Chua Benh Tri O Dau Tot Nhat Ha Noi

Trĩ là một trong số những bệnh lý ở lỗ nhị thường thấy nhất. Bệnh trĩ không những gây ảnh hưởng tâm trạng và đến sức khỏe cơ thể người bệnh. vì vậy, người mắc bệnh cần phải đi để đi đến những trung tâm y tế chuyên khoa để khám & điều trị bệnh càng sớm càng tốt. chữa bệnh trĩ ở đâu tốt nhất hà nội hay cắt trĩ ở đâu? Nếu quý vị đang gặp trở ngại trong vấn đề lựa chọn địa điểm phòng khám trĩ tại Hà Nội thì đến với bệnh viện đa khoa thái hà. Đây là địa chỉ điều trị bệnh uy tín tại Hà Nội được người mắc bệnh nhận xét tốt.

Một số lý do nên đến với bệnh viện Thái Hà để chữa lòi dom

Phòng khám Thái Hà được xây dựng bởi hàng ngũ ban giám đốc có tầm nhìn. Bằng sự cố gắng và nỗ lực không ngừng nghỉ, phòng khám tư nhân đã từng bước khẳng định và ghi dấu lên được thương hiệu của mình đối với người bệnh. Tại khi hiện tại, cái tên về bệnh viện thái hà không còn quá xa lạ gì với người mắc bệnh Hà Nội cũng như bệnh nhân một số tỉnh thành nữa.

Lĩnh vực hoạt động của phòng khám tư nhân Thái Hà

Trĩ là bệnh lý thường gặp nhất trong số các bệnh lý tại vùng hậu môn – trực tràng. hiện nay, phòng khám tư nhân thực hiện bài bản và đúng lộ trình khám bệnh trĩ nên người bệnh có khả năng tuyệt đối yên tâm.

Đội ngũ bác sĩ giỏi, có trình độ chuyên môn cao

Không chỉ có lĩnh vực hoạt động khám bệnh đa dạng với quá trình khám điều trị lòi dom bài bản. phòng khám đa khoa thái hà còn quy tụ đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa giỏi với kiến thức khoa học sâu rộng cùng kinh nghiệm công tác lâu năm. đa số các chuyên gia đang có quá trình công tác tại phòng khám tư nhân trước kia đều đã từng làm việc tại nhiều bệnh viện nhà nước nổi tiếng. bởi vì thế, bệnh nhân hoàn toàn có khả năng yên tâm về kết quả mà mình nhận được.

Ngoài chuyên môn cao lương y của phòng khám đa khoa thái hà còn vô cùng giàu lòng ái, tận tâm và nhiệt huyết với nghề. Đối với quá trình khám chữa trị bệnh trĩ của bệnh nhân, thầy thuốc tỉ mỉ tiến hành quá trình khám chữa trị bệnh và tư vấn lộ trình điều trị thích hợp nhất với mỗi người mắc bệnh.

Cơ sở vật chất phòng khám tư nhân khang trang, hiện đại và tiên tiến

Với mục đích đáp ứng tối nhất nhu cầu khám chữa trị bệnh cho bệnh nhân ban lãnh đạo phòng khám tư luôn không ngừng cố gắng xây dựng và đổi mới. ngày nay, phòng khám tư đã xây dựng lên được một cơ sở hạ tầng khang trang và hiện đại, tiên tiến. Chuỗi phòng cấp cứu, phòng xét nghiệm hay phòng tiểu phẫu được bảo đảm vô trùng sạch khuẩn hoàn toàn. cộng với đó còn được khép kín và trang bị đầy đủ dụng cụ y tế.

Không chỉ có cơ sở hạ tầng chữa trị bệnh, bệnh viện đa khoa thái hà còn chú trọng xây dựng gian phòng chờ đầy đủ tiện nghi và thoải mái. Với dịch vụ chu đáo từ mạng, nước uống và sách báo, tivi bệnh nhân có khả năng thoải mái thư giãn trong quá trình đợi kết quả xét nghiệm y học cũng như trong quá trình chữa bệnh tại phòng khám tư nhân.

Phòng khám Thái Hà luôn không ngừng đổi mới để phục vụ tốt nhất cho quá trình khám chữa trị bệnh của người bệnh. hiện giờ, phần lớn những dụng cụ y tế mà phòng khám tư đang dùng đều là thiết bị nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài. vì thế, chắc hẳn quá trình chữa trị bệnh sẽ được hỗ trợ một phương pháp tốt nhất.

Không những sử dụng trang thiết bị y tế tân tiến, hiện đại và tiên tiến. phòng khám tư nhân còn kiểm duyệt và đánh giá kỹ càng dụng cụ y tế và máy móc trước thời điểm dùng. bởi vì thế, chất lượng khám và chữa bệnh trĩ được nâng cao hơn tương đối nhiều.

Bệnh viện Thái Hà có thủ tục khám chữa trị bệnh nhanh chóng, đơn giản và dễ dàng. người bệnh khi có nhu cầu đi khám chữa bệnh trĩ có thể liên lạc trước với số hotline để hẹn lịch khám. Sau lúc đã có mã hẹn sau đó bạn đến đưa mã hẹn đó cho cán bộ y tế làm thủ tục. Xong xuôi thì bạn di chuyển vào phòng khám của lương y mà không cần mất thời gian xếp hàng chờ đợi như lúc có quá trình khám chữa trị bệnh tại bệnh viện.

Phòng khám đa khoa Thái Hà có giờ mở cửa từ 8h – 20h tất cả một số ngày trong tuần, gồm cả cuối tuần và lễ tết. Với giờ mở cửa nhiều như này, người mắc bệnh khả năng tự giác sắp xếp công việc của mình. khi này, quá trình khám điều trị bệnh sẽ tự giác, nhanh chóng và tiết kiệm thời gian.

Giá cả khám chữa bệnh trĩ phù hợp, công khai

Để chi tiết vấn đề mức phí chữa trị lòi dom giá bao tiền thì hiện đại và tiên tiến chưa thể thống kê được bởi vấn đề này gồm có khá nhiều một số nhân tố. nhưng, đến với phòng khám thái hà thì bạn khả năng hoàn toàn an tâm. Bởi giá thành tại phòng khám tư nhân luôn công khai và minh bạch theo quy định của bộ phận nhà nước có thẩm quyền.

Mặt khác, do triển khai và ứng dụng nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn như: trọn gói khám bệnh chỉ 320k và giảm 30%chi phí phẫu thuật. Từ đó, mức phí điều trị lòi dom đã được tiết kiệm đi một ước lượng rõ rệt.

Thông tin người bệnh được giấu kín hoàn toàn

Người mắc bệnh chọn lựa điều trị trĩ tại bệnh viện thái hà có thể tuyệt đối an tâm về tinh thần. Bởi phòng khám giữ bí mật thông tin của người mắc bệnh tuyệt đối, cam kết sẽ không bao giờ tiết lộ ra bên ngoài thời điểm chưa quá sự chấp thuận của người bệnh.

Chữa bệnh trĩ tại bệnh viện thái hà

Tùy thuộc vào hiện tượng bệnh lý và sức khỏe cơ thể của người bệnh mà thầy thuốc sẽ tư vấn và áp dụng cách chữa bệnh thích hợp nhất. Đối với trường hợp lòi dom nhẹ thì lương y sẽ chỉ định thuốc cho người mắc bệnh điều trị bằng thuốc. Còn đối với bệnh trĩ cấp độ nặng thì sẽ phải ứng dụng cách ngoại khoa để chữa. hiện giờ, 2 cách cắt trĩ đem đến cho hiệu quả cao nhất, đó là: biện pháp cắt trĩ HCPT và PPH.

Tiểu phẫu cắt búi trĩ bằng máy PPH và HCPT được phản hồi là 2 liệu pháp chữa bệnh tân tiến và hiện đại nhất hiện tại. Với công nghệ xâm lấn tối thiểu phương pháp khắc phục đi được mọi nhược điểm của các giải pháp điều trị bệnh trĩ khác, mang lại ưu điểm cao vượt trội:

Tiểu phẫu diệt trừ tận gốc những búi trĩ gây bệnh khỏi hoàn toàn nhanh chóng.

Công nghệ xâm lấn tối thiểu hạn chế đi được đau đớn và không gây ra xung huyết.

Thủ thuật ngoại khoa có thương tổn nhỏ, người bệnh không cần thiết phải nằm viện.

Sau thủ thuật ngoại khoa người mắc bệnh khỏi dứt điểm bệnh và tỷ lệ quay trở lại lại bệnh thấp.

Người mắc bệnh tiến hành thủ thuật cắt trĩ tại bệnh viện đa khoa thái hà hoàn toàn có khả năng an tâm về hữu hiệu điều trị bệnh mà mình nhận được. thủ thuật ngoại khoa chắc hẳn sẽ mang đến hiệu quả cao như mong muốn, người mắc bệnh tuyệt đối khỏi bệnh khỏi hoàn toàn mà không tồn tại bất cứ một di chứng hay phản ứng phụ nào cả.

Cach Tri Mun Boc Bang Kem Danh Rang

Cách trị mụn bọc bằng kem đánh răng nghe có vẻ nghi ngờ nhưng nghiên cứu kỹ lại thành phần thấy hợp lý vô cùng. Điều quan trọng là phải biết cách chọn kem đánh răng phù hợp.

1. Tác dụng của kem đánh răng trong điều trị mụn bọc

Trong kem đánh răng có nhiều thành phần có khả năng hỗ trợ điều trị mụn:

Sodium Pyrophosphate có tác dụng loại bỏ canxi dư thừa gây nên mụn trên da.Silica, một chất chống viêm trong kem đánh răng, giúp ngăn ngừa và giảm tình trạng viêm sưng của mụn.

Baking sodacó trong kem đánh răng còn có tác dụng giảm lượng dầu thừa tiết trên da. Khi lượng dầu giảm, mụn bọc sẽ khô nhanh hơn và không phát triển theo chiều hướng tồi tệ hơn.

2. Các tiêu chí chọn kem đánh răng điều trị mụn bọc

a. Lựa chọn loại kem đánh răng có màu trắng

Những loại kem đánh răng có màu trắng thường chứa Baking soda, Triclosan và Hydrogen peroxide. Đây đều là các thành phần có tác dụng làm khô mụn bọc. Trong khi các loại kem có sọc đỏ hoặc xanh có thể chứa các thành phần không tốt cho da, gây kích ứng thêm da mụn vốn đã nhạy cảm.

Lựa chọn kem đánh răng màu trắng sẽ tốt hơn cho da.

b. Không nên chọn các loại kem làm trắng răng

Ngoài việc làm trắng răng, các nàng thường trị mụn bằng kem đánh răng. Nhưng thực chất trong loại kem này có chứa chất tẩy trắng. Hợp chất này cũng có tác dụng làm trắng da bạn, khiến chúng không đều màu, da dễ bị bào mòn. Đối với một số nàng có da nhạy cảm hoặc có da sẫm màu thì nên cẩn thận điều này. Với những người có làn da thường thì không gây ảnh hưởng mạnh.

Các sản phẩm làm trắng răng có chứa chất tẩy trắng không tốt cho da.

Các loại kem đánh răng có thành phần làm trắng răng thường có chứa chất tẩy trắng. Hợp chất này khi bôi lên da thường khiến da bị bào mòn, làm trắng khu vực bôi kem khiến da lốm đốm, không đều màu. Do đó, những bạn có làn da nhạy cảm, da sẫm màu thì không nên lựa chọn loại kem đánh răng này để trị mụn bọc.

c. Lựa chọn kem đánh răng có thành phần florua thấp

Flouride là thành phần có trong các loại kem đánh răng giúp loại bỏ mảng bám và ngăn ngừa bệnh nướu răng. Thế nhưng có khá nhiều người vẫn bị dị ứng nhẹ với thành phần này, đặc biệt có nguy cơ gây viêm da. Vì vậy, khi lựa chọn trị mụn bằng kem đánh răng, bạn nên xem thành phần và chọn loại có fluoride thấp nhất, hoặc có thể không có, điều này tốt cho da của bạn.

Flouride tốt cho răng nhưng không tốt cho da nhạy cảm.

Flouride trong kem đánh răng có tác dụng loại bỏ các mảng bám cũng như ngăn ngừa bệnh nướu răng. Tuy nhiên, một số người có làn da nhạy cảm có thể bị dị ứng nhẹ với thành phần này và nó có thể gây viêm da. Bởi vậy, các loại kem đánh răng có hàm lượng flouria thấp hoặc không có sẽ tốt hơn cho việc điều trị mụn bọc.

d. Lựa chọn các loại kem có chứa chất hữu cơ (Organic)

Có lẽ đây là giải pháp hoàn hảo nhất để trị mụn bọc bằng kem đánh răng. Các sản phẩm hữu cơ có chiết xuất từ thiên nhiên sẽ không chứa Floura cùng các hợp chất hóa học có thể gây kích ứng da. Bên cạnh đó, các kem đánh răng hữu cơ thường có thành phần làm khô mụn bọc là baking soda và dầu dây trà. Cộng thêm các thành phần thiên nhiên khác có trong kem giúp kháng khuẩn, giảm viêm, đau nhức do mụn.

Các sản phẩm Organic luôn an toàn và thân thiện hơn.

Cách chữa mụn bọc bằng kem đánh răng yêu cầu loại kem đánh răng phù hợp, thân thiện với làn da. Phương pháp này chỉ phát huy tối đa tác dụng khi bạn hiểu thành phần của kem và sử dụng chúng đúng cách.

3. Hướng dẫn các bước trị mụn bọc bằng kem đánh răng

Bước 1: Làm sạch da

Để cách chữa trị mụn bọc bằng kem đánh răng phát huy hiệu quả, đầu tiên bạn phải làm sạch da. Da mặt chứa bụi bẩn, dầu thừa có thể làm giảm tác dụng trị mụn và tăng nguy cơ viêm nhiễm thêm, làm tình mụn bọc trở nên nặng hơn.

Nếu bạn đang sử dụng sản phẩm trang điểm hoặc chống nắng, hãy tẩy trang sạch sẽ trước rồi rửa mặt bằng sữa rửa mặt, thấm nhẹ bằng khăn bông sạch.

Bước 2: Thoa kem đánh răng lên vùng da bị mụn.

Thoa một lớp kem mỏng lên mụn bọc hoặc vùng da bị mụn bọc. Lưu ý, không thoa lên các vùng da khác, dễ khiến da bị kích ứng, mẩn đỏ, bong tróc. Trước khi thoa kem nên vệ sinh sạch tay.

Bước 3: Rửa sạch mặt bằng nước ấm.

Giữ kem đánh răng trên da mặt khoảng 2 giờ hoặc qua đêm. Đối với da nhạy cảm chỉ nên thoa từ 15-30 phút, nếu thấy da không kích ứng, có thể tăng lên 1-2 giờ. Sau khoảng thời gian này, bạn rửa sạch kem đánh răng tại các vùng mụn trước rồi rửa lại toàn bộ da mặt. Lưu ý, rửa nhẹ nhàng, tránh kì cọ, chà sát có thể làm tổn thương thêm da vùng mụn. Lặp lại mỗi ngày 1 lần nếu da còn xuất hiện mụn bọc.

Cách trị mụn bọc ở mũi bằng kem đánh răng cũng thực hiện tương tự như trên.

Bệnh Zona Cần Điều Trị Đúng Cách, Cách Chữa Bệnh Bệnh Zona Cần Điều Trị Đúng Cách, Benh Zona Can Dieu Tri Dung Cach, Bệnh Zona

Bệnh zona cần điều trị đúng cách

Bệnh zola thần kinh là gì?

Khi thời tiết chuyển từ nắng sang mưa hay khi mùa mưa chấm dứt, tiết trời nóng bức là thời điểm cho các bệnh do virut xuất hiện, trong đó có bệnh Zona.

Bệnh Zona được dân gian cho là do phơi đồ ngoài trời vào ban đêm, con “giời” tiểu vào quần áo và khi mặc vào người sẽ sinh ra những mụn nước lan dần nên đã đặt tên bệnh là bệnh giời leo.

Thật ra bệnh Zona do một loại virut gây ra. Loại virut này cũng chính là tác nhân gây bệnh thủy đậu. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi cả nam và nữ. Thời kỳ ủ bệnh từ 7-12 ngày. Trong giai đoạn ủ bệnh, người bệnh thường có sốt, người ớn lạnh, mệt mỏi kèm theo nhức đầu.

Loại virut này đặc biệt “thích” gây tổn thương ở da và thần kinh. Sau thời kỳ ủ bệnh, bệnh nhân có cảm giác rát bỏng và đau nhức ở vùng da nơi sẽ nổi mụn nước. Mỗi vùng da đều có một nhánh thần kinh da chi phối. Do đó, người bệnh sẽ có cảm giác đau nhức tùy theo nhánh thần kinh bị tổn thương, như thần kinh liên sườn, thần kinh số 5, thần kinh tọa…

Trong giai đoạn này bệnh nhân thường lầm tưởng là bị đau tim do tức ngực (nếu bị ở nhánh thần kinh liên sườn trái) nên hay đi khám chuyên khoa tim mạch, hoặc bị đau dây thần kinh tọa nên đi khám chuyên khoa nội thần kinh hay cơ xương khớp, hoặc bị đau nhức ở mắt, nửa bên trái nên đi khám vì lý do nhức đầu… Chỉ khi mụn nước xuất hiện thì người bệnh mới bắt đầu đi khám chuyên khoa da liễu.

Mụn nước xuất hiện trên nền da màu hồng thành từng chùm, kích thước thay đổi có khiđường kính tới 9 – 10cm. Mụn nước lúc đầu trong sau hóa đục, trung tâm mụn bị lõm.

Có khi những mụn nước gom lại thành bóng nước, sau đó hóa mủ, vỡ ra, đóng mày. Đôi khi có thể có xuất huyết, hoại tử, loét. Khi mụn nước xuất hiện thì triệu chứng đau, nóng, sốt giảm dần.

Đặc điểm của tổn thương là chỉ mọc một bên cơ thể, không vượt qua đường giữa và giới hạn rất rõ. Như ở giữa sườn thì chạy từ xương sống ra giữa ngực, thí dụ ở trán tới đường giữa trán. Rất hiếm khi bệnh xuất hiện ở hai bên trừ khi dây thần kinh có nhánh nối ở bên kia. Bên cạnh thương tổn trên da, hạch vùng gần với tổn thương thường to và đau.

Vị trí thường gặp của bệnh là trán, mắt, giữa sườn, lưng, bụng, đùi, mông, bên cổ. Ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nặng như HIV/AIDS, ung thư, Lupus ban đỏ được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch, tổn tương nặng hơn, lan tỏa hai bên và lâu lành.

Cần phải phân biệt bệnh Zona với các bệnh sau

– Mụn giộp hay còn gọi là Herpes, có ở vị trí bất kỳ, thường ở cạnh khóe miệng và bộ phận sinh dục, ít đau hơn và hay tái phát.

– Thủy đậu: Đa số là bóng nước, rải rác toàn thân, có trong niêm mạc miệng. Các bóng nước không xuất hiện đồng loạt mà nổi kế tiếp nhau.

– Chốc dạng bóng nước: Bóng nước vỡ nhanh, đóng mày màu mật o­ng, rải rác ở đầu, mặt, cổ.

Bệnh Zona diễn biến kéo dài khoảng 2-3 tuần tùy theo sức đề kháng của người bệnh. Nếu càng trẻ diễn biến bệnh càng nhanh, nhẹ và tự khỏi. Nếu càng nhiều tuổi bệnh càng kéo dài và đau nhức nhiều.

Đa số người bệnh cao tuổi (từ 45-50 tuổi trở lên), sau khi các triệu chứng của Zona chấm dứt, thường cảm thấy đau nhức rất nhiều ở các sẹo của bệnh, hình thành chứng “đau sau Zona”, thường rất khó can thiệp bằng thuốc giảm đau thông thường. Trong những trường hợp này phải áp dụng điều trị hoặc phong bế bằng thuốc tê quanh các sẹo hoặc dùng thuốc tê xoa tại chỗ để làm dịu cơn đau.

Thông thường, bệnh Zona không tái phát, chỉ bị một lần duy nhất. Theo nghiên cứu y học, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ xảy ra ung thư nội tạng ở những người cao tuổi bị Zona. Do đó, trong những trường hợp này, bệnh nhân nên có từng đợt khám tổng quát để phát hiện những bất thường nếu có.

Điều trị bệnh zola như thế nào cho đúng?

Thông thường chỉ là điều trị triệu chứng với kháng sinh phổ rộng, thuốc giảm đau an thần nếu đau nhức nhiều gây khó ngủ về đêm, các vitamin nhất là vitamin nhóm B liều cao.

Trong những trường hợp đau nhức nhiều ở vùng da bệnh gây khó chịu, có thể dùng corticoid như prednison, dexamethason nhưng ngắn ngày và giảm liều dần, chú ý khi sử dụng corticoid cần có chỉ định và theo dõi những phản ứng phụ của thuốc.

Cũng có thể dùng thuốc kháng virut đặc hiệu như acyclovir trong 7 ngày mỗi ngày uống 5 lần, mỗi lần 4 viên, nhưng khá tốn kém. Tuy nhiên ở người lớn tuổi, điều trị theo phác đồ trên có thể tránh được hội chứng “đau sau Zona”.

Thông thường Zona có thể tự hết sau 7-10 ngày và sau đó sẽ tự thuyên giảm, trong dân gian có một số cách làm rất sai lầm khi bị Zona đó là đến các ông thầy cúng để cúng bái vẽ bùa phép bằng mực Tàu vòng xung quanh chặn không cho lan ra xung quanh, sau đó các ông thầy cúng hoặc người nhà nhai một nắm gạo nếp đỗ xanh sống đắp vào chỗ da tổn thương cho “mát”.

Thật ra trong tuần lễ đầu, bệnh đang phát triển, nếu có nhai gạo nếp đỗ xanh hay một cái gì đi nữa thì bệnh không những không giảm mà thậm chí chỗ tổn thương có thể bị bội nhiễm từ nước bọt của người nhai. Sau 7-10 ngày, bệnh không điều trị cũng tự lui, lúc đó nhân dân sẽ ngộ nhận cho rằng do tài phép của ông thầy cúng.

Sau khi lành bệnh, thương tổn sẽ để lại sẹo tròn bạc màu, sắp xếp từng đám và dần dần màu da sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên rất nhiều trường hợp sau khi vết thương đã lành nhưng ở vị trí zola đã từng mọc vẫn có hiện tượng đau nhức, cắn rứt như có kiến bò, kim châm rất khó chịu. Mặc dù đã điều trị bằng nhiều loại thuốc nhưng không khỏi dứt điểm được những di chứng của zola. Di chứng này có thể kéo dài vài năm tới chục năm, có khi cả đời người bệnh nếu không được điều trị đúng cách và đúng thuốc.

Có thuốc nào chữa khỏi dứt điểm di chứng của zola không?

Làm thế nào để điều trị dứt điểm di chứng của zola thần kinh?

Khỏi dứt điểm di chứng zola thần kinh sau 3 ngày

Tham khảo ý kiến Lương y Nguyễn Hữu Toàn

Bệnh zona mắt dẫn đến nguy cơ đột quỵ

Bệnh zona và thuốc trị

Nguy cơ đột qụy gia tăng ở bệnh nhân zona

Viêm da tiếp xúc do côn trùng dễ nhầm với zona

Di chứng sau zona

Zona tai có thể gây viêm màng não

U Ác Tính Ở Tai

1. Tai ngoài

Phần lớn ung thư của tai ngoài thuộc về loại ung thư biểu mô (êpitêliôma). Bệnh nhân là những người có tuổi. Bệnh bắt đầu bằng một hòn cứng, sần xùi dính vào sụn, dễ chảy máu, to bằng nốt ruồi ở vành tai (thường ở gờ vành hélix). Khối u tiến triển chậm trong giai đoạn đầu, lúc nó chưa loét. Về sau khi bắt đầu loét thì ung thư phát triển rất nhanh và biến thành một khối xùi lan khắp vành tai, xâm nhập vào ống tai. Hạch chung quanh tai hoặc ở dãy cảnh bị thôn tính. Cuối cùng ung thư sẽ xâm nhập vào tai giữa (xem ung thư tai giữa).

Sinh thiết cho biết rằng ung thư  thuộc về loại êpitêliôma tế bào gai (épithélioma spino-cellulaire) hoặc tế bào đáy (épithélioma baso-cellulaire). Loại épithélioma tế bào đáy biễn diễn chậm và ít di căn vào hạch.

Sarcoma rất hiếm. Loại này khu trú ở dái tai và ít có hạch.

Ung thư xuất phát từ ống tai ngoài rất ít thấy. Bệnh bắt đầu bằng nụ sùi che lấp ống tai và dễ chảy máu, làm cho thầy thuốc nhầm với polyp tai. Sinh thiết sẽ phát hiện ra bản chất ác tính của u.

Tiên lượng không được tốt lắm, nhất là khi đã có di căn vào hạch.

Phẫu thuật cắt xén đơn thuần thường sẽ đưa đến tài phát. Phẫu thuật kết hợp với quang tuyến X với coban liệu pháp cho kết quả khá hơn một chút. Radi có tác dụng rõ rệt, nhưng hay gây ra hoại tử, mục xương.

2. Tai giữa

Ở tai giữa có hai loại u ác tính: épithélioma (ung thư biểu mô) gặp ở người có tuổi và sarcoma (ung thư  tổ chức liên kết) ở người trẻ.

Niêm mạc của tai giữa thuộc loại tế bào trụ, nhưng ung thư tai giữa lại thuộc tế bào lát. Người ta giải thích hiện tượng này như sau: ung thư phát triển trên niêm mạc bị thoái hóa dị sản (tế bào trụ biến thành tế bào lát) do viêm tai mạn tính. Trong trường hợp bệnh nhân không có tiền sử viêm tai ung thư có thể xuất phát từ biểu mô lát của mặt ngoài màng nhĩ và xâm nhập vào thùng nhĩ sau khi làm thủng màng nhĩ.

2.1.1   Lâm sàng

Trong đa số trường hợp, bệnh xuất hiện ở một người già, bị chảy tai từ lâu. Gân đây mủ chảy tăng lên và đôi khi có lẫn máu.

Triệu chứng đau xuất hiện từng bước. Lúc đầu đau nhói nhẹ từng cơn, từng đợt. Về sau đau tăng dần, trở nên dữ dội liên tục, làm cho bệnh nhất mất ngủ, Bệnh nhân đâu trong sâu, đau lan khắp đầu. Các thuốc giảm đau không làm bớt được đau.

Triệu chứng liệt mặt xuất hiện sau triệu chứng đau: liệt toàn bộ, kiểu ngoại biên.

Khám tai: trong ống tai có mủ.

Sau khi chùi sạch mủ, chúng ta thấy màng nhĩ bị phá hủy, đáy lỗ thủng nhĩ có nhiều nụ sùi, chắc, dễ chảy máu, tái phát rất nhanh sau khi cắt. Nụ sùi có thể che lấp màng nhĩ. ở sau tai hoặc sau góc hàm bắt đầu có hạch. Hạch cứng nhưng còn di động ít nhiều.

Về sau ung thư lan ra sào bào, xâm nhập xương chũm làm cho xương này phồng lên, da bị căng đỏ. Cuối cùng da vỡ, ung thư xuất ngoại và hình thành một khối sùi giống như súp lơ sau tai. Đồng thời nụ xùi cũng phát triển theo ống tai ngoài ra đến cửa tai.

Mủ trở nên thối khẳn và thường có lẫn máu.

Hạch cổ sưng to và bị cố định, dính vào da. X quang giúp chúng ta đánh giá sự lan rộng của u vào xương chứ không giúp chúng ta chẩn đoán bản chất của khối u.

Biến chứng thông thường là: viêm mê nhĩ hoặc viêm não hoặc liệt các dây thần kinh số IX, số X, số XII.

Bệnh nhân sẽ chết vì viêm màng não hoặc chảy máu dữ dội do vỡ động mạch cảnh trong.

2.1.2   Chẩn đoán:

Chẩn đoán ung thư  tai giữa trong giai đoạn đầu rất khó: chúng ta hay nhầm với viêm tai giữ mạn tính. Nhưng khi có triệu chứng đau, liệt mặt thì chúng ta phải cảnh giác và làm sinh thiết. Sinh thiết đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán. Nhưng khó thực hiện trong giai đoạn đầu vì kìm bấm hay cắt nhầm những nụ viêm thông thường.

Có khi chúng ta chẩn đoán nhầm là viêm tai xương chũm và chúng ta mổ. Trên bàn mổ chúng ta thấy xương chũm đầy nụ sùi khả nghi và gửi bệnh phẩm đi xét nghiệm vi thể. Giải phẫu bệnh học trả lời là: ung thư liên bào gai.

Chúng ta có thể nhầm ung thư  tai giữa với u cuộn cảnh (umeur du glomusjulaire). Loại u này chảy máu rất nhiều, nhưng không đau mấy. Chẩn đoán dựa vào sinh thiết.

2.1.3   Điều trị:

Phẫu thuật: khoét rỗng đá chũm mở rộng kèm theo cắt bỏ ống tai ngoài và vành tai hoặc phẫu thuật cắt bỏ một phần của xương thái dương (xương chũm, xương nhĩ, khớp thái dương – hàm, hai phần ba ngoài của xương đá cả dây thần kinh mặt và mê nhĩ).

Quang tuyến: sau khi phẫu thuật bệnh nhân sẽ được áp quang tuyến X hoặc coban.

Đối với hạch, chúng ta có thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc quang tuyến.

Kết quả: 17% sống quá năm năm (báo cáo của Leroux-Robert trước Hội nghị tai mũi họng Pháp 1957).

2.2   Saccôma

Chúng ta gặp Saccôma tai ở tuổi thiếu niên, hoặc thiếu nhi. So sánh với cacxinoma chiếm tỷ lệ thấp hơn.

Bệnh bắt đầu với ba triệu chứng: điếc kiểu tai giữa, chảy tai và đau tai nhẹ.

X quang cho thấy xương chũm bị phá hủy và làm cho chúng ta nghĩ đến viêm tai xương chũm cấp tính nhưng kháng sinh không có tác dụng. Bệnh tiếp tục phát triển: chảy máu tai, liệt mặt, sưng sau tai hoặc ở vùng thái dương.

Soi tai cho chúng ta thấy trong ống tai có khối xùi giống như polyp, chắc, ít chảy máu.

Không có hạch ở cổ hoặc chung quanh tai.

Về sau Saccôma xâm nhập vào xương chũm làm cho da sau tai căng phồng, vành tai bị đẩy dồn về phía trước, rãnh sau tai bị lấp đầy. Da có thể bị loét và ung thư  sẽ xuất ngoại.

Saccôma có thể phát triển về phía xương đá, gây ra những triệu chứng mê nhĩ như ù tai, điếc tai và chóng mặt. Dây thần kinh số VII và số VI thường hay bị liệt. Khi khối u phát triển to nó có thể gây ra liệt các dây thần kinh số IX, số X, số XI, số XII và tăng áp lực nội sọ. Bệnh diễn biến và đưa đến tử vong trong vòng sáu tháng hoặc một năm.

Khi khám bệnh chúng ta dễ nhầm, nhất là trong giai đoạn đầu, với viêm tai xương chũm cấp tính, hoặc granulôm ái toan ở xương chũm (xem u lành tính ở tai). Nhưng sự biến diễn nhanh chóng của bệnh, sự có mặt của những nụ xùi dễ tái phát ở tai, làm cho chúng ta nghi ngờ. Sinh thiết mang lại cho chúng ta  chẩn đoán chính xác.

Tiên lượng của bệnh này xấu hơn tiên lượng của êpitêliôma tai: bệnh biến diễn nhanh hơn và có xu hướng lan rộng hơn mặc dù có điều trị.

Điều trị trong giai đoạn đầu dựa vào phẫu thuật khoét rỗng đá chũm kèm theo tia quang tuyến, côban. Saccôma xơ ít nhạy cảm với tia quang tuyến. Khi ung thư  đã lan rộng, chúng ta không nên dùng tia quang tuyến (gây ra cơn đau dữ dội) mà chỉ nên dùng thuốc giảm đau một cách tạm bợ.

Comments

Mo Benh Hoc Va Ket Qua Dieu Tri Ung Thu Bieu Mo Amidan Tai Benh Vien K

Published on

Luận văn Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư biểu mô amiđan tại bệnh viện chúng tôi thư amiđan là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính của tế bào biểu mô phủ amiđan hoặc các mô liên kết trong cấu trúc amiđan. Trong y văn, ít có tài nghiên cứu riêng về ung thư amiđan mà ung thư amiđan thường được xếp trong nhóm ung thư vùng họng miệng (oropharynx) gồm: amiđan, màn hầu, đáy lưỡi, thành hầu sau. Các ung thư họng miệng đều có những điểm tương đồng về đặc điểm dịch tễ, nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ, triệu chứng học, sự xâm lấn, thái độ điều trị, cũng như tiên lượng bệnh. Mặt khác tỷ lệ mắc bệnh ung thư amiđan thấp (ở Mỹ ung thư amiđan cũng chỉ chiếm 0,5% của tất cả ung thư nói chung ở nam giới) và phổ biến ở nam (tỷ lệ nam/nữ là: 3-4/1). Tại Việt Nam, thống kê thấy khoảng 40% ung thư đầu cổ xảy ra ở khoang miệng và ung thư amiđan chiếm 1-3% tổng số các loại ung thư nói chung

1. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN,LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 Luận văn Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư biểu mô amiđan tại bệnh viện chúng tôi thư amiđan là bệnh phát sinh do sự biến đổi ác tính của tế bào biểu mô phủ amiđan hoặc các mô liên kết trong cấu trúc amiđan. Trong y văn, ít có tài nghiên cứu riêng về ung thư amiđan mà ung thư amiđan thường được xếp trong nhóm ung thư vùng họng miệng (oropharynx) gồm: amiđan, màn hầu, đáy lưỡi, thành hầu sau. Các ung thư họng miệng đều có những điểm tương đồng về đặc điểm dịch tễ, nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ, triệu chứng học, sự xâm lấn, thái độ điều trị, cũng như tiên lượng bệnh. Mặt khác tỷ lệ mắc bệnh ung thư amiđan thấp (ở Mỹ ung thư amiđan cũng chỉ chiếm 0,5% của tất cả ung thư nói chung ở nam giới) và phổ biến ở nam (tỷ lệ nam/nữ là: 3-4/1). Tại Việt Nam, thống kê thấy khoảng 40% ung thư đầu cổ xảy ra ở khoang miệng và ung thư amiđan chiếm 1-3% tổng số các loại ung thư nói chung. MÃ TÀI LIỆU CAOHOC.00097 Giá : 50.000đ Liên Hệ 0915.558.890 Chẩn đoán sớm ung thư amiđan nói riêng và ung thư vùng họng miệng nói chung không khó do thăm khám dễ dàng, các triệu chứng của bệnh xuất hiện tương đối sớm (cảm giác vướng, khó chịu ở vùng họng), song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên chẩn đoán ban đầu dễ nhầm với các bệnh khác biểu hiện tại amiđan như: viêm đặc hiệu (lao, giang mai), viêm amiđan quá phát…nên dẫn tới thái độ điều trị bệnh không đúng. Ngoài ra do thái độ chủ quan thiếu hiểu biết về bệnh ung thư và thiếu quan tâm đến bệnh tật nên khi đến bệnh viện thường muộn, dẫn đến hạn chế kết quả điều trị và tiên lượng bệnh xấu. Điều trị ung thư amiđan trên thế giới có sự khác nhau rõ rệt tùy theo tác giả: Fayos (1983), Amornmam (1984), Calais (1990), Antonello (1998) dùng xạ trị đơn thuần [22,13,19,14]; Mendnhall áp dụng xạ trị kết hợp vét hạch cổ [47]; các tác giả Kajanti (1992), Thomson (1993), Hicks (1998) áp dụng xạ trị đơn thuần với ung thư giai đoạn sớm và xạ trị phối hợp phẫu thuật với giai đoạn muộn [35, 67, 32], các tác giả Rubuzzi (1982), Friesland (l999), áp dụng xạ trị tiền phẫu rồi phẫu thuật sau đó xạ trị hậu phẫu [61, 25], Behar (1994) nghiên cứu xạ trị từ ngoài kết hợp xạ trị áp sát [17]; Zidan (l987) là một trong số ít tác giả dùng hoá trị liệu bổ trợ, nhưng kết quả cho thấy là ít đáp ứng với ung thư amiđan [76] . . . Các nghiên cứu về ung thư amiđan ở Việt Nam rất ít, có thể kể đến nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Phúc (1978), đã đưa ra một số nhận xét về đặc điểm lâm

3. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN,LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 MỤC LỤC Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và kếtquả điều trị ung thư biểu mô amiđan tại bệnh viện K ĐẶT VẤN ĐỀ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12 1.1. Đại cương về giải phẫu, mô học và chức năng sinh lý của amiđan 12 1.1.1. Cấu tạo mô học và chức năng sinh lý của amiđan 12 1.1.2. Giải phẫu 13 1.2. Dịch tễ học ung thư amiđan 15 1.2.1. Tỷ lệ mắc bệnh 15 1.2.2. Yếu tố nguy cơ 16 1.3. Chẩn đoán ung thư amiđan 17 1.3.1. Chẩn đoán xác định 17 1.3.2. Chẩn đoán phân biệt 18 1.3.3. Chẩn đoán giai đoạn 18 1.4. Mô bệnh học ung thư amiđan 20 1.5. Điều trị trong ung thư amiđan 21 1.5.1. Phẫu thuật trong ung thư amiđan 21 1.5.2. Xạ trị trong ung thư amiđan 22 1.5.3. Hoá trị bệnh ung thư amiđan 28 1.6. Các nghiên cứu về điều trị ung thư amiđan của các tác giả qua ba thập kỷ gần đây 31

4. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN,LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 1.6.1. Thập kỷ 70 31 1.6.2. Thập kỷ 80 32 1.6.3. Thập kỷ 90 trở lại đây 36 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39 2.1. Đốitượng nghiên cứu 39 2.2. Phương pháp nghiên cứu 40 2.2.1. Nghiên cứu về bệnh học 40 2.2.2. Nghiên cứu kết quả điều trị 44 2.3. Phân tíchvà sử lý số liệu 45 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47 3.1. Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học 47 3.1.1. Tuổi và giới 47 3.1.2. Thời gian phát hiện, lý do khám và các triệu chứng cơ năng: 48 3.1.3. Đặc điểm u nguyên phát và hạch vùng 50 3.1.4. Giai đoạnbệnh: 53 3.1.5. Đặc điểm mô bệnh học 54 3.2. Đánh giá kết quả điều trị 57 3.2.1. Kết quả gần: 58 3.2.2. Kết quả xa 59 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 70 4.1. Đặc điểm lâm sàng và bệnh học 70

5. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN,LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 4.1.1. Tuổi và giới 70 4.1.2. Thời gian phát hiện bệnh 71 4.1.3. Lý do vào bệnh viện 72 4.1.4. Triệu chứng cơ năng 73 4.1.5. Kích thước u nguyên phát 73 4.1.6. Giai đoạndi căn hạch vùng 74 4.1.7. Giai đoạnbệnh 75 4.1.8. Mô bệnh học 76 4.1.9. Bàn luận về phương pháp điều trị 76 4.2. Kết quả điều trị 77 4.2.1. Đáp ứng điều trị 77 4.2.2. Tình trạng hiện tại của các bệnh nhân 78 4.2.3. Sống thêm 5 năm toàn bộ 78 4.2.4. Sống thêm theo giới 80 4.2.5. Sống thêm theo kíchthước u 80 4.2.6. Sống thêm theo di căn hạch vùng 81 4.2.7. Sống thêm theo giai đoạn bệnh 82 4.2.8. Sống thêm theo mô bệnh học 83 4.2.9. So sánh thời gian sống thêm với phương pháp điều trị và giai đoạn hạch, giai đoạn bệnh 84 KÉT LUẬN 94

6. chúng tôi TẢI LUẬN VĂN,LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC, TÌM TÀI LIỆU Y HỌC THEO YÊU CẦU LH 0915.558.890 KIÉN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Nghiêncứu đặc điểm lâm sàng mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư biểu mô amiđan tại bệnh viện K *Tiếng Việt: 1. Nguyễn Bá Đức, Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư, nhà xuất bản y học 2007 tr.125-142 2. Phạm Hoàng Anh, Nguyễn Mạnh Quốc, Nguyễn Bá Đức và cs (2001), Tình hình bệnh ung thư ở Việt Nam năm 2000, Tạp chí thông tin Y dược, số 2, tr.19-26. 3. Trần Phương Hạnh (1992), Từ điển giải nghĩa bệnh học, Trường Đại học Y dược Thành phố HỒ Chí Minh, tr. 114. 4. Nguyễn Đình Phúc (1978 ), Nhận xét chẩn đoán và điều trị ung thư amiđan, luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú bệnh viện, Trường Đại học Y Hà Nội. 5. Nguyễn Sào Trung, Nguyễn Chấn Hùng (1992), Bướu của đường hô hấp tiêu hóa trên, Bệnh học ung bướu cơ bản, Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 29-38. 6. Nguyễn Sào Trung, Nguyễn Chấn Hùng (1992), Ung bướu học cơ bản, Bệnh học ung bướu cơ bản, Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng Cán bộ y tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1 – 16. 7. Phạm Tuân (1993), Các ung thư đầu cổ, Ung thư học lâm sàng (sách dịch), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 303-316. 8. Trần Hữu Tuân (2000), Ung thư amiđan khẩu cái, Bách khoa thư bệnh học (tập 3), Nhà xuất bản Bách khoa bệnh học, Hà Nội, tr. 451-457. 9. Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai và cộng sự, Điều trị nội khoa bệnh ung thư, Nhà xuất bản y học, tr. 77-80 10. Trịnh Văn Minh và cộng sự (2001), Giải phẫu người, Tập I, Nhà xuất bản Y học, 2001. 11. Trần Bảo Ngọc (2001), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học kết quả xạ trị đơn thuần của ung thư amiđan, luận văn thạc sỹ