tiếp xúc da kề da và thường được tìm thấy trên ngón tay, bàn tay, miệng và bộ phận sinh dục. Điều này có nghĩa là virus có thể lây lan trong bất kỳ loại hoạt động tình dục nào, bao gồm cả việc chạm vào.

3. Vắc xin dùng để Chích ngừa ung thư cổ tử cung

Gần như tất cả các bệnh ung thư cổ tử cung (99,7%) là do nhiễm một loại HPV nguy cơ cao. HPV-16 và HPV-18 chiếm khoảng 70% trong tất cả các loại ung thư cổ tử cung. HPV-6 và -11 gây ra khoảng 90% mụn cóc sinh dục. Những loại HPV này cũng gây ra một số bệnh ung thư hậu môn và sinh dục, và một số bệnh ung thư ở đầu và cổ.

Hiện tại, có thể chích ngừa ung thư cổ tử cung bằng một trong hai loại vắc-xin là Gardasil (Mỹ) và Cervarix (Bỉ).

3.1. Vắc xin Gardasil (Mỹ)

Gardasil là một loại vắc xin, được cấp phép sử dụng vào tháng 6 năm 2006, bởi FDA – Hoa kỳ. Nó nhắm mục tiêu bốn chủng papillomavirus ở người (HPV) là HPV-6, 11, 16 và 18.

Nếu bị bỏ lỡ một trong hai liều vắc xin Gardasil nên tiêm bổ sung sớm nhất có thể. Điều quan trọng là phải có cả hai liều vắc xin để được bảo vệ hoàn toàn.

Những người chưa tiêm vắc xin ở năm 9 tuổi vẫn có thể được chích ngừa đến năm họ 26 tuổi.

Tiêm vắc xin Gardasil để phòng ngừa ung thư cổ tử cung và một số bệnh đường sinh dục.

3.2. Vắc xin Cervarix (Bỉ)

Chích ngừa ung thư cổ tử cung bằng vắc xin Cervarix

Vắc xin Cervarix nhắm mục tiêu hai chủng papillomavirus ở người (HPV) – HPV 16 và 18. Vắc xin Cervarix tiêm cho bé gái từ 10 đến 25 tuổi với 3 mũi liên tiếp. Mũi đầu nên tiêm khi bé gái 10 tuổi. Mũi thứ 2 cách mũi đầu 1 tháng. Mũi thứ 3 cách mũi tiêm thứ 2 là 6 tháng.

Khác với Gardasil, tiêm vắc xin Cervarix chỉ giúp phòng ngừa ung thư cổ tử cung.

4. Đôi điều cần biết về chích ngừa ung thư cổ tử cung

4.1. Chích ngừa ung thư cổ tử cung nên thực hiện khi nào?

Vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hoạt động tốt nhất nếu bé gái chưa tiếp xúc với virus (nói cách khác, trước khi chích hoạt động tình dục). Vì vậy, chích ngừa ung thư cổ tử cung được khuyến nghị trong những năm thiếu niên và có thể sau đó đến năm 26 tuổi. Hầu hết những người không được chích ngừa ung thư cổ tử cung sẽ bị nhiễm một số loại HPV tại một số thời điểm trong cuộc sống của họ.

4.2. Chích ngừa ung thư cổ tử cung như thế nào?

Chích ngừa ung thư cổ tử cung hiện đang được tiêm dưới da vào cánh tay.

4.3. Chích ngừa ung thư cổ tử cung bảo vệ trong bao lâu?

Theo tài liệu từ các nhà sản xuất thì vắc xin phòng ngừa gây bệnh của HPV trong ít nhất 10 năm. Tuy nhiên vắc xin HPV không bảo vệ chống lại tất cả các loại virus có thể gây ung thư cổ tử cung nên tất cả các bé gái đã được tiêm vắc xin HPV vẫn nên được khám phụ khoa thường xuyên.

4.4. Có cần làm xét nghiệm trước khi chích ngừa ung thư cổ tử cung không?

Trước khi chích ngừa ung thư cổ tử cung không cần làm xét nghiệm. Nữ giới không mang thai, không dị ứng với bất cứ thành phần nào của vắc xin này đều có thể chích ngừa.

4.5. Bị nhiễm HPV có chích ngừa ung thư cổ tử cung được không?

Trên thực tế virus HPV rất dễ lây nhiễm nên việc tái nhiễm virus sau khi cơ thể đã đào thải là dễ dàng xảy ra. Miễn dịch tự nhiên của cơ thể không có đủ khả năng ghi nhớ để đề phòng tái nhiễm nhưng vắc xin thì có thể. Bên cạnh đó, như đã biết, HPV có nhiều chích khác nhau nên nếu trước đây bạn từng bị nhiễm một chích HPV nào đó thì vẫn nên chích ngừa HPV để được bảo vệ với các chích HPV khác. Như vậy, khi đã bị nhiễm HPV hay đã từng quan hệ tình dục thì việc chích ngừa ung thư cổ tử cung là vẫn cần thiết.

Như vậy, chích ngừa ung thư cổ tử cung là biện pháp hữu hiệu để giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Bên cạnh đó, một lối sống lành mạnh và luôn có biện pháp tình dục an toàn cũng là việc làm cần thiết để bảo vệ sức khỏe sinh sản của bạn.

Có Nên Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung Không? / 2023

Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, mỗi năm trên thế giới phát hiện có đến 500.000 chị em phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử cung. Trong đó có khoảng ½ người không thể qua khỏi và phải đối diện với trường hợp xấu nhất là tử vong. Riêng ở Việt Nam, trung bình 4 phút thì có 1 người phụ tử vong vì căn bệnh này. Và đây cũng chính là dấu hiệu cảnh báo tất cả phái nữ đừng xem thường căn bệnh này. Tính đến thời điểm hiện tại, ung thư cổ tử cung là căn bệnh nguy hiểm chỉ đứng sau bệnh ung thư vú.

Ung thư cổ tử cung xuất hiện khi các tế bào tại vị trí cổ tử cung tăng sinh quá mức và hình thành nên các khối u. Nguyên nhân chính là do virus HPV – một loại virus có khả năng lây nhiễm từ người này sang người khác qua đường tình dục. Ngoài gây bệnh ung thư cổ tử cung, virus HPV còn có khả năng gây ra một số bệnh sinh dục khác. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác gây ra bệnh ung thư cổ tử cung như: có tiền sử mắc bệnh lây qua đường tình dục, quan hệ tình dục không an toàn với nhiều người, dùng thuốc tránh thai trong khoảng thời gian dài, sinh con quá sớm khi cơ quan sinh sản chưa thực sự toàn diện,…

Trong những khoảng thời gian đầu, người bệnh rất khó nhận biết bản thân bị ung thư cổ tử cung nếu không được tiến hành thăm khám và chẩn đoán. Những triệu chứng gặp phải đôi khi bị nhầm lẫn với các bệnh phụ khoa khác. Có lẽ vậy mà nhiều chị em chủ quan không chịu thăm khám. Và đa số chị em phát hiện bản thân mắc bệnh khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn nặng. Lúc này việc điều trị trở nên khó khăn và tốn kém hơn.

Cho đến thời điểm hiện tại, giới y học hiện đại vẫn đang nghiên cứu thuốc đặc trị bệnh ung thư cổ tử cung. Vì chưa có thuốc đặc trị nên bác sĩ chỉ điều trị bệnh dựa trên triệu chứng lâm sàng và mức độ bệnh lý. Tuy nhiên, bạn cũng có thể khống chế sự phát triển của virus HPV thông qua việc tiêm ngừa vắc xin. Và đây cũng chính là giải pháp an toàn và hiệu quả nhất được các chuyên gia y tế hàng đầu khuyến cáo.

Vắc xin HPV là loại vắc xin được nghiên cứu và chế tạo nhằm chống lại sự viêm nhiễm của một số tuýp virus HPV đặc biệt. Cụ thể hơn là tuýp 16 và 18 gây ung thư cổ tử cung và tuýp 6, 11 gây bệnh sùi mào gà. Loại vắc xin này tuy không bắt buộc nữ giới tiêm ngừa nhưng được khuyến cáo để bảo vệ sức khỏe hiện tại và cả tương lai.

Những ai nên chích ngừa ung thư cổ tử cung?

Chị em phụ nữ trong độ tuổi từ 9 – 26 tuổi;

Phụ nữ đã và chưa từng quan hệ tình dục;

Nữ giới trên 26 tuổi vẫn có thể tiêm phòng nhưng trước hết cần trao đổi với bác sĩ về vấn đề này.

Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều đối tượng khác không được chuyên gia y tế khuyến cáo tiêm phòng vắc xin ung thư cổ tử cung, như:

Người bị dị ứng hoặc quá mẫn cảm với một số thành phần có trong vắc xin HPV;

Người đã đi xét nghiệm và phát hiện đã bị nhiễm virus HPV. Tuy nhiên, nhóm đối tượng này vẫn có thể chích ngừa bởi virus HPV được phân thành nhiều tuyp khác nhau. Việc chích ngừa sẽ giúp phòng các tuýp HPV khác;

Người mắc bệnh mãn tính như rối loạn đông máu, loãng xương, giảm tiểu cầu hoặc đang trong quá trình sử dụng thuốc hỗ trợ đông máu;

Người đang bị sốt cao hoặc nhiễm trùng. Nếu có nhu cầu tiêm phòng vắc xin HPV thì cần điều trị dứt điểm mới có thể bắt đầu chích ngừa;

Phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú. Nhóm đối tượng này chỉ được tiêm phòng khi đã qua giai đoạn này.

Trước khi tiêm vắc xin ung thư cổ tử cung, bạn sẽ được bác sĩ chỉ định thăm khám sức khỏe tổng thể và làm một số xét nghiệm nếu cần thiết để sàng lọc sức khỏe. Đồng thời, bạn nên trao đổi thẳng thắn với bác sĩ về tình trạng sức khỏe hiện tại, quan hệ tình dục hay chưa từng cũng như nhu cầu mang thai sau khi tiêm phòng. Việc trao đổi sẽ giúp bạn có những giải pháp và hướng khắc phục hiệu quả.

Các loại vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung hiện nay

Vắc xin HPV được xem như vũ khí tinh nhuệ giúp bảo vệ sức khỏe của chị em phụ nữ khỏi các bệnh lý do virus HPV gây ra – một loại virus lây qua đường tình dục không an toàn. Nếu tiêm phòng đủ liều và đúng lịch trình thì hiệu quả phòng bệnh có thể lên đến 70%. Mặc dù hiệu quả không đạt đến 100% nhưng tiêm phòng sẽ giúp bạn cảm thấy an tâm hơn.

Trên thị trường hiện nay, có không ít các loại vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung nhưng ở nước ta chỉ yếu sử dụng rộng rãi 2 loại vắc xin chính là vắc xin Cervarix và vắc xin Gardasil. Mỗi loại vắc xin đều có những thành phần và đối tượng sử dụng khác nhau. Cụ thể hơn:

Theo khuyến cáo từ nhà sản xuất, để vắc xin đạt được hiệu quả tối đa cần tiêm đủ liều và đúng liều. Trong trường hợp quên tiêm thì nên bổ sung ngay liều tiêm mà không nhất thiết phải tiêm lại từ đầu. Tuy nhiên, khoảng thời gian hoàn tất 3 mũi tiêm không được quá 2 năm.

Những thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo.

Ung Thư Cổ Tử Cung Khi Mang Thai / 2023

Một tin vui là nhiều phụ nữ mang thai bị ung thư cổ tử cung vẫn có thể sinh ra được các em bé khỏe mạnh.

Ung thư cổ tử cung là gì?

Phần thấp nhất của tử cung được gọi là cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung bắt đầu từ các tế bào niêm mạc cổ tử cung. Khi bạn mang thai, em bé sẽ phát triển tại phần trên của tử cung (còn gọi là thân tử cung). Thân tử cung được nối với âm đạo (hoặc đường dẫn sinh) thông qua cổ tử cung.

Ung thư cổ tử cung xảy ra khi các tế bào bất thường tại cổ tử cung nhân lên với tốc độ không kiểm soát được. Và một điều không may đó là, ung thư cổ tử cung lại tương đối phổ biến trong số những phụ nữ mang thai trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tại một số quốc gia, bác sỹ sẽ thường xuyên tiến hành các xét nghiệm để phát hiện sớm các dấu hiệu của ung thư cổ tử cung trong khi mang thai. Do vậy, những quốc gia này thường không ghi nhận được nhiều ca mắc ung thư cổ tử cung.

Nếu ung thư cổ tử cung được phát hiện sớm, có thể được điều trị khỏi hoàn toàn. Một trong số những cách phổ biến nhất để chẩn đoán ung thư cổ tử cung là tiến hành xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (pap smear)

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung trong khi mang thai

Các tế bào tại cổ tử cung không bị nhiễm trùng hoặc trở thành tế bào ung thư chỉ trong một đêm. Trên thực tế, những tế bào này sẽ phát triển dần dần thành tế bào tiền ung thư, trước khi trở thành tế bào ung thư. Phải mất vài năm thì tế bào tiền ung thư mới có thể phát triển thành tế bào ung thư được. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quá trình phát triển này có thể sẽ diễn ra rất nhanh và chỉ mất chưa đầy 1 năm để các tế bào phát triển thành ung thư.

Trong gần như tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung, sự thay đổi các tế bào DNA là do virus HPV gây ra. Sự thay đổi cấu trúc DNA được gọi là đột biến. Đột biến có thể phá vỡ quá trình kiểm soát sự phát triển của tế bào. Do vậy, các tế bào vẫn sẽ tiếp tục tăng sinh kể cả khi không cần thiết. Những tế bào này sẽ dẫn đến việc hình thành các khối u và có thể diễn biến thành ung thư.

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung khi mang thai

Mặc dù ung thư là một tình trạng bệnh nghiêm trọng, và chẩn đóan ung thư cổ tử cung khi đang mang thai có thể sẽ khiến bạn căng thẳng và vô cùng lo lắng, nhưng theo thống kê, chỉ có khoảng gần 3% số ca ung thư cổ tử cung được chẩn đoán trong khi mang thai.

Thông thường, xét nghiệm tế bào cổ tử cung (pap smear) có thể phát hiện ra sự có mặt của ung thư cổ tử cung. Bác sỹ có thể sẽ khuyên bạn nên tiến hành xét nghiệm này nếu bạn thường xuyên hoặc bị ra máu bất thường khi mang thai.

Điều trị ung thư cổ tử cung khi mang thai

Nếu bạn được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung khi đang mang thai, phương pháp điều trị sẽ phụ thuộc vào các triệu chứng cụ thể của bạn. Bác sỹ có thể sẽ quyết định sẽ điều trị ung thư cổ tử cung khi mang thai dựa vào các yếu tố sau:

Loại ung thư cổ tử cung mà bạn mắc phải

Kích thước khối u và việc liệu khối u đã lan rộng chưa (xác định giai đoạn ung thư)

Bạn đã mang thai được bao lâu rồi

Bạn có muốn điều trị ung thư trong khi mang thai hay không, hay sẽ đợi sau khi sinh mới bắt đầu điều trị. Trừ khi ung thư lan rộng và gây ra những mối nguy lớn cho cả bạn và em bé nếu không được điều trị, còn nếu không, đa phần các bác sỹ sẽ khuyên bạn nên đợi đến khi sinh xong rồi mới điều trị.

Nếu bạn không muốn điều trị và muốn tiếp tục mang thai, bác sỹ có thể sẽ quyết định bắt đầu điều trị khi bạn bước vào 3 tháng giữa của thai kỳ. Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu y học hoặc dữ liệu ghi chép lại về việc điều trị ung thư trong khi mang thai. Đa số các phương pháp điều trị ung thư khi mang thai vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm

Trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ

Trong trường hợp phát hiện ung thư khi bạn đang trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ, bác sỹ có thể sẽ khuyên bạn nên đợi sau khi sinh mới điều trị. Tuy nhiên, trong những trường hợp này, bác sỹ có thể sẽ yêu cầu bạn phải đẻ mổ và có thể sẽ phải sinh sớm hơn ( sinh non), thay vì chờ đợi đến ngày sinh và đẻ thường.

Ngay sau khi em bé được sinh ra, bác sỹ sẽ bắt đầu điều trị ung thư cho bạn. Trong suốt quá trình sinh mổ, bác sỹ cũng có thể sẽ quyết định cắt bỏ tử cung. Điều trị tiếp theo bao gồm xạ trị và hóa trị.

Nếu bạn có khối u nhỏ

Nếu bạn có khối u nhỏ, thì 2 lựa chọn điều trị thích hợp cho bạn là phẫu thuật cắt chóp cổ tử cung (cone biopsy) hoặc cắt bỏ tử cung. Cắt bỏ tử cung thường sẽ không được thực hiện nếu bạn đang mang thai và chỉ có một số ít phụ nữ thực hiện thủ thuật đặc biệt này. Cắt bỏ tử cung có thể dẫn đến việc chảy rất nhiều máu và có thể khiến em bé bị tử vong sau phẫu thuật.

Nếu bạn có khối u lớn

Nếu khối u của bạn lớn, bác sỹ có thể sẽ yêu cầu hóa trị để kiểm soát sự phát triển của khối u cho đến khi em bé được sinh ra. Trong 3 tháng đầu, bạn sẽ không thể được điều trị hóa trị vì sẽ gây nguy hiểm cho em bé. Hóa trị có thể sẽ gây ra những tổn thương vĩnh viễn cho em bé và trong một số trường hợp có thể gây sảy thai.

Phẫu thuật

Bác sỹ có thể sẽ tiến hành phẫu thuật để loại bỏ khối u và một số tế bào khỏe mạnh ở gần khối u. Phẫu thuật không gây ra quá nhiều nguy cơ với em bé và là một trong số những lựa chọn điều trị an toàn nhất cho ung thư cổ tử cung khi bạn đang mang thai.

Hóa trị

Hóa trị là việc sử dụng rất nhiều thuốc để phá hủy các tế bào ung thư. Hóa trị không phù hợp nếu bạn đang ở trong 3 tháng đầu thai kỳ vì sẽ gây ra rât snhiều nguy cơ cho em bé trong bụng. Trong 3 tháng đầu, các cơ quan bộ phận của em bé đang hình thành. Hóa trị trong thời gian này sẽ gây ra những dị tật bẩm sinh hoặc thậm chí là sảy thai. Trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, bánh rau đã tạo ra một hàng rào bảo vệ quanh em bé, do vậy, thuốc khó có thể đến được em bé. Tuy nhiên, vẫn sẽ có một lượng thuốc nhất định ảnh hưởng đến em bé và nguy cơ là tương đối ít.

Xạ trị

Xạ trị sử dụng tia X năng lượng cao để phá hủy tế bào ung thư. Xạ trị có thể gây ra những tổn thương nhất định đến em bé. Do vậy, bác sỹ sẽ cố gắng tránh xạ trị càng nhiều càng tốt trong khi bạn đang mang thai. Nguy cơ xạ trị gây ra với em bé sẽ phụ thuộc vào liều xạ trị mà bạn sử dụng.

Điều trị hay chờ đợi?

Mặc dù số ca được chẩn đoán ung thư cổ tử cung ở phụ nữ là rất hiếm gặp, các chuyên gia y tế vẫn nhận thấy rằng, số lượng các trường hợp như vậy đang có xu hướng tăng lên, vì càng ngày càng có nhiều phụ nữ sinh con muộn hơn. Do việc chăm sóc em bé và tiếp tục mang thai là vấn đề được ưu tiên với những phụ nữ trong giai đoạn này, nên việc điều trị thường rất hạn chế.

Chưa có nhiều nghiên cứu về việc điều trị ung thư cổ tử cung khi đang mang thai, do vậy, bác sỹ thường phải đánh giá nhiều lần để đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp nhất cho mẹ và em bé trong bụng.

Không thể phủ nhận rằng, nếu đang mang thai và bị ung thư cổ tử cung thì có thể bạn sẽ cảm thấy vô cùng lo lắng. Nhưng như bài viết trên, có rất nhiều lựa chọn điều trị có thể giúp bạn điều trị khỏi hoàn toàn mà không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào đến em bé của bạn. Hãy đảm bảo rằng bạn nên trao đổi với bác sỹ về các lựa chọn điều trị cũng như các mối lo ngại của bạn.