Xu Hướng 11/2022 # Tổng Quan Các Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 # Top 13 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Tổng Quan Các Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Tổng Quan Các Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

18-07-2011

Ung thư cổ tử cung (CTC) là một trong những căn bệnh ung thư phổ biến ở Việt Nam, chỉ xếp hàng thứ 2 sau ung thư vú và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các căn bệnh ung thư ở phụ nữ [1].

I. Các yếu tố nguy cơ: Theo y văn gồm Nhiễm HPV type nguy cơ cao, sinh hoạt tình dục sớm trước 20 tuổi, có nhiều bạn tình, phơi nhiễm với các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD), có con sớm, có nhiều con, trước đó có tế bào CTC bất thường, có mẹ hoặc chị gái bi UTCTC, hút thuốc lá, mắc bệnh suy giảm miễn dịch (HIV, dùng corticoid kéo dài).

– Sàng lọc phát hiện sớm và điều trị có hiệu quả là yếu tố then chốt để thực hiện thành công chương trình phòng chống ung thư CTC. Thiếu chương trình sàng lọc và hướng dẫn điều trị hiệu quả là lý do chính của tỷ suất mắc bệnh ung thư CTC cao ở các nước đang phát triển.[13] Các chương trình sàng lọc hiệu quả với mức độ bao phủ cao có thể làm giảm gánh nặng bệnh tật do ung thư CTC.

II. Tổng quan các phương pháp sàng lọc ung thư CTC

– Có nhiều phương pháp sàng lọc ung thư CTC như phương pháp sàng lọc tế bào ( Pap smear), quan sát CTC bằng mắt thường với dung dịch Acid acetic 5% (Phương pháp VIA), phương pháp quan sát với Lugol’s Iodine (phương pháp VILI), xét nghiệm HPV ( HPV DNA testing) … – Một chương trình sàng lọc ung thư CTC thành công là chương trình sàng lọc đó có tác động lên tỷ lệ ung thư CTC, chương trình đó phải sàng lọc được càng nhiều phụ nữ càng tốt. Nếu lý tưởng, chương trình phải sàng lọc được 80% số phụ nữ. Sau đó, những phụ nữ có tổn thương tiền ung thư CTC cần phải được điều trị trước khi chúng tiến triển thành ung thư CTC, lúc đó tỷ lệ ung thư CTC có thể giảm đàng kể, có thể lên đến 93%.” Ngăn chặn ung thư CTC thành công cần có sự phối hợp một cách hiệu quả các chương trình; độ bao phủ sàng lọc, liên kết sàng lọc và điều trị, điều trị hiệu quả và giám sát” [24]

1. Phương pháp sàng lọc tế bào (Pap smear)

– Là phương pháp đã được chứng minh có nhiều thành công đáng kể ở các nước phát triển đã làm giảm 70-80% tỷ lệ ung thư ở các nước phát triển [3]. Tuy nhiên, các chương trình sàng lọc dựa vào xét nghiệm tế bào CTC khó được thiết lập và duy trì ở các quốc gia đang phát triển, bởi vì chúng tốn kém và phức tạp như: giá đắt, lấy tiêu bản phải tốt, có đủ phương tiện xử lý, kinh nghiệm đọc và phân tích mẫu bệnh phẩm, lưu trữ thông tin và trả kết quả. Nếu có bước nào trong chu trình trên không chính xác hoặc trở ngại thì chương trình phòng ngừa thất bại.

– Nhiều nước, nếu không muốn nói là hầu hết tất cả các bước trong quá trình xét nghiệm tế bào CTC là vấn đề nan giải đối với những vùng khó khăn, thiếu thốn phương tiện [25]. Lấy ví dụ ở nhiều nước, Pap smear chỉ được thực hiện ở những vùng đô thị bởi ở những vùng cơ sở y tế xa xôi, các chuyên gia về tế bào học còn rất thiếu, thời gian xử lý và phân tích kết quả thường kéo dài, và do không nhận được kết quả ngay, nhiều phụ nữ không quay trở lại nơi khám để lấy kết quả và bị mất dấu trong quá trình theo dõi. Do vậy, việc tầm soát ung thư CTC bằng phương pháp Pap smear ở các nước đang phát triển khó tồn tại và thất bại vì những giới hạn về nguồn lực. Nhiều nghiên cứu ở Ấn Độ và Kenya cho thấy rằng chỉ 1% dân số được tầm soát. [16] Do đó, tầm soát ung thư CTC bằng phương pháp Pap smeartại các nước đang phát triển còn nhiều hạn chế như:

+ Việc lấy mẫu và đọc kết quả không đơn giản nên không dễ thực hiện tại các tuyến y tế cơ sở + Phòng xét nghiệm phải có bác sĩ nên chỉ thực hiện ở cơ sở y tế tuyến tỉnh, thanh phố. + Mất nhiều thời gian nên khách hàng phải chờ đợi dẫn đến mất dấu khách hàng + Việc huấn luyện các khâu lấy bệnh phẩm, nhuộm, cố định và đọc tiêu bản cần nhiều nguồn lực, chi phí khá cao. – Độ nhạy của Pap smeartrung bình 66% (11-90%), độ đặc hiệu trung bình 67% ( 14-97%). Nhiều nguyên nhân dẫn đến sai số, trong đó có sai số do người đọc chiếm đến 40% các trường hợp âm tính giả. [22]

– Là xét nghiệm có thể phát hiện được DNA từ các type HPV nguy cơ cao, là một giải pháp cho việc sàng lọc ung thư CTC, test HPV (+) không có nghĩa là bệnh nhân mắc ung thư CTC, nhưng giúp CBYT phân định đuợc nhóm đối tượng có HPV nguy cơ cao[15].

– Đây là cách tiếp cận “Tầm soát tập trung” chứ không phải “tầm soát đại trà”, chi phí xét nghiệm cao [22].

3. Phương pháp sàng lọc VIA

– Các nhà nghiên cứu về chương trình sàng lọc ung thư CTC đã đưa ra các thông điệp: “Ngăn chặn phòng chống ung thư CTC không phải là làm test tốt nhất mà là làm test tốt nhất mà bạn có thể thực hiện được” [24]. “Ngăn chặn ung thư CTC đầu tiên là phải đạt đựơc độ bao phủ, nếu chúng ta không đạt được độ bao phủ từ 70-80% thì sẽ không có hiệu quả đối với việc giảm tỷ lệ tử vong. Do đó, phải chọn test khả thi và đủ điều kiện đạt mức độ bao phủ” [13]

– Sàng lọc ung thư CTC bằng phương pháp quan sát trực tiếp với acid acetic (VIA) hiện được đề xuất như một phương pháp hiệu quả đáp ứng được các thông điệp trên, hỗ trợ ngành y tế trong việc tầm soát ung thư CTC. Nguyên tắc và cách thực hiện VIA rất đơn giản. Dùng dung dịch acid acetic loãng (3-5%) bôi vào CTC, quan sát bằng mắt thường sau 1 phút, dung dịch acid acetic sẽ làm đông kết protein tế bào tiền ung thư tạo phản ứng trắng trên bề mặt CTC và có thể quan sát bằng mắt thường

Phương pháp VIA đã được áp dụng thành công ở tuyến cơ sở tại nhiều nước đang phát triển trong vòng hơn mười năm qua và có những ưu điểm như:

– Là một kỹ thuật đơn giản, đào tạo cán bộ chỉ cần thời gian ngắn khoảng 5 ngày, nhân viên y tế không phải là bác sĩ cũng có thể thực hiện được phương pháp này sau khi được đào tạo. Người thực hiện VIA có thể tích lũy kinh nghiệm đọc kết quả trong thời gian ngắn. – Là một phương pháp không đòi hỏi đầu tư kinh phí cao, có thể thực hiện ở những cơ ỏ y tế có trang thiết bị đơn giản như ở các trạm y tế xã/ phường. Chỉ cần có những trang bị đơn giản như bàn khám phụ khoa, đèn gù chiếu sáng hoặc đèn pin, các dụng cụ khám phụ khoa thông thường như mỏ vịt, kẹp bông, và dung dịch acid acetic 3-5% là có thể thực hiện được. – Với xét nghiệm VIA, kết quả sàng lọc được trả lời ngay, giảm số lần quay trở lại nhận kết quả đối với phụ nữ – Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp VIA cho kết quả ít ra là ngang với xét nghiệm tế bào CTC, VIA có độ nhạy cao hơn Pap smear trong việc phát hiện các tổn thương tiền ung thư CTC và không có trở ngại gì về kỹ thuật và cơ sở vật chất [17]

Nghiên cứu trên cũng khuyến nghị VIA có thể được đề nghị như một phương pháp thay thế bổ sung cho phương pháp tế bào học trong tầm soát ung thư CTC ở các tuyến y tế cơ sở [2] Dựa trên các nghiên cứu đã tiến hành, nhiều tổ chức chuyên môn trong đó có Tổ chức y tế thế giới, Hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Sản phụ khoa Canada, và Liên đoàn Sản phụ khoa Quốc tế đã xác nhận VIA như một lựa chọn quan trọng đối với việc sàng lọc ung thư CTC ở những nơi có nguồn lực hạn chế [5], các tác giả kết luận rằng: “bản chất không xâm nhập và tính dễ áp dụng của phương pháp này cùng với việc có kết quả ngay lập tức, đã khiến cho VIA trở thành một phương pháp sàng lọc hấp dẫn”. [13,22]

Một số hạn chế của VIA: * VIA có thể độ đặc hiệu thấp và độ nhạy cao hơn PAP smear nên có tỉ lệ dương tình giả cao hơn có thể dẫn đến việc điều trị quá mức trên những phụ nữ thật sự không có tổn thương tiền ung thư trong chiến lược khám và điều trị ngay. * Hiện chưa có bằng chứng kết luận về tác động về sức khoẻ và chi phí của việc điều trị quá mức sau khi chẩn đoán VIA dương tính. * Test có thể ít chính xác ở phụ nữ sau mãn kinh. * Kết quả test phụ thuộc vào người đánh giá. * Để phương pháp VIA đạt hiệu quả tầm soát tốt cần phát triển các phương pháp huấn luyện chuẩn và các biện pháp kiểm soát chất lượng Phương pháp VIA với những ưu điểm và tiện lợi nói trên sẽ là chọn lựa phù hợp nhất trong các phương pháp sàng lọc ung thư CTC để áp dụng đến tận tuyến quận/ huyện và xã/ phường nhằm nâng cao độ bao phủ và khả năng sàng lọc các tổn thương loạn sản CTC, Những ca VIA dương tính sẽ được theo dõi và điều trị bằng phương pháp áp lạnh CTC để điều trị các tổn thương loạn sản góp phần làm giảm tỉ lệ ung thư CTC ở phụ nữ.

Các phương pháp điều trị tổn thương tiền UTCTC

– Có nhiều phương pháp điều trị tổn thương tiền UTCTC gồm: khoét chóp,áp lạnh, bay hơi bằng laser , Leep. cắt tử cung.

– Nhiều bằng chứng và số liệu cho thấy không có kỹ thuật nào là ưu điểm tuyệt đối. Việc chọn lựa phương pháp điều trị phải dựa trên các yếu tố về chi phí, tình trạng bệnh lý, nhu cầu và điều kiện của bệnh nhân.

– Các nghiên cứu đã đưa ra kết luận khoét chóp, Leep, Laser, Áp lạnh có tỉ lệ điều trị khỏi các tổn thương CIN như nhau (ACOG, 2005 ). Tuy nhiên phương pháp Áp lạnh dễ sử dụng, chi phí thấp,ít biến chứng và tránh gây sang thương không cần thiếtđối với CTC ở những phụ nữ trẻ còn nhu cầu sinh đẻ. Các yếu tố này khiến Áp lạnh trỏ nên phù hợp với những nơi có nguồn lực hạn chế so với các phương pháp khác[25]. Tuy nhiên Áp lạnh có một hạn chế là không cung cấp được mô bệnh phẩm để làm giải phẫu bệnh.

– Do tỉ lệ biến chứng của Áp lạnh thấp nên việc AL cho tất cả các trường hợp có VIA dương tính lại có hiệu quả về mặt chi phí trong việc ngăn ngừa tiến triển thành UTCTC, làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc UTCTC, nơi mà người bệnh không có điều kiện quay lại để theo dõi. Việc điều trị quá mức lại là cần thiết đối với người bệnh có nhiều nguy cơ tiến triển thành ung thư CTC. (Goldic và CS 2001, Mandelblett và CS 2001, Linky và CS 1997)

BS. LÊ TRẦN ANH THƯ – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn Tài liệu tham khảo

– TIỀNG VIỆT 1. Phạm Việt Thanh – Vaccine dự phòng và ung thư CTC. Hội nghị phòng chống ung thư phụ khoa lần thứ II TP. HCM 5-6/10/2007. 2. Nguyễn Vũ Quốc Huy. Một vài kinh nghiệm áp dụng phương pháp quan sát CTC sau acid acetic (VIA) tại Huế – Tập san Hôị thảo đánh giá nhu cầu xây dựng chương trình phòng chống ung thư CTC tại Việt Nam. – Hà Nội 13-14/2007. 3. Trang Trung Trực – Kết hợp đồng thời phết Tế bào với soi CTC trong phát hiện sớm ung thư CTC – Hội nghị phòng chống ung thư phụ khoa lần thứ II TP. HCM 5-6/10/2007. 4. Trần Hữu Bích : Đánh giá nhu cầu các chương trình phòng chống ung thư CTC tại Việt Nam năm 2007 – Tập san Hôị thảo đánh giá nhu cầu xây dựng chương trình phòng chống ung thư CTC tại Việt Nam. – Hà Nội 13-14/2007. – TIẾNG ANH 5. American college of obetetricians and gynecologit, 2004 ACOG statement of policy : cervical cancer prevention in low – Resource settings – obstetric and gynecology 103: 607-609. 6. ACCP – cervical cancer prevention – fact sheet – 10 key findings and recommendation for effective cervical cancer screening and treatment programs, April 2007. 7. Arbyn M, Sasieni P, Meijer CJLM, et al. Clinical applications of HPV testing: a summary of meta-analyses. Vaccine. 2006;24(Suppl 3):78-89. 8. Blumenthal PD, Lauterbach M, Sellors JW, Sankaranarayanan R. Training for cervical cancer prevention programs in low-resource settings: focus on visual inspection with acetic acid and cryotherapy. International Journal of Gynecology & Obstetrics. 2005;89(Suppl 2):S30-S37. 9. Blumenthal PD, McIntosh N. Cervical Cancer Prevention Guidelines for Low-Resource Settings. JHPIEGO 2005. 10. Carr KC, Sellors JW. Cervical cancer screening in low resource settings using visual inspection with acetic acid. Journal of Midwifery and Women’s Health. 2004;49:329-337. 11. Cuzick J, Mayrand MH, Ronco G, Snijders P, Wardle J. New dimensions in cervical cancer screening. Vaccine. 2006;24(Suppl 3):90-97. 12. Denny L, Quinn M, Sankaranarayanan R. Screening for cervical cancer in developing countries. Vaccine. 2006;24(Suppl 3)S71-S77. 13. Ericlucas – WHO/IARC – Những kinh nghiệm toàn cầu về về sàng lọc ung thư CTC. 14. Franco EL, Bosch FX, Cusick J, et al. Knowledge gaps and priorities for research on prevention of HPV infection and cervical cancer. Vaccine. 2006;24(Suppl 3):242-249. 15. Franco EL, Harper DM. Vaccination against human papillomavirus infection: a new paradigm in cervical cancer control. Vaccine. 2005; 23:2388-2394. 16. Gaffikin Letal (eds) 1997, Alternatives for cervical cancer screening and treatment in low – Resource settings work shop proceedings ( 21-22 – May) JHPIEGO ; Baltmore, Mary Land. 17. Herdman C, Sherris J, et al. Planning Appropriate Cervical Cancer Prevention Program, 2nd Edition: 3-15, 2000. 18. Jones SB. 1999. Cancer in developing countries: A call to action. British Medical Journal 39: 505-508. 19. Khunying Kobchitt Limpaphayon, MD – Success factor for cervical prevention program in Thái Lan – JHPIEGO, 2007. 20. Miller AB. Cervical Cancer Screening Programmes: Managerial Guilines. Geneva: World Health Organization (1992). 21. Parkin D, Whelan S, Ferlay J, et al., eds. Cancer Incidence in Five Continents, vol VIII. Lyon: IARCPress, 2002. IARC Scientific Publication No. chúng tôi Personal communication, IARC (July 2000). 22. Path – Preventing cervical cancer , unprecedented opportunities for improving women’s health – June, 2007. 23. Population Reference Bureau (PRB) and Alliance for Cervical Cancer Prevention (ACCP). Preventing Cervical Cancer Worldwide. 2004. Washington, DC: PRB; Seattle: ACCP. 24. Sankaranaraganan Retal 1998. Visual inspection of the uterine cervix after the application of acid acetic in the detection of cervical carcinoma and its precursors – Cancer 83 (10) : 2150-2156. 25. Sellors J, Lewis K, Kidula N, Muhombe K, Tsu V, Herdman C. Screening and management of precancerous lesions to prevent cervical cancer in low-resource settings. Asian Pacific Journal of Cancer Prevention. 2003;4:277-280. 26. Tsu VD, Pollack AE. Preventing cervical cancer in low-resource settings: how far have we come and what does the future hold? International Journal of Gynecology & Obstetrics. 2005;89(Suppl 2):S55-S59. 27. Villa LL, Denny L. Methods for detection of HPV infection and its clinical utility. International Journal of Gynecology and Obstetrics. 2006;94 (Suppl 1):S71-S80. 28. chúng tôi research/diseases/hpv/enl

Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung. / 2023

Do đó, việc xét nghiệm sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung là rất cần thiết, nó cho phép phát hiện những thay đổi ở tế bào cổ tử cung của bạn. Những thay đổi này tuy diễn biến chậm nhưng có thể là nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung. Khi phát hiện tế bào bất thường, bạn sẽ được theo dõi một cách chặt chẽ và/hoặc được điều trị ngay từ giai đoạn đầu tiên.

Vậy có những phương pháp nào để sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung và cần phải sàng lọc cho những đối tượng nào?

1.Đối tượng cần được sàng lọc:

-Tất cả các phụ nữ đã có quan hệ tình dục, đặc biệt là độ tuổi từ 30-50 cần phải làm xét nghiệm sàng lọc phát hiện sớm nguy cơ ung thư cổ tử cung.

– Phụ nữ từ 21-29 tuổi cần làm xét nghiệm sàng lọc bằng tế bào cổ tử cung hoặc VIA 2 năm/lần.

-.Phụ nữ trên 30 tuổi nên thường xuyên đi khám sàng lọc để phát hiện các tổn thương tiền UTCTC.

2.Các xét nghiệm để sàng lọc UTCTC:

a. Kỹ thuật sàng lọc tế bào (Pap smear):

-Xét nghiệm PAP dùng để phát hiện tế bào tiền ung thư trước khi chúng có thể chuyển thành ung thư xâm lấn. Với việc khám sàng lọc bằng lâm sàng và xét nghiệm PAP định kỳ hàng năm 1 đến 2 lần ở phụ nữ trên 30 tuổi đã có gia đình sẽ giúp cho việc chẩn đoán lâm sàng tình trạng tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm có thể điều trị khỏi được. Ở các nước thực hiện chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung đã làm giảm 30% các trường hợp ung thư xâm lấn.

Tại các địa phương không có phương tiện xét nghiệm để làm PAP test, có thể khám cổ tử cung bằng mắt với mỏ vịt và đủ ánh sang, áp dụng cho các phụ nữ có gia đình, trên 30 tuổi. Nếu có bất thường sẽ đưa sang bộ phận xác định bệnh và điều trị.

b.Quan sát bằng mắt thường với dung dịch iốt Lugol (VILI):

-Là phương pháp quan sát bằng mắt, có bôi dung dịch iốt Lugol lên cổ tử cung và sau đó kiểm tra xem có vùng nào không bám màu. Kết quả của VILI cho thấy ngay, giúp thuận lợi cho việc sàng lọc UTCTC nhanh chóng.

-Khám bằng mắt kết hợp với là thử nghiệm Lugol, soi cổ tử cung để phóng đại các tổn thương ở cổ tử cung vừa chẩn đoán vừa điều trị các ung thư tiền xâm lấn.

c.Quan sát bằng mắt thường với axít axêtic (VIA):

-Là phương pháp có dùng dung dịch axít axêtic 3% đến 5% bôi lên cổ tử cung, sau đó quan sát cổ tử cung bằng mắt thường sau 1 phút. Nếu thấy các vùng bị trắng gần với khu vực chuyển tiếp thì xét nghiệm này được coi là dương tính đối với các thay đổi tế bào tiền ung thư hoặc ung thư xâm lấn sớm.

d.Xét nghiệm DNA HPV:

– Các xét nghiệm mới có thể phát hiện DNA HPV có nguy cơ cao gấy UTCTC trong phiến đồ âm đạo hoặc cổ tử cung.

Copy ghi nguồn DaiHocDuocHanoi.com

link bài viết SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG.

Xét Nghiệm Sàng Lọc Sớm Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023

Xét nghiệm sàng lọc sớm Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là bệnh lý ác tính của biểu mô lát (biểu mô vảy) hoặc biểu mô tuyến cổ tử cung, thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ hai trong các ung thư sinh dục ở nữ giới về tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong

Việt Nam là một trong những nước có số lượng phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung cao. Do vậy, biết được những biện pháp phòng ngừa bệnh tích cực có vai trò rất quan trọng. Bởi hầu hết các trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh đều do quá chủ quan trong phòng ngừa.

1. Nguyên nhân ung thư cổ tử cung

Nhiễm Virus Papilloma ở người (HPV) là nguyên nhân phổ biến nhất và yếu tố nguy cơ cao nhất gây ung thư cổ tử cung.

Virus HPV có hơn 100 type, trong đó có khoảng 15 týp có khả năng gây ung thư gọi là type “nguy cơ cao” và phổ biến nhất là các type HPV 16 và 18 gây ra hơn 70% trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn cầu

HPV lây nhiễm qua đường quan hệ tình dục bằng miệng hoặc qua đường hậu môn.

Những người có nguy cơ cao mắc bệnh:

Phụ nữ trong độ tuổi trên 35

Phụ nữ quan hệ tình dục sớm, quan hệ với nhiều người và quan hệ tình dục không an toàn

Phụ nữ sinh nở nhiều lần

Phụ nữ bị nhiễm virus HPV

2. Một số dấu hiệu nhận biết sớm ung thư CTC

Khi chị em mắc ung thư CTC ở giai đoạn đầu hoặc có những tổn thương về tiền ung thư thì thường không có hay có ít các triệu chứng đặc hiệu nào về bệnh.

Dấu hiệu ung thư CTC chỉ xuất hiện rõ ràng khi các tế bào ác tính phát triển nhanh và xâm lấn vào các tổ chức lân cận. Khi đó, ung thư CTC có thể gây ra những triệu chứng sau:

Chảy máu âm đạo

Đau lưng

Đi tiểu bị đau hoặc khó khăn và nước tiểu đục

Táo bón mãn tính và cảm giác về sự hiện diện của phân mặc dù ruột không còn gì

Đau vừa phải trong quá trình quan hệ tình dục và tiết dịch âm đạo

Một chân bị sưng

Rò rỉ nước tiểu hoặc chất cặn từ âm đạo

3. Các biện pháp phòng ngừa ung thư CTC: Nên phòng ngừa ngay từ khi còn trẻ

Không quan hệ tình dục sớm

Quan hệ tình dục sớm (ở tuổi dậy thì) là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus HPV vì trong giai đoạn này, khả năng tự bảo vệ  trước sự tấn công của tác nhân gây bệnh rất kém.

Lứa tuổi này cũng dễ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục vì các màng nhầy đang trong giai đoạn này vô cùng nhạy cảm.

Tiêm phòng: Tiêm vaccin trước lần quan hệ đầu tiên

Tại Việt Nam, và bệnh viện đa khoa Đức Giang hiện nay có 2 loại vacxin tiêm ngừa HPV là: Cervarix (ngừa 2 chủng virus HPV 16 và 18) và Gardasil (ngừa 4 chủng HPV 6, 11, 16, 18).

Tiêm vaccin phòng bệnh trước lần quan hệ đầu tiên cho phép chị em phòng bệnh được tới trên 90% nguy cơ.

Khám phụ khoa định kỳ. Sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm HPV

Cần thực hiện khám phụ khoa định kỳ 3-6 tháng/ lần

Tầm soát bằng phương pháp phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) định kỳ, ít nhất 1 năm/ 1 lần, để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở những giai đoạn sớm của bệnh.

Bên cạnh đó, chị em nên giữ gìn vệ sinh “vùng kín” sạch sẽ, quan hệ tình dục lành mạnh, sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn.

Nếu đang có vấn đề về viêm nhiễm phụ khoa như khí hư bất thường, viêm âm đạo, viêm lộ tuyến CTC… chị em cần đi khám và chữa trị dứt điểm để bệnh không tiến triển nặng hơn.

Với các trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ bác sĩ có tay nghề chuyên môn cao, khoa Phụ Bệnh viện đa khoa Đức Giang là địa chỉ chăm sóc sức khỏe tin cậy giúp chị em phụ nữ phát hiện nhanh chóng các bệnh lý phụ khoa; tầm soát sớm ung thư CTC để có phương án điều trị phù hợp.

Cùng với đó, hiện tại phòng tiêm chủng của bệnh viện đa khoa Đức Giang cũng đang triển khai dịch vụ tiêm vaccin phòng ngừa HPV – Virus gây ung thư cổ tử cung cho các chị em có mong muốn dự phòng sớm.

Khi Nào Bạn Cần Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung? / 2023

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Nguyễn Thị Hồng Ơn – Khoa Sản Phụ khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc. Ung thư cổ tử cung là một trong những căn bệnh có tỷ lệ mắc cao hàng đầu ở phụ nữ và đang là nỗi ám ảnh của nhiều người. Căn bệnh này hoàn toàn có thể phòng tránh được nếu tuân thủ sàng lọc định kỳ. Phát hiện sớm các thay đổi bất thường sẽ giúp điều trị kịp thời, giảm thiểu chi phí và hạn chế tử vong.

1. Thực trạng hiện nay: Phát hiện ung thư cổ tử cung khi đã muộn

Ung thư cổ tử cung là căn bệnh ác tính phổ biến và đặc biệt nguy hiểm. Tại Việt Nam, đây là loại ung thư thường gặp thứ 2 ở phụ nữ. Điều đáng ngại nhất là ung thư cổ tử cung không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Khi thấy ra máu âm đạo bất thường hoặc ra máu khi giao hợp thì thường đã muộn. Khi đó, việc điều trị gặp nhiều khó khăn, kể cả phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn mở rộng và phối hợp hóa chất, tia xạ cũng không mang lại hiệu quả điều trị cao. Người bệnh gặp kết cục di căn nặng nề, đau đớn trước khi tử vong.

2. Tại sao cần sàng lọc, phát hiện ung thư sớm

Vi rút gây u nhú (sùi mào gà) HPV (Human Papiloma virus) là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến ung thư cổ tử cung. Có tới 95-97% phụ nữ bị ung thư cổ tử cung là do nhiễm HPV. Các yếu tố nguy cơ khác phải kể đến là: Quan hệ tình dục sớm, có nhiều bạn tình, viêm nhiễm kéo dài,…

Việc sàng lọc, phát hiện ung thư cổ tử cung ở giai đoạn đầu giúp tỷ lệ điều trị khỏi là 80 – 90%. Tỷ lệ chữa khỏi giảm còn 75% ở giai đoạn 2; 30 – 40% ở giai đoạn 3 và dưới 15% ở giai đoạn 4. Phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung khi bắt đầu có quan hệ tình dục. Tuy nhiên, ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng nên chị em phụ nữ có thể chủ quan, không quan tâm đến bệnh.

3. Những tiến bộ trong phòng ngừa và điều trị ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm. Các kỹ thuật mới trong chẩn đoán viêm do HPV đã giúp xác định và phân loại những người có nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung để theo dõi sát sao. Ngoài ra, xét nghiệm phết mỏng tế bào (ThinPrep test) có độ chính xác cao trong phát hiện các tổn thương tiền ung thư hơn các phương pháp cổ điển. Việc phối hợp hai xét nghiệm trên giúp bác sĩ có kế hoạch theo dõi tốt, giảm thiểu chi phí và thời gian thăm khám. Khi đó, thay vì đi khám hàng năm, chị em có thể chỉ cần làm sàng lọc 2-3 näm/lần.

Ngoài khám sàng lọc, chị em có thể tiêm vắc xin phòng HPV ngừa ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, vắc xin này chỉ có hiệu lực bảo vệ từ 4- 6 năm và không ngăn ngừa được tất cả các chủng virus HPV gây ung thư nên ngay cả khi đã tiêm phòng, chị em vẫn cần đi khám sàng lọc.

4. Khi nào nên khám sàng lọc?

Các bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec khuyên tất cả phụ nữ đã có quan hệ tình dục ở độ tuổi 30 – 49 nên làm xét nghiệm sàng lọc sớm ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, bạn cũng có thể làm xét nghiệm sớm hơn nếu thấy biểu hiện bất thường.

Nên bắt đầu sàng lọc sau 2 năm kể từ khi có quan hệ tình dục và thời điểm tốt nhất để thực hiện khám sàng lọc là 2 tuần sau ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt. Khoảng cách thời gian giữa các lần sàng lọc sẽ do bác sĩ tư vấn và tùy thuộc kết quả xét nghiệm.

5. Quy trình khám sàng lọc ung thư cổ tử cung tại Vinmec

A. Khám lâm sàng: Khách hàng được các các bác sĩ chuyên khoa có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm thăm khám.

B. Sàng lọc bằng 2 phương pháp: Xét nghiệm ThinPrep và test HPV

C. Kết quả được trả tận nhà khách hàng, kèm theo tư vấn cụ thể về tình trạng của mỗi người. Khi bạn có kết quả bất thường sẽ được hẹn đến làm các thăm dò chuyên sâu khác: Soi cổ tử cung, sinh thiết,….

Hai tuần sau ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt

Không đặt thuốc âm đạo trong vòng 48 h trước khi xét nghiệm

Không giao hợp tối hôm trước khi xét nghiệm.

D. Thời điểm khám sàng lọc tốt nhất:

6. Vì sao nên lựa chọn khám sàng lọc ung thư cổ tử cung tại Vinmec?

Vinmec có khả năng triển khai xét nghiệm gen để sàng lọc ung thư ngay tại chỗ, không cần phải chuyển mẫu ra nước ngoài, chất lượng xét nghiệm tương đương tiêu chuẩn Châu Âu.

Cung cấp dịch vụ xét nghiệm sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung như là một dịch vụ quan trọng của gói chăm sóc sức khỏe phụ nữ hoặc làm xét nghiệm riêng biệt theo yêu cầu của bạn. Tùy từng trường hợp cụ thể, bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm để chẩn đoán sớm bệnh lý ung thư cổ tử cung.

Đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản về công nghệ gen để làm chủ các kỹ thuật xét nghiệm gen tiên tiến hiện nay trên thế giới.

Tại đây, các phương pháp hiện đại và thủ thuật đảm bảo vô khuẩn để cho kết quả chính xác nhất. Kết quả sàng lọc được trả tận nhà kèm tư vấn và khuyến cáo cụ thể.

Nếu có nhu cầu tư vấn thêm và thăm khám tại các Bệnh viện thuộc hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, Quý khách vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Quan Các Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung / 2023 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!