Xu Hướng 3/2024 # Thầm Lặng Cứu Chữa Cho Bệnh Nhân Phong # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thầm Lặng Cứu Chữa Cho Bệnh Nhân Phong được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tại Khoa điều trị phong Bệnh viện da liễu Đồng Nai có một khu nội trú dành cho bệnh nhân phong. Điều đặc biệt của khoa này là phần lớn bệnh nhân đều chọn ở hẳn trong bệnh viện để tiện bề chữa trị và không muốn gia đình, người thân bị ảnh hưởng vì căn bệnh của mình.

Bác sĩ Nguyễn Văn Ba, Trưởng khoa Điều trị phong Bệnh viện da liễu Đồng Nai khám bệnh cho bệnh nhân phong

Nhiều năm nay, một số bệnh nhân xem Khoa Điều trị phong Bệnh viện da liễu Đồng Nai là nhà, các bác sĩ, nhân viên của khoa là người thân. Có bệnh nhân đã sống tại bệnh viện hơn 30 năm.

* Xem bệnh viện là nhà

Bệnh nhân gắn bó với bệnh viện lâu nhất là bà chúng tôi (68 tuổi, quê ở tỉnh Thừa Thiên – Huế). Bà Tr. cho biết, vào khoảng năm 1988, bà tốt nghiệp Trường đại học tổng hợp Hà Nội với bao hoài bão, ước mơ. Đùng một cái, bà phát hiện mình bị bệnh phong khiến cuộc đời rơi vào bi kịch.

Bệnh viện da liễu Đồng Nai đang quản lý và chữa trị cho 277 bệnh nhân phong, trong đó có 8 bệnh nhân đang được đa hóa trị liệu, 27 bệnh nhân đã điều trị và chuyển sang giai đoạn giám sát (3-5 năm), số còn lại là những bệnh nhân ngừng giám sát và chăm sóc tàn tật.

“Ngày trước khi nói đến bệnh phong cùi ai nấy đều sợ hãi và tránh thật xa. Khi đó cha đem tôi trốn vào rẫy sâu để không ai biết tôi bị bệnh và tôi chỉ còn chờ chết từng ngày. Tâm trạng đó thật kinh khủng. Sau đó cha tôi lặn lội đi hỏi cơ sở y tế địa phương thì biết được Bệnh viện da liễu Đồng Nai mới mở và điều trị bệnh phong nên cha đem tôi đi chữa, rồi ở mãi cho đến bây giờ” – bà Tr. bộc bạch.

Ngày ấy bà Tr. đến với Bệnh viện da liễu Đồng Nai duy nhất chỉ có một bộ đồ đã cũ trên người và đôi chân, bàn tay đang hoại tử. Rồi đến một ngày, khi cha bà đến thăm con gái chưa kịp quay về thì bị đột quỵ ngay tại bệnh viện. Trước hoàn cảnh của bà Tr., các bác sĩ, nhân viên của bệnh viện đứng ra lo mai táng cho cha bà. Từ đó đến nay đã 31 năm bà xem bệnh viện cũng là nhà.

Vừa rời khỏi phòng bệnh của bà Tr., chúng tôi đi ra ngoài hành lang của Khoa Điều trị phong thì gặp ông K’T.  (60 tuổi, ngụ huyện Định Quán) đang đẩy xe lăn đi dạo. Ông K’T. cho biết, khi mới 20 tuổi thì ông phát hiện mình bị bệnh và lúc ấy cũng mới lấy vợ chưa đầy 1 năm. Biết ông bị bệnh, mọi người thân đều không ai dám lại gần, thậm chí vợ cũng bỏ ông đi.

“Nói đến bị phong là ai cũng hắt hủi nên tôi đâu dám đi bác sĩ. Mà lúc đó có đi bác sĩ cũng không giải quyết được gì vì chưa có thuốc chữa. Nghĩ cuộc đời mình sẽ chết sớm nên tôi phó mặc cho số phận” – ông T. kể lại.

Khi bị cơn đau hành hạ dữ dội, ông được người thân đưa đến Bệnh viện da liễu Đồng Nai chữa trị và ở lại đến nay đã hơn 20 năm. Ông T. tâm sự : “Bệnh viện cho tôi biết thế nào là nhà, thế nào là tình thân và ở đây dù có đau đớn về bệnh tật, có buồn về phận đời mình, có chán nản khi bị gia đình bỏ rơi thì tôi vẫn luôn được mọi người động viên để sống tốt hơn, lạc quan hơn”.

* Chữa trị bằng cả tấm lòng

Cứ mỗi sáng, bác sĩ Nguyễn Văn Ba, Trưởng khoa Điều trị phong Bệnh viện da liễu Đồng Nai lại đi một vòng các phòng bệnh để khám và thăm hỏi bệnh nhân rất ân cần. Vị bác sĩ có 24 năm chữa trị cho bệnh nhân phong luôn tâm niệm, các bệnh nhân điều trị di chứng phong là người thiếu thốn cả về vật chất lẫn tình cảm nên ông muốn dành nhiều thời gian điều trị, quan tâm thăm hỏi để bù đắp phần nào nỗi đau mà bệnh nhân đang gánh chịu.

Nhiều bệnh nhân phong coi Bệnh viện da liễu Đồng Nai như là nhà. Ảnh: T.TÂM

Tốt nghiệp Trường đại học y Hà Nội, thay vì chọn bệnh viện lớn để làm việc đúng chuyên ngành thì bác sĩ Ba lại cống hiến cả sự nghiệp của mình cho bệnh nhân phong. Nói về ngã rẽ trong nghề nghiệp, bác sĩ Ba cho biết:  “Lúc mới nhận nhiệm vụ này tôi cũng có chút e ngại. Ngại vì mình không học chuyên ngành chữa trị bệnh phong và bệnh này cũng chưa có thuốc điều trị. Trước đây, bệnh nhân phong còn bị xã hội kỳ thị. Thế nhưng cứ nghĩ ai cũng chọn nơi tốt để làm thì ai sẽ chữa trị cho bệnh nhân phong nên tôi quyết định ở lại Bệnh viện da liễu Đồng Nai chữa bệnh cho tới nay”.

Theo bác sĩ Ba, biểu hiện ban đầu của bệnh phong là trên da xuất hiện các mảng màu lạ và tại vị trí đó hoàn toàn mất cảm giác. Khi chưa có thuốc chữa trị, bệnh nhân phong bị hoại tử dần từng bộ phận trên cơ thể và chỉ nằm chờ chết.  Nhưng hiện nay đã có thuốc đặc trị được cấp hoàn toàn miễn phí nên nếu phát hiện bệnh sớm thì bệnh nhân có thể được chữa khỏi hoàn toàn. “Trong nhiều năm qua chúng tôi chứng kiến quá nhiều bệnh nhân đến đây nhưng hầu hết đều quá muộn nên không trị dứt điểm cho họ được” – bác sĩ Ba cho biết.

Điều nghịch lý nhất chính là thay vì người bệnh tự tìm đến bác sĩ để điều trị thì với bệnh nhân phong họ vì sự kỳ thị của xã hội nên thường che giấu bệnh. Thế nên mỗi lần các bác sĩ đến nhà thuyết phục người bệnh đi chữa trị đều bị xua đuổi, thậm chí là hành hung.

Bác sĩ Hồ Hùng Dũng, Trưởng phòng Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện da liễu Đồng Nai cho biết, dù bệnh phong đã được chữa khỏi bằng thuốc nhưng người dân vẫn còn kỳ thị khiến bệnh nhân mặc cảm. Theo bác sĩ Dũng, bệnh phong rất khó lây, do chỉ lây qua đường nhiễm dịch nên khả năng lây không cao. Quan trọng là trong quá trình điều trị, người bệnh tự vệ sinh sạch sẽ, biết cách chăm sóc bản thân tùy theo từng mức độ bệnh. Khi điều trị, bệnh nhân sẽ được đa hóa trị liệu. Đến quá trình giám sát thì bệnh nhân tự chăm sóc cơ thể và bác sĩ sẽ tổ chức thăm khám thường xuyên để phát hiện sớm các vấn đề phát sinh khác.

Bác sĩ Lê Thị Thái Hà, Giám đốc Bệnh viện da liễu Đồng Nai cho biết, hiện nay số bệnh nhân phong ngày càng giảm nhưng họ vẫn bị di chứng rất nặng nên việc chăm sóc và điều trị gặp nhiều khó khăn. Điều quan trọng nhất là nếu xã hội cùng chung tay và không còn sự kỳ thị đối với bệnh nhân phong thì cuộc sống của họ sẽ tốt đẹp và lạc quan hơn rất nhiều.          

Tố Tâm

Ung Thư Thực Quản: Kẻ Giết Người Thầm Lặng

Thực quản là một ống cơ rỗng, có nhiệm vụ đưa thức ăn từ khoang miệng đến dạ dày. Ung thư xảy ra khi các tế bào lót bên trong của ống này hình thành nên một khối u ác tính. Sự biến đổi có thể xuất hiện bất cứ nơi nào dọc theo chiều dài thực quản.

3. Những đối tượng nào dễ gặp phải ung thư thực quản?

Các chuyên gia tin rằng các tế bào thực quản khi bị kích thích liên tục sẽ góp phần vào sự phát triển của ung thư. Một số thói quen và tình trạng có thể gây ra tình trạng này bao gồm:

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).

Thực quản Barrett (tình trạng niêm mạc thực quản bị tổn thương bởi GERD).

Co thắt tâm vị (bệnh lý đặc trưng bởi phần cơ ở phía cuối thực quản co giãn bất thường).

Thừa cân, béo phì.

Ít ăn rau củ và trái cây.

Những người có nguy cơ mắc ung thư thực quản bao gồm:

Đàn ông có nhiều khả năng mắc bệnh gấp 3 lần so với phụ nữ.

Nguy cơ bắt đầu tăng ở độ tuổi trên 45.

Thường phổ biến hơn ở những người Mỹ gốc Phi.

Người bệnh thường không có triệu chứng trong giai đoạn sớm. Phần lớn các chẩn đoán ung thư thực quản được đặt ra khi ung thư đã tiến triển.

Những than phiền thường gặp có thể bao gồm:

Nuốt khó: Khối u gây hẹp lòng của thực quản, khiến thức ăn lưu thông khó khăn hơn. Đây thường là triệu chứng đáng chú ý đầu tiên.

: do ứ đọng thức ăn trong thực quản thời gian dài.

Ho, đôi khi ho ra máu.

Thay đổi giọng nói: giọng nói có thể trở nên khàn khàn.

Đau và khó chịu trong cổ họng.

Ợ hơi, ợ chua, nóng rát sau xương ức do trào ngược axit.

Nội soi thực quản – dạ dày: Đầu tiên, bác sĩ đưa ống nội soi qua miệng, vào thực quản và về phía dạ dày. Trên đầu ống này có lắp một bóng đèn và một camera. Thông qua đó, bác sĩ sẽ thấy được hình ảnh trực tiếp của thực quản trên màn hình và xác định xem có sự hiện diện của bất kỳ khối u hay bất thường nào không.

Sinh thiết: Bác sĩ sẽ lấy mẫu mô để đánh giá thêm nếu nội soi cho thấy kết quả bất thường. Chúng sau đó được kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định xem có bất kỳ tế bào ung thư nào hay không.

Chụp X quang dạ dày có thuốc cản quang: Đầu tiên, bệnh nhân được cho uống một chất lỏng có chứa barium. Kỹ thuật viên sau đó sẽ tiến hành chụp một số hình ảnh X quang tại các thời điểm nhất định. Kết quả thu được sẽ gợi ý có u hay không và u ở vị trí nào.

Siêu âm qua ngả nội soi: Phương pháp này thường được chọn với mục đích khảo sát sự lan rộng của khối u ra các mô xung quanh. Bác sĩ sử dụng một ống nội soi gắn với đầu dò siêu âm, đưa nó qua miệng vào đến khu vực cần khảo sát và tiến hành kiểm tra.

Các phương pháp khác: Chụp CT có thể giúp xác định sự lây lan của ung thư khắp cơ thể.

Mục đích điều trị là loại bỏ toàn bộ khối u hoặc ngăn không cho khối u phát triển. Để đạt được điều này, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị tùy vào:

Các can thiệp phẫu thuật sau đây có thể giúp những người bị ung thư thực quản:

Cắt thực quản: Bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ một phần của thực quản có chứa khối u và nối lại phần còn lại với dạ dày.

Cắt thực quản – dạ dày: Trong thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ một phần thực quản chứa u, một phần của dạ dày và các hạch bạch huyết gần đó. Phần còn lại sẽ được nối trực tiếp với nhau.

Trong trường hợp hai đầu thực quản và dạ dày cách quá xa nhau, một phần nhỏ của ruột già được sử dụng để làm trung gian.

Các kỹ thuật không phẫu thuật khác hỗ trợ điều trị ung thư thực quản, bao gồm:

Liệu pháp quang động: Đầu tiên người bệnh được tiêm một chất đặc biệt vào thực quản làm cho các tế bào thêm nhạy cảm với ánh sáng. Bác sĩ sau đó sẽ dùng một ống nội soi có gắn laser để đốt cháy chúng.

Hóa trị: Là phương pháp sử dụng hóa chất để loại bỏ ung thư, trì hoãn hoặc ngăn ngừa tái phát, làm chậm tiến triển hoặc giảm các triệu chứng của bệnh. Chúng có thể được sử dụng trước hoặc sau phẫu thuật hoặc cả hai, có thể kết hợp với xạ trị.

Xạ trị: Là phương pháp sử dụng chùm tia xạ để tiêu diệt tế bào ung thư. Chúng có tác dụng làm hỏng DNA bên trong khối u, phá hủy khả năng sinh sản của chúng. Giống như hóa trị, xạ trị cũng có thể được dùng trước hoặc sau phẫu thuật.

Trong quá trình bệnh, người bệnh có thể không ăn uống được dẫn tới sức khỏe ngày càng kém. Tình trạng này gây ra nhiều khó khăn và ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị. Chính vì lý do đó, người bệnh cần được hỗ trợ để đảm bảo về mặt dinh dưỡng. Các biện pháp thường dùng là:

Đặt stent để giữ cho thực quản luôn thông thoáng.

Đặt ống thông mũi – dạ dày: Một ống bằng nhựa, nhỏ, mềm sẽ được đặt từ mũi miệng xuống tới dạ dày để đảm bảo đường đi cho thức ăn.

Nuôi ăn qua da: Các bác sĩ sẽ tạo một đường thông trực tiếp từ da dày ra một lỗ ở trên da. Thức ăn sau đó sẽ được đưa qua lỗ này để cung cấp dinh dưỡng cho bệnh nhân.

Xẹp Phổi: Kẻ Thù Thầm Lặng

1. Tổng quan

Xẹp phổi được định nghĩa là sự giãn nở không hoàn toàn của cả lá phổi hoặc chỉ một thuỳ phổi. Về mặt mô học, xẹp phổi là một cụm các phế nang xẹp, không có sự trao đổi O2 và CO2. Trong lịch sử, xẹp phổi được phát hiện lần đầu tiên qua xét nghiệm tử thi vào năm 1819.

Có nhiều nguyên nhân gây ra xẹp phổi. Xẹp phổi về bản chất là một biến chứng của nhiều loại bệnh lý cấp và mạn tính ở mọi độ tuổi. Bệnh có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải, hoặc có thể do nguyên nhân ngoài phổi và cả trong phổi.

1.1 Về mặt sinh lý

Phế nang muốn nở ra cũng cần 1 lượng khí nhất định nằm bên trong, khi thở ra hết sức phế nang sẽ thu hẹp lại. Liệu thở ra quá lâu, mạnh thì phế nang sẽ xẹp hẳn lại hay không? Rất may là cơ thể chúng ta có cơ chế phòng ngừa, dẫn đến dù bạn có thở ra mạnh hết sức thì các phế nang này vẫn không xẹp. Điều đó là nhờ vai trò của Surfactant – một chất nằm trong lòng phế nang, chống sự xẹp phế nang quá mức khi người bình thường thở ra.

1.2. Giải phẫu căn bản của phổi

Trong đó, phổi trái chỉ có 2 thuỳ: trên, và dưới.

Phổi phải có 3 thuỳ: Trên, giữa và dưới.

Khí quản sẽ phân chia thành 2 phế quản chính (trái và phải) đi vào 2 phổi, sau đó lại chia thành rất nhiều nhánh để đi vào từng thuỳ phổi, phế quản thuỳ lại chia thành nhiều phân thuỳ, tiểu phân thuỳ,… cho đến đơn vị nhỏ nhất là phế nang. Dễ nhận thấy rằng phế quản có hình dạng cành cây và phế nang là lá cây. Khi cành cây phía trước càng lớn (hoặc phế quản càng lớn) bị ảnh hưởng thì càng nhiều vùng lá cây phía sau bị ảnh hưởng.

Ở ngoài phổi được bao bọc trực tiếp, dính chặt bởi màng phổi tạng. Màng phổi thành sẽ dính chặt vào mặt trong thành ngực.

Ở người bình thường, 2 màng phổi thành và màng phổi tạng sẽ áp sát nhau, khi lồng ngực nở ra thì phổi nở ra, khi lồng ngực xẹp lại thì phổi xẹp lại, ngoài ra, khi hít vào phổi có thể nở xuống phía bụng, do màng phổi hoành (một phần của màng phổi tạng) sẽ đi xuống phía dưới, bởi vì phần màng phổi này dính chặt với một cơ hô hấp đặc biệt, tên là cơ hoành. Cơ quan này có vai trò là di chuyển xuống phía dưới để phổi nở ra.

Sự áp sát của màng phổi thành mà màng phổi tạng là do áp lực âm giữa 2 màng này.

2. Cơ chế và nguyên nhân gây bệnh

Xẹp phổi xảy ra do 3 cơ chế chính:

2.1 Phế nang tự hấp thụ hết oxy (resorptive atelectasis):

Còn được gọi là xẹp phổi do tắc nghẽn. Đây cũng là nguyên nhân thường gặp nhất.

Khi phế quản bị tắc nghẽn, không có hoặc có một ít không khí đi vào hoặc ra khỏi phế nang.

Trong khi đó, mạch máu ở phổi, phế nang vẫn đến và đi để trao đổi khí bình thường, dẫn đến lượng khí này sẽ bị dòng máu hấp thu và làm cho phế nang xẹp lại.

Tình trạng này diễn ra ở 1 cụm các phế nang sẽ dẫn đến tình trạng xẹp phổi, sự tắc nghẽn gần như hoàn toàn này xuất hiện ở vị trí phế quản càng lớn thì mô phổi bị xẹp càng nhiều.

2.2 Tắc nghẽn phế quản lớn

2.2.1 Do xuất hiện khối u:

Ung thư biểu mô phế quản (là loại thường gặp nhất của ung thư phổi).

Carcinoid (ung thư nội tiết).

Các khối u di căn.

Lymphoma (Ung thư hạch lympho thường là trong trung thất).

Ít gặp hơn là các loại u mỡ, u cơ.

2.2.2 Do viêm:

Lao (u hạt, viêm hẹp phế quản).

Sarcoidosis (bệnh lý do cơ quản miễn dịch bị rối loạn).

2.2.3 Nguyên nhân khác:

Nhĩ trái lớn: Đây là một trong 4 buồng tim, khi lớn sẽ đè ép phế quản của phổi trái.

Dị vật: Do bệnh nhân nuốt vào, nhưng không rơi vào thực quản mà vào phế quản. Đây cũng là nguyên nhân cấp tính duy nhất trong nhóm, thường xuất hiện triệu chứng của nuốt sặc (đột ngột da mặt tím tái, ho sặc, cảm giác nuốt phải dị vật). Sau khi tắc nghẽn xảy ra ở một người bình thường, xẹp phổi sẽ xảy ra trong 24 tiếng đầu tiên.

2.3 Tắc nghẽn phế quản nhỏ

Đây là nhóm nguyên nhân chủ yếu trong xẹp phổi do hấp thu.

2.3.1 Do đàm nhớt:

Thường gặp ở bệnh nhân hậu phẩu đặc biệt là mổ tim, đau ngực, đau bụng, chấn thương ngực.

Sử dụng thuốc ức chế hô hấp (Đặc biệt là Morphine, codein).

Bệnh lý ức chế thần kinh trung ương.

Hen.

Xơ nang.

2.3.2 Do viêm:

Viêm phế quản phổi.

Viêm phế quản.

Ở trẻ em có thể gặp Viêm tiểu phế quản.

Ở nhóm bệnh nhân thở oxy liều cao sẽ dễ dàng bị xẹp phổi hơn (tỷ lệ oxy / không khí bình thường là 21%, với 79% còn là là nitơ). Do nitơ di chuyển từ phế nang và máu chậm hơn nhiều so với oxy.

Ở đối tượng có tắc nghẽn phế quản cấp tính, nếu cho bệnh nhân thở với nồng độ oxy là 100% thì sau 1 tiếng, bệnh nhân sẽ bị xẹp phổi.

2.3.3 Do nhóm các phế nang bị đè ép, dẫn đến xẹp (compressive atelectasis):

Khối u lớn phía ngoài chèn ép vào phế nang (Khối u không nằm trên phế quản).

Khí bị giữ lại trong nhóm các phế nang kế cận làm nhóm phế nang này căng phồng, chứa rất nhiều khí, nhóm phế nang này chèn ép làm xẹp các phế nang xung quanh.

2.3.4 Bệnh lý màng phổi:

Tràn khí màng phổi (khí quá nhiều trong khoang màng phổi) sẽ đè xẹp các phế nang lân cận.

Tương tự đối với tràn dịch màng phổi (dịch quá nhiều trong khoang màng phổi).

Khối u màng phổi.

2.3.5 Thoát vị hoành: Cơ hoành có 1 lổ bất thường bẩm sinh, ruột trong bụng sẽ đi lên lồng ngực, chèn ép phổi, làm xẹp phổi và thường nằm bên trái.

2.4 Rối loạn hoặc giảm tạo Surfactant (chất giúp các phế nang không bị xẹp dù bạn thở ra hết sức)

Bệnh màng trong (thường gặp ở trẻ sơ sinh rất non tháng).

Thuyên tắc phổi (cơ chế chưa rõ ràng).

Bệnh bụi phổi do than đá: Thường là công nhân ở mỏ than, xẹp đỉnh phổi 2 bên.

3. Nhận diện xẹp phổi

3.1 Triệu chứng lâm sàng:

Tuỳ thuộc một hay nhiều thuỳ phổi hơn bị ảnh hưởng, nguyên nhân gây ra xẹp phổi và tuổi của bệnh nhân.

Thông thường, hầu hết bệnh nhân xẹp phổi không có triệu chứng.

Khám có thể ghi nhận âm phổi giảm (rì rào phế nang), gõ ngực sẽ ghi nhận âm thanh đục hơn bên đối diện, rung động của phổi khi nói (rung thanh) cũng giảm so với bên đối diện.

Tuỳ thuộc vào nguyên nhân mà có thể có ho, sốt, sụt cân, thở nhanh, đau ngực.

3.2 X – Quang ngực thẳng:

Là cận lâm sàng đầu tiên, cơ bản nhất để phát hiện xẹp phổi, đôi khi còn phát hiện cả nguyên nhân gây ra xẹp phổi.

3.2.1 Dấu hiệu trực tiếp:

Mạch máu và phế quản co cụm: Dấu hiệu này chỉ được nhận diện khi trong thuỳ phổi bị xẹp còn chứa ít không khí, lúc này các phế quản, mạch máu tụ tập lại về vùng tốn thương.

Ngược lại, khi phổi đã xẹp hoàn toàn thì dấu hiệu này sẽ mất đi. Lúc này co kéo rãnh liên thuỳ bé sẽ là dấu hiệu còn lại duy nhất.

3.2.2 Dấu hiệu gián tiếp:

Đám mờ ở phổi (màu trắng).

Khí quản, tim, vòm hoành, trung thất bị kéo lệch về phía tổn thương.

Khoang giữa 2 xương sườn kế nhau bị thu hẹp lại bên phổi xẹp.

Phổi còn lại tăng thông khí (đen hơn, bù trừ cho bên phổi mất chức năng)

Một điều thú vị là ở phổi bị xẹp, áp lực trong khoang màng phổi sẽ giảm. Và theo cân bằng áp lực, thì dịch trong mạch máu sẽ bị đẩy vào khoang này (do áp lực trong mạch máu lớn hơn áp lực trong khoang màng phổi).

3.2.3 Những ví dụ về đặc trưng XQ của xẹp phổi, thuỳ phổi:

Xẹp một bên phổi

Đám mờ cả một bên phổi, co kéo toàn bộ tim, khí quản, thậm chí là phổi bên đối diện về phía tổn thương.

Thuỳ trên phổi phải

Đám mờ nằm ở phía trên hoặc giữa, kéo cơ hoành lên trên, kéo rãnh liên thuỳ bé. Đôi khi có thể thấy dấu hình chữ S (hay Golden sign), gợi ý một khối u ác tính.

Thuỳ giữa phổi phải

Xác định tốt nhất trên phim phổi nghiêng, khi rãnh liên thuỳ bé và lớn gần như thành một. Xoá mờ bóng tim trên phim XQ ngực thẳng.

Bên cạnh XQ ngực thì siêu âm phổi và CT scan cũng là những công cụ thích hợp để chẩn đoán xác định và nguyên nhân gây ra xẹp phổi.

Khi nghi ngờ tổn thương trong lòng phế quản gây xẹp phổi, khó xác định bản chất trên XQ thì nội soi phế quản là lựa chọn thích hợp, kể cả chẩn đoán cũng như điều trị những nguyên nhân như dị vật đường thở.

3.2.4 Những bệnh lý gần giống xẹp phổi trên X – Quang

Tổn thương tăng sinh (ung thư).

Viêm phổi.

Tràn dịch màng phổi.

Thuyên tắc phổi.

Dị vật.

3.3 Điều trị

Tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây xẹp phổi, ta sẽ có cách điều trị khác nhau. Việc điều trị chung cho tất cả các trường hợp là không có.

Sau gây mê, có một số lưu ý:

Trong vòng 24 giờ sau mổ, hầu hết sau gây mê sẽ làm giảm chức năng phổi thoáng qua.

Cần đổi tư thế bệnh nhân từ nằm sang ngồi.

Tập cho bệnh nhân hít thở sâu.

Hoạt động trở lại sớm nhất có thể.

Hút đàm nhớt (ở bệnh nhân còn đặt nội khí quản).

Thở máy dưới áp lực dương. 

Ngoài ra còn có thể điều trị thuốc như:

Loãng đàm (acetylcystein) đặc biệt là ở bệnh nhân xơ nang.

Nội soi phế quản như đã nêu, là một phương pháp chẩn đoán, điều trị tương đối xâm lấn, sẽ làm bệnh nhân khó chịu nhiều, nhưng có giá trị cao trong khoảng 76% các trường hợp xẹp phổi nói chung.

Bác sĩ Nguyễn Đoàn Trọng Nhân

Gan Nhiễm Mỡ, Sát Thủ Thầm Lặng Gây Ung Thư Gan

– Gan nhiễm mỡ rất dễ tái phát và được gọi là kẻ giết người thầm lặng bởi không có triệu chứng cụ thể, dễ nhầm lẫn với các bệnh khác.

Gan nhiễm mỡ rất dễ tái phát và được gọi là kẻ giết người thầm lặng bởi không có triệu chứng cụ thể, dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Hơn nữa tâm lý chủ quan của người bệnh cho rằng, bác sĩ không kê thuốc nghĩa là bệnh nhẹ và chưa thấy khó chịu gì nên không cần quan tâm.

Những lời khuyên để hạn chế sự phát triển của bệnh như từ bỏ rượu bia, giảm cân và tập thể thao, thay đổi chế độ sinh hoạt khoa học, lành mạnh… thường bị bỏ qua hoặc không được tuân thủ lâu dài. Tuy nhiên, thực tế, gan nhiễm mỡ là căn bệnh không thể xem thường vì nó có thể biến chứng thành xơ gan, ung thư gan.

Nếu nam giới sử dụng 40g cồn/ ngày hay nữ giới 20g cồn/ ngày thì sẽ gây tổn thương rất lớn đến gan và làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

10% còn lại là do những vấn đề khác như tiểu đường tuýp 2, mỡ máu cao, béo phì, ít vận động, sử dụng thuốc quá liều hoặc rối loạn dinh dưỡng…

Ths.BS. Trần Thị Khánh Tường, Khoa Gan mật, Bệnh Viện Y dược Tp Hồ Chí Minh cảnh báo, có tới 30-35% số ca gan nhiễm mỡ sẽ tiến triển thành xơ gan. Đặc biệt, gan nhiễm mỡ do bia rượu có trên 50% sẽ bị xơ hóa, 25% sẽ tiến triển đến xơ gan và 14% sẽ bị ung thư gan.

Chính vì những lý do đó mà các chuyên gia gan mật nước ta đã phát đi cảnh báo, người bị gan nhiễm mỡ dù ở giai đoạn nào cũng tuyệt đối không thể chủ quan mà phải chú trọng điều trị, ngăn chặn biến chứng sớm.

Dấu hiệu nhận biết sớm gan nhiễm mỡ:

Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong gan lớn hơn 5%. Bệnh thường ít có biểu hiện ở giai đoạn đầu, chỉ có khoảng 10-15% bệnh nhân có biểu hiện như:

– Đau nhức nặng vùng gan (vùng dưới sườn phải).

– Ăn không ngon, ngứa, tiểu vàng, nổi mẩn đỏ ở da.

– Trướng bụng, đầy bụng, xuất hiện vàng da.

Cách phòng tránh gan nhiễm mỡ

– Hạn chế tối đa việc sử dụng đồ uống có cồn như rượu bia.

– Hạn chế các thực phẩm nhiều đường như bánh kẹo và nước ngọt, thực phẩm chiên rán, nhiều dầu mỡ.

– Tăng cường bổ sung thực phẩm tốt cho gan như rau củ quả, đậu nành, nần nghệ. Thông tin về cách điều trị gan nhiễm mỡ, chúng tôi Phạm Hưng Củng – Nguyên Vụ trưởng Vụ y dược học cổ truyền Bộ Y tế cho biết, trên thế giới từ hơn 30 năm nay đã sử dụng đậu nành chứa hoạt chất Phospholipid – hoạt chất số 1 giúp giảm gan nhiễm mỡ.

Nần nghệ cũng là thảo dược quý. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra, lượng saponin dồi dào có trong nần nghệ làm giảm lượng mỡ trong gan, trong máu rất tốt.

– Có một chế độ sinh hoạt lành mạnh, tập thể dục điều độ.

– Nên thăm khám sức khỏe định kỳ để kiểm tra chức năng gan, giúp phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.

Mọi trường hợp chảy máu dù ít hay nhiều, (ngoại trừ có tác động ngoại lực) đều báo hiệu bất thường của cơ thể. Nếu một trong ba dấu hiệu sau diễn ra trong thời gian dài, bạn cần đi khám sàng lọc ung thư sớm.

Ung Thư Khí Quản Sát Thủ Thầm Lặng

Nguyên nhân gây ung thư khí quản là gì?

Ung thư khí quản.

Hút thuốc lá: Hút thuốc lá và tiếp xúc với một số hoá chất độc hại có thể làm tăng nguy cơ đường hô hấp trong đó có ung thư khí quản. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC), gần 90% các trường hợp ung thư khí quản là do hút thuốc lá. Hút thuốc lá và khói thuốc lá chứa hơn 7.000 hóa chất, nhiều chất gây ung thư. Ví dụ về các hóa chất gây ung thư có trong khói thuốc lá là oxit nitơ và carbon monoxide. Những chất này có thể thay đổi tính chất và làm gián đoạn quá trình phân bào của tế bào.

Di truyền học: Các nghiên cứu hiện tại cho thấy nếu một thành viên trong gia đình bạn bị ung khí quản, bạn có thể có nguy cơ mắc bệnh cao hơn một chút.

Tuổi tác: Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ , ung thư khí quản hầu hết xảy ra ở người lớn tuổi. Hai trong số ba người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư khí quản là từ 65 tuổi trở lên. Bạn càng lớn tuổi, bạn càng phải tiếp xúc với các hóa chất có hại. Sự tiếp xúc lâu hơn này làm tăng nguy cơ ung thư khí quản

Tiền sử bệnh đường hô hấp: có tiền sử các bệnh đường hô hấp như bệnh lao , bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), viêm phế quản mãn tính , và khí phế thũng . Bạn có thể có nguy cơ cao bị ung thư khí quản nếu bạn có tiền sử bệnh mạn tính ảnh hưởng đến phổi và các cơ quan đường hô hấp.

Liệu pháp xạ trị vào ngực: Liệu pháp xạ trị được sử dụng để điều trị ung thư khác như ung thư vú, ung thư gan có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi, ung thư khí quản của bạn. Nguy cơ này cao hơn nếu bạn hút thuốc.

Nếu bạn nằm trong những đối tượng có nguy cơ phát triển một khối u ung thư tại khí quản, bạn nên chú ý đến việc cải thiện môi trường sống và nâng cao sức đề kháng, chủ động bảo vệ sức khỏe. Bên cạnh đó, bạn cần quan tâm đến các triệu chứng bất thường của cơ thể để có hướng điều trị phù hợp.

Các triệu chứng cảnh báo ung thư khí quản

Do khối u khí quản có tác động lên khí quản, khó thở thường là dấu hiệu đầu tiên của vấn đề cho dù khối u lành tính hay ác tính (ung thư). Tuy nhiên, khó thở có thể do hẹp khí quản, hen suyễn , viêm phế quản hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) , vì vậy bác sĩ sẽ tìm kiếm các triệu chứng sau đây:

Thở khò khè, thở dốc: cảm giác khó thở, tức ngực, hơi thở đều đều, có tiếng khò khè, khó nhọc. Nguyên nhân có thể do khối u phát triển lớn chèn ép vào đường khí quản gây ra triệu chứng khó thở.

Ho, có hoặc không có máu: các cơn ho kéo dài, ho nặng tiếng và khó thở. Ngoài ra một số trường hợp có thể ho ra máu.

Ho ra máu là dấu hiệu của ung thư khí quản.

Nhiễm trùng đường hô hấp trên: cảm giác khó chịu, mũi chảy dịch, khó thở, ho kéo dài. Trong dịch đờm đôi khi có lẫn máu.

Khó nuốt và khàn tiếng: cảm giác khó nuốt, khó phát âm, nói chuyện có thể khối u đã phát triển vượt ra ngoài khí quản và đang ép vào thực quản và ảnh hưởng đến dây thanh quản.

Triệu chứng các bệnh đường hô hấp thường khiến người bệnh cảm thấy khó thở, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt. Khi những triệu chứng này kéo dài bất thường, bạn nên đến các chuyên khoa để thăm khám và kiểm tra sức khỏe.

Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư khí quản

Các khối u khí quản rất khó chẩn đoán vì chúng là một trong những nhóm ung thư rất hiếm gặp, và trong hầu hết các trường hợp, chúng phát triển chậm. Chúng có thể bị chẩn đoán sai như là một vấn đề về hít thở, như hen, viêm phế quản, hoặc COPD, bởi vì không có các triệu chứng cụ thể. Bác sĩ của bạn có thể yêu cầu một hoặc nhiều thử nghiệm sau đây để xác định nguyên nhân gây ra các vấn đề về hô hấp của bạn:

Chụp cắt lớp vi tính (CT): Những lần quét này cho thấy hình ảnh có thể xác định kích thước của khối u, thu hẹp khí quản và tình trạng của các hạch bạch huyết lân cận.

Phẫu thuật nội soi: Một ống soi phế quản (một ống với một camera nhỏ ở cuối) được đưa vào khí quản. Điều này cho phép bác sĩ của bạn để xem bất kỳ bất thường trong khí quản cũng như loại bỏ các tế bào để kiểm tra ung thư (sinh thiết). Phẫu thuật nội soi ảo là một “hình ảnh” của khí quản qua chụp CT mà không cần dùng máy soi phế quản. Điều này không thể sinh ra một sinh thiết nhưng có thể có một hình ảnh tuyệt vời để xem khối u.

Nội soi là phương pháp chẩn đoán ung thư khí quản.

Kiểm tra chức năng phổi: Phương pháp này đo mức phổi hoạt động tốt như thế nào và có thể cho thấy tắc nghẽn khí quản.

Các xét nghiệm kiểm tra chức năng giúp các bác sĩ đưa ra chẩn đoán về các giai đoạn tiến triển của bệnh. Từ đó xây dựng phương pháp điều trị và tiên lượng sau điều trị cho bệnh nhân.

Các giai đoạn phát triển ung thư khí quản

Qua các xét nghiệm kiểm tra, các bác sĩ sẽ đánh giá mức độ tiến triển của bệnh. Khối u khí quản thường tiến triển qua 5 giai đoạn chính

Giai đoạn 0: khối u bắt đầu hình thành trong lớp tế bào biểu mô của khí quản. Nó chưa xâm lấn vào các mô sâu hơn hoặc lan rộng ra các vùng mô xung quanh.

Giai đoạn I: Một giai đoạn 1 khối u nhỏ hình thành có kích thước nhỏ hơn 2cm mà không lây lan sang bất kỳ hạch bạch huyết. Giai đoạn này có thể được điều trị bằng cách cắt bỏ toàn bộ khối u và một phần mô xung quanh để loại bỏ tế bào ung thư.

Giai đoạn II: khối u đang trong giai đoạn phát triển mạnh, nó thường có kích thước lớn hơn 5 cm nhưng nhỏ hơn 7 cm mà không lan rộng tới các hạch bạch huyết lân cận. Nó cũng có thể mô tả một khối u nhỏ có chiều rộng dưới 5 cm đã lan ra các hạch bạch huyết lân cận.

Giai đoạn III: khối u phát triển và ăn sâu vào bên trong thành của khí quản. Nó bắt đầu có hiện tượng xâm chiếm và lan rộng vào hệ bạch huyết xung quanh. Nhưng chưa lan rộng vào các cơ quan ở xa hơn.

Giai đoạn IV: Khối u phát triển không kiểm soát, nó bắt đầu xâm chiếm các vùng mô xung quanh và lan vào hệ bạch huyết. Theo đường máu và bạch huyết các phân mảnh của tế bào ung thư di căn đến các vùng khác của cơ thể như phế quản, phối, não, xương hoặc gan.

Ung thư khí quản hoàn toàn có thể điều trị thành công nếu phát hiện sớm. Ở những giai đoạn muộn tùy thuộc mức độ lan rộng, di căn của khối u, bác sĩ sẽ kết hợp sử dụng các phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân

Các phương pháp điều trị ung thư khí quản

Điều trị phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh ung thư, vị trí của nó, sức khoẻ chung của bệnh nhân. Phẫu thuật và xạ trị là phương pháp điều trị phổ biến cho ung thư khí quản. Chúng có thể được thực hiện riêng lẻ hoặc kết hợp. Hóa trị thường được dùng để làm giảm các triệu chứng và được gọi là hóa trị liệu giảm nhẹ.

Phẫu thuật cho ung thư khí quản: Trong giai đoạn đầu, khi khối u ung thư còn nhỏ, phẫu thuật được thực hiện để hoàn toàn loại bỏ các khối u cùng với một vùng mô khỏe mạnh xung quanh. Trong trường hợp ung thư ảnh hưởng hầu hết khí quản, phần bị ảnh hưởng sẽ bị loại bỏ và các đầu cắt của khí quản sẽ được nối lại.

Ống khí quản sẽ ngắn hơn một chút sau khi phẫu thuật. Bệnh nhân sau đó nên theo dõi và thực hành các bài tập vật lý trị liệu và các bài tập thở. Bệnh nhân có thể ho ra đờm máu đờm (đờm) trong vài ngày sau khi phẫu thuật.

Phẫu thuật ung thư khí quản.

Liệu pháp xạ trị: Phóng xạ trị liệu sử dụng chùm năng lượng cao, chẳng hạn như tia X để diệt tế bào ung thư. Liệu pháp xạ trị có thể được đưa ra sau khi phẫu thuật giết chết bất kỳ tế bào ung thư nào còn lại và để giảm nguy cơ tái phát và điều này được gọi là liệu pháp tia adjent. Liệu pháp xạ trị có thể được thực hiện ở những bệnh nhân giai đoạn sớm, ung thư khí quản cấp thấp, đặc biệt là ở những bệnh nhân không đủ điều kiện sức khỏe để phẫu thuật.

Hóa trị: Hóa trị liệu sử dụng hóa chất hoặc thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Thuốc thường được sử dụng là carboplatinor hoặc cisplatin. Hóa trị hiếm khi được sử dụng cho ung thư khí quản.

Phương pháp áp lạnh: bao gồm việc sử dụng ni tơ lỏng, đóng băng và diệt các tế bào ung thư.Nó được thực hiện dưới gây tê tổng quát. Cryoprobe là một dụng cụ được đặt gần khối u thông qua máy soi phế quản. Nitơ lỏng sau đó được truyền qua đầu dò để tiêu diệt càng nhiều khối u càng tốt. Liệu pháp làm lạnh nói chung không có nhiều phản ứng phụ. Bệnh nhân có thể ho thêm đờm một vài ngày sau khi điều trị.

Ung thư khí quản là một trong những bệnh ung thư đường hô hấp hiếm gặp. Tuy nhiên nó là kẻ thù thầm lặng với những dấu hiệu dễ gây nhầm lẫn và khó phát hiện. Vì vậy, để ngăn ngừa ung thư khí quản bạn nên từ bỏ thuốc lá, hạn chế tiếp xúc với các hóa chất độc hai, xây dựng môi trường sống trong lành, tăng cường hoạt động cơ thể. Ngoài ra bạn nên bổ sung vào thực đơn hàng ngày những thực phẩm giàu vitamin và chất oxi hóa như trà xanh, tinh chất nghệ, hoa quả tươi, rau có màu xanh đậm…Một môi trường sống lành mạnh cùng chế độ dinh dưỡng khoa học sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ sức khỏe đường hô hấp, ngăn ngừa ung thư hiệu quả.

Các bác sỹ ở các bệnh viện chuyên khoa ung bướu hàng đầu như bệnh viện K, 108 hay Bạch Mai thường khuyên bệnh nhân trước, trong và sau quá trình điều trị tích cực bệnh sử dụng King Fucoidan & Aquaricus có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, tăng cường sức đề kháng và ngăn ngừa ung thư tái phát.

Bạn có thể mua sản phẩm chính hãng trực tiếp qua website http://kingfucoidan.vn/ bằng cách gọi đến số tổng đài miễn cước trong giờ hành chính 18000069 hoặc số ngoài giờ hành chính 0439963691

Tặng Quà Tết Cho Bệnh Nhân Phong Tại Khu Điều Trị Phong Chí Linh

     Nhân dịp Tết nguyên đán Mậu Tuất, ngày 28-1, Đoàn thanh niên phối hợp khoa Phẫu thuật thẩm mỹ và phục hồi chức năng Bệnh viện Da liễu Trung ương đã đến thăm và tặng quà cho bệnh nhân phong tại 

Khu điều trị phong 

Chí Linh, Hải Dương.

           Góp thêm không khí vui tươi vào cái Tết của bệnh nhân phong, Đoàn bác sĩ của Bệnh viện Da liễu Trung ương, dẫn đầu là 

TS.BS. Phạm Cao Kiêm, 

trưởng khoa phẫu thuật thẩm mỹ và phục hồi chức năng đã trao những món quà và những lời hỏi thăm, động viên, chúc tết đến Ban quản lý Khu điều trị và từng bệnh nhân phong. Những món quà tuy nhỏ nhưng với sự tận tình, chu đáo của các bác sĩ, ngày cuối năm của các bệnh nhân dường như ấm áp, cảm động và ý nghĩa hơn, đặc biệt với những người bệnh phong .

     

     Quà mang tới chủ yếu là bánh kẹo, kèm một số tiền nhỏ giúp các bệnh nhân xa nhà đón một cái tất ấm áp, yên vui.

     Không ồn ào như không khí tết ngoài phố xá, những khu điều trị đón tết âm thầm và lặng lẽ hơn. Đó cũng là điều đương nhiên đối với những số phận đặc biệt này. Hầu như các bệnh nhân không còn người thân, thay vào đó, họ ở lại khu điều trị và ăn tết cùng nhau. Tuy nhiên, niềm vui, sự phấn khởi và niềm hi vọng trước mùa xuân năm mới vẫn toát lên từ mỗi gương mặt và cảnh vật ở các khu điều trị phong. Khu điều trị đã được bày trí với cành đào, chậu hoa tươi thắm. Những bệnh nhân mỗi người một việc, như gói bánh, dọn dẹp cảnh quan… ai bệnh nặng thì làm công việc nhẹ, ai khỏe mạnh hơn thì làm những công việc nặng. Họ bảo ban, sắp xếp, vui vẻ chuẩn bị cho cái tết như một gia đình lớn. Dường như, được bận bịu với công việc ngày tết là niềm vui của họ, khiến họ có cơ hội được trở lại với cuộc sống của một người bình thường.

Tin bài và ảnh: Phòng CNTT&GDYT

Đăng bài: Phòng CNTT&GDYT

Cập nhật thông tin chi tiết về Thầm Lặng Cứu Chữa Cho Bệnh Nhân Phong trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!