Xu Hướng 12/2022 # Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Xạ Trị Ung Thư / 2023 # Top 18 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Xạ Trị Ung Thư / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Xạ Trị Ung Thư / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư hiện đại, được sự dụng phổ biến để kìm hãm sự phát triển của các khối u ác tính. Đây là một phương pháp điều trị khá tốn kém và phức tạp, đồng thời nó cũng mang đến một số tác dụng phụ khiến người bệnh khó chịu.

1. Xạ trị ung thư là gì?

Xạ trị ung thư là gì? Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư dưới sự tác động của bức xạ ion hóa và tia X mang năng lượng cao vào vị trí của các tế bào K (tế bào ung thư). Nó phá vỡ tế bào ung thư, làm ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư mới và tiêu diệt các tế bào ung thư cũ.

Xạ trị ung thư – tập hợp tất cả kiến thức bạn nên biết.

Trong nhiều trường hợp, phương pháp xạ trị ung thư có thể chữa khỏi bệnh ung thư nếu phát hiện sớm và tuân thủ theo các hướng dẫn điều trị của bác sĩ.

2. Bệnh ung thư nào được chỉ định điều trị bằng phương pháp xạ trị?

Mục tiêu của phương pháp xạ trị là điều trị khỏi, kiểm soát hoặc giảm nhẹ bệnh ung thư.

Với các trường hợp có khối u to, bệnh nhân cần được xạ trị trước để làm nhỏ khối u. Hoặc xạ trị sau phẩu thuật nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại.

Bên cạnh đó, phương pháp xạ trị ung thư còn áp dụng cho mục đích để loại bỏ các triệu chứng chảy máu hay tắc các cơ quan nội tạng.

Thông thường, xạ trị ung thư ở giai đoạn đầu, giai đoạn 1, 2, đầu giai đoạn 3 có thể có mục tiêu là chữa khỏi ung thư. Ở ung thư giai đoạn sau giai đoạn 3, giai đoạn 4 (giai đoạn cuối) mục tiêu của xạ trị thường là kiểm soát và giảm nhẹ bệnh.

Xạ trị thường được các bác sĩ chỉ định sử dụng cho một số bệnh ung thư sau:

Ung thư vòm họng

Ung thư gan

Ung thư phổi

Ung thư máu

Ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư xương

Ung thư cổ tử cung

Ung thư trực tràng

Ung thư tuyến giáp

Ung thư dạ dày

Ung thư đại tràng

Ung thư thực quản

Ung thư trực tràng

Bệnh ung thư dạ dày, ung thư vòm họng, ung thư cổ tử cung… có thể điều trị bằng phương pháp xạ trị ung thư giai đoạn sớm. Hoặc các u bướu được phát hiện ở giai đoạn sớm có thể xạ trị mà không cần phẫu thuật.

Bênh cạnh đó, với những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, áp dụng phương pháp này cho việc giảm các cơn đau, ngăn chặn sự hình thành các tế bào mới. Và trong điều kiện bệnh nhân hồi phục tốt thì cơ hội khỏi bệnh vẫn rất cao. Ví dụ như ung thư vú điều trị bằng xạ trị thì cơ hội sống rất lớn cho người bệnh.

3. Các phương pháp xạ trị đang được sử dụng hiện nay

Xạ trị là một trong những biện pháp điều trị ung thư.

Các loại phóng xạ mà bệnh nhân có thể chỉ định tùy thuộc vào loại ung thư bạn mắc phải và vị trí của khối u. Trong một số trường hợp, bác sỹ có thể kết hợp nhiều loại xạ trị với nhau. Hiện nay có 3 phương pháp xạ trị đang được sử dụng trong điều trị ung thư

3.1. Xạ trị ngoài – xạ trị chùm tia ngoài

Phương pháp này gần giống với chụp X – quang chỉ khác là thời gian xạ trị sẽ lâu hơn. Bệnh nhân sẽ được chiếu các tia X từ bên ngoài vào cơ thể thông qua máy gia tốc tuyến tính. Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện nay.

Xạ trị từ bên ngoài có thể tác dụng lên một vùng lớn trên cơ thể và có thể điều trị cùng lúc nhiều vùng như các khối u và hạch bạch huyết gần nó. Bệnh nhân sẽ thường được xạ trị hàng ngày trong vòng vài tuần và được thực hiện trong các lần khám ngoại trú đến bệnh viện hoặc trung tâm điều trị.

Xạ trị proton hay liệu pháp proton là 1 trong những phương pháp xạ trị ngoài hiện đại nhất hiện nay. để điểu trị ung thư. Xạ trị proton sử dụng chùm tia proton năng lượng cao bắn phá tế bào ung thư. Biện pháp này làm giảm tác dụng phụ gây tổn thương tế bào lành hơn những biện pháp xạ trị ngoài khác.

3.2. Xạ trị trong

Phương pháp này được sử dụng để cho một khối u nhỏ cần liều xạ trị cao hơn mức bình thường. Bệnh nhân sẽ được đưa một vật chứa phóng xạ vào khu vực có khối u hoặc khoảng chứa bên trong gần khối u.

Xạ trị ngoài.

Để đặt nguồn phóng xạ vào đúng vị trí, các bác sĩ có thể dùng siêu âm, X quang hoặc CT. Trong thời gian điều trị bằng phương pháp này, bệnh nhân thường được cách ly với người khác và điều trị dài ngày trong bệnh viện để tránh việc lây nhiễm phóng xạ sang người khác.

3.3. Xạ trị toàn thân

Đây là phương pháp sử dụng các loại thuốc phóng xạ thông qua việc tiêm tĩnh mạch, uống hoặc đưa vào các khoang của cơ thể, thuốc chứa chât phóng xạ sẽ được đưa vào cơ thể để điều trị ung thư.

Phương pháp này thường được sử dụng cho các bệnh nhân ung thư xương, ung thư tuyến giáp. Nếu sử dụng với liều thấp, bệnh nhân có thể không cần nằm viện, nhưng nếu sử dụng liều cao, bệnh nhân sẽ cần điều trị tại bệnh viện và cách ly với ngoài nhà để giảm thiểu khả năng lây nhiễm phóng xạ.

4. Tác dụng của xạ trị ung thư

Một số bệnh ung thư rất nhạy cảm với tia xạ, do vậy xạ trị có thể được sử dụng trong những trường hợp này để làm cho ung thư co lại hoặc biến mất hoàn toàn. Đối với một số bệnh ung thư, xạ trị có thể được sử dụng trước khi phẫu thuật để thu nhỏ khối u (đây được gọi là liệu pháp trước phẫu thuật) hoặc sau phẫu thuật để giúp ung thư không quay trở lại (gọi là liệu pháp bổ trợ).

Đối với một số bệnh ung thư có thể được chữa khỏi bằng xạ trị hoặc phẫu thuật, xạ trị có thể là phương pháp điều trị ưu tiên. Điều này là do bức xạ có thể gây ra ít tổn hại hơn và các cơ quan trong cơ thể có thể có nhiều khả năng hoạt động trở lại sau khi điều trị.

* Để chữa lành hoặc thu nhỏ khối u trong giai đoạn đầu

Đối với một số loại ung thư, xạ trị và hóa trị có thể được sử dụng cùng nhau. Một số loại thuốc hóa học (được gọi là chất phóng xạ) giúp bức xạ hoạt động tốt hơn bằng cách làm cho các tế bào ung thư nhạy cảm hơn với bức xạ. Hạn chế của việc hóa trị và xạ trị kết hoepjvới nhau là tác dụng phụ thường trầm trọng hơn.

Ung thư có thể lây lan đến các bộ phận khác trong cơ thể. Các bác sĩ thường cho rằng một vài tế bào ung thư có thể đã lan rộng ngay cả khi chúng không được nhìn thấy trên các hình ảnh quét như CT hoặc MRI. Trong một số trường hợp, khu vực ung thư lan rộng có thể được điều trị bằng xạ trị để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào trước khi chúng phát triển thành khối u.

Ví dụ, những người mắc một số loại ung thư phổi có thể tiến hành xạ trị để phòng ngừa (dự phòng) đầu tiên vì loại ung thư phổi của họ thường lan đến não. Đôi khi, xạ trị để ngăn ngừa ung thư di căn có thể được thực hiện cùng lúc xạ trị để điều trị để điều trị ung thư hiện có.

* Để ngăn chặn ung thư quay trở lại (tái phát)

Đôi khi ung thư đã lan quá rộng khó chữa khỏi nhưng một số khối u này vẫn có thể được điều trị để thu nhỏ kích thước để người bệnh có thể cảm thấy tốt hơn. Xạ trị có thể giúp giảm các triệu chứng như đau, khó nuốt hoặc thở hoặc tắc ruột do ung thư tiến triển (di căn) gây ra.

* Điều trị các triệu chứng gây ra bởi ung thư tiến triển

Nếu ung thư quay trở lại (tái phát), bức xạ có thể được sử dụng để điều trị ung thư hoặc điều trị các triệu chứng do ung thư tiến triển. Việc xạ trị sẽ được sử dụng sau khi tái phát hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Ví dụ, nếu ung thư đã quay trở lại ở một bộ phận của cơ thể đã được điều trị bằng phóng xạ thì có thể không tiến hành xạ trị tại nơi đó. Điều này phụ thuộc vào lượng bức xạ đã được sử dụng trước đó. Trong các trường hợp khác, một số khối u không đáp ứng tốt với bức xạ và đối với những bệnh ung thư này bức xạ có thể không được sử dụng để điều trị tái phát.

* Để điều trị ung thư tái phát

5. Quy trình xạ trị ung thư

Quá trình thực hiện xạ trị ung thư, bệnh nhân thường trải qua các bước cơ bản sau:

Thăm khám lần đầu: Bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng, phân tích các kết quả xét nghiệm, x quang, ct để chẩn đoán về diễn biến, giai đoạn bệnh… để đưa ra kế hoạch điều trị phù hợp.

Chụp CT mô phỏng: Với mục đích để quét khu vực cần được xạ trị

Lên kế hoạch xạ trị: Bác sĩ sẽ lên kế hoạch chi tiết về liều lượng, phương pháp, thời gian xạ trị phù hợp cho bệnh nhân

Tiến hành xạ trị buổi đầu tiên:Thông qua việc xạ trị buổi đầu tiên, bác sĩ sẽ theo dõi về sự đáp ứng, phản ứng cơ thể của bệnh nhân… để có sự điều chỉnh cần thiết trong lộ trình xạ trị của bệnh nhân

Xạ trị theo phác đồ: Thời gian có thể kéo dài vài tuần, trong thời gian này bác sĩ sẽ liên tục theo dõi, để có điều chỉnh, hỗ trợ kịp thời cho bệnh nhân

Kiểm tra, theo dõi và chăm sóc bệnh nhân.

6. Bệnh nhân xạ trị có cần cách ly không?

Để trả lời bệnh nhân xạ trị có cần cách ly không cần xác định bệnh nhân được xạ trị dưới hình thức nào. Tùy hình thức xạ trị khác nhau mà có thể có những ảnh hưởng khác nhau đối với người thân và yêu cầu cách ly khác nhau:

Nếu bệnh nhân được xạ trị bên ngoài, sử dụng năng lượng bức xạ để chiếu vào vùng xạ: những bệnh nhân thuộc nhóm này không phải nguồn bức xạ nên không cần phải cách ly với những người xung quanh.

Nếu bệnh nhân được xạ trị áp sát hoặc sử dụng các loại thuốc phóng xạ qua đường tiêm, đường uống thì những bệnh nhân này là nguồn phóng xạ và cần cách ly với những người xung quanh. Những bệnh nhân này thường sẽ cần cách ly tại bệnh viện một thời gian, sau khi được đánh giá là an toàn thì mới cho người khác tiếp xúc. Đặc biệt cần cách ly phụ nữ đang mang thai và trẻ nhỏ với những bệnh nhân nhóm này.

Hầu hết các bệnh viện không cho phụ nữ có thai hoặc trẻ nhỏ hơn 18 tuổi được thăm những bệnh nhân mang nguồn phóng xạ, ngoài ra khách đến thăm sẽ phải ngồi xa ít nhất 1,8m trong khoảng thời gian giới hạn 10-30 phút mỗi ngày.

7. Xạ trị ung thư có ảnh hưởng đến người xung quanh không?

Nhiều người điều trị ung thư bằng biện pháp xạ trị thắc mắc xạ trị ung thư có ảnh hưởng đến người xung quanh không. Đối với những người xạ trị bên ngoài thì hoàn toàn không ảnh hưởng. Tuy nhiên trong những trường hợp xạ trị sử dụng thuốc phóng xạ như iod, những chất phóng xạ này có thể rời khỏi cơ thể người bệnh qua nước tiểu hay nước bọt và phân, có thể tiếp cận những người khác và gây ảnh hưởng xấu.

Xạ trị có cần cách ly không phụ thuộc vào hình thực xạ trị

Khi đó để hạn chế những ảnh hưởng đến người xung quanh, ngoài việc cách ly người bệnh mang nguồn phóng xạ, bác sĩ có thể yêu cầu người bệnh điều trị xạ trị một số điều như sau:

Rửa tay sạch sẽ sau khi dùng toilet

Dội rửa toilet nhiều lần sau khi sử dụng

Dùng những dụng cụ ăn uống hằng ngày và khăn tắm riêng (quần áo có thể cần phải giặt riêng).

Uống nhiều nước để giúp giải phóng iod phóng xạ ra khỏi cơ thể.

Tránh hôn hoặc quan hệ tình dục.

Giữ khoảng cách bằng chiều dài 1 cánh tay giữa người bệnh và những người khác ở bên cạnh nhiều hơn 2 giờ trong mỗi 24 giờ, đặc biệt tránh tiếp xúc lâu với trẻ sơ sinh, trẻ em và phụ nữ có thai.

Một số trường hợp xạ trị từ bên trong nhưng chất phóng xạ được niêm phong bên vật đựng kim loại, được cấy tạm thời vào cơ thể người bệnh cũng cần thực hiện một số biện pháp an toàn để tránh phóng xạ trực tiếp với người xung quanh.

8. Xạ trị có hết ung thư không?

Việc xạ trị có hết ung thư không phụ thuộc vào tình trạng bệnh hiện tại của người bệnh, mức độ phát triển di căn của khối u, nếu ở giai đoạn sớm xạ trị vẫn có thể chữa hết ung thư cho người bệnh.

Xạ trị có thể chữa khỏi ung thư bằng cách loại bỏ hoàn toàn khối u và phá hủy nó trước khi nó lây lan sang các bộ phận khác trên cơ thể. Trường hợp này cũng có thể được phối hợp với các biện pháp khác như phẫu thuật, xạ trị sẽ giúp thu nhỏ khối u sau đó bác sĩ tiến hành phẫu thuật để mổ lấy khối u ra.

Tuy nhiên không phải lúc nào xạ trị cũng có thể chữa khỏi ung thư, có những trường hợp xạ trị sẽ dùng để giảm triệu chứng trong điều trị ung thư, khi khối u đã phát triển và di căn sang các bộ phận khác. Khi này việc chữa khỏi sẽ rất khó khăn, các biện pháp điều trị hầu hết sẽ chỉ giảm sự tàn phá của khối u cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

9. U lành có cần xạ trị không?

U lành tính là kết quả của sự tăng trưởng của các tế bào lành tính nhưng không phải ung thư ở trong cơ thể và không lây lan đến các bộ phận khác trong cơ thể. Hầu hết các khối u lành thường không có triệu chứng lâm sàng và không gây ảnh hưởng đến cơ thể.

Bởi vậy nếu các khối u nhỏ và không gây ra bất cứ triệu chứng nào thì không cần thiết phải điều trị nói chung cũng như xạ trị nói riêng. Tuy nhiên trong trường hợp khối u có gây ảnh hưởng cho cơ thể thì có thể sử dụng các kĩ thuật như nội soi, phẫu thuật và cả xạ trị nếu cần thiết trong trường hợp khối u không thể tiếp cận một cách an toàn bằng phẫu thuật.

Khi này xạ trị sẽ sử dụng để giảm kích thước khối u và ngăn nó không phát triển lớn hơn.

Bởi vậy u lành có cần xạ trị không phụ thuộc vào vị trí khối u lành và những ảnh hưởng do nó gây ra mà bác sĩ sẽ có những chỉ định cụ thể.

10. Xạ trị có đau không? Xạ trị có mệt mỏi không?

Xạ trị là phương pháp sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị hầu như không gây đau đớn cho người bệnh, tuy nhiên, có thể bạn sẽ cảm thấy khó chịu một chút trong khi bác sĩ trị liệu bức xạ. Xạ trị có thể gây nên những đau rát nhẹ vùng da xung quanh vùng xạ.

Kèm theo đó bệnh nhân cũng có thể có cảm giác mệt mỏi, đây là triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân tiến hành xạ trị tuy nhiên sẽ biến mất dần sau khi liệu trình xạ trị kết thúc.

Cũng có những người bệnh không có cảm giác đau gì suốt quá trình xạ trị, điều này phụ thuộc vào tiền sử bệnh, cấu tạo gene cũng như thói quen sinh hoạt của bệnh nhân.

11. Sau xạ trị sống được bao lâu?

Việc sau xạ trị sống được bao lâu phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng bệnh và giai đoạn người bệnh tiến hành các biện pháp điều trị bằng xạ trị cũng như các biện pháp khác.

Trong những trường hợp phát hiện và điều trị sớm ở giai đoạn đầu thì bệnh ung thư có thể chữa khỏi hoàn toàn, lên đến 90% ung thư đại trực tràng, 94% ung thư buồng trứng, 93% với bệnh ung thư vú, 93% ung thư cổ tử cung, 97% ung thư da, …

Tuy nhiên càng ở các giai đoạn sau thì thời gian sống của bệnh nhân sẽ ngày càng giảm bớt, ở giai đoạn tiến triển tiên lượng dù thấp hơn nhưng vẫn có khả năng điều trị hoàn toàn thành công.

12. Xạ trị ung thư có được hưởng bảo hiểm không?

Dẫn chiếu đến quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật BHYT về mức chi trả bảo hiểm y tế:

1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau:

a) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật này. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chi trả từ nguồn kinh phí bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh của nhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân sách nhà nước bảo đảm;

b) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;

c) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

d) 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 2, điểm k khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 12 của Luật này;

đ) 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác.

Bởi vậy nếu bệnh nhân thăm khám theo đúng tuyến theo như bảo hiểm y tế hoặc được chuyển tuyến theo đề xuất của cơ sở y tế thì người bệnh sẽ được bảo hiểm y tế chi trả chi phí điều trị ung thư bao gồm chi phí xạ trị theo những mức tương ứng.

Thực tế việc mua bảo hiểm y tế là rất quan trọng đối với mọi người và đặc biệt là những bệnh nhân ung thư do chi phí điều trị quá cao, việc có bảo hiểm y tế sẽ giảm tương đối chi phí gia đình người bệnh cần chi trả trong quá trình điều trị ung thư.

13. Lưu ý trong quá trình điều trị trị xạ thực tế

Buổi xạ trị đầu tiên có thể kéo dài 2-3 giờ. Bệnh nhân sẽ được mặc áo choàng do bệnh viện cung cấp.

Không cần cởi bỏ trang sức, đồng hồ… nếu vị trị đeo không nằm trong vùng xạ trị. Mạng che cố định sẽ được đặt cho bệnh nhân nếu như bệnh nhân bị ung thư ở đầu và cổ.

Bệnh nhân sẽ được định vị vùng cần xạ trị. Các bác sĩ sẽ dùng hình ảnh mô phỏng bằng CT để định hình tia xạ trị trên Multi-Leaf Collimator, việc này giúp tia xạ chỉ tác dụng lên khu vực cần điều trị.

Máy điều trị lớn và gây tiếng ồn trong quá trình xạ trị, tuy nhiên, nó không gây đau đớn lên người bệnh. Trong suốt quá trình xạ trị, bệnh nhân cần nằm yên để đảm bảo tia xạ tác dụng lên đúng vùng định vị.

Bác sĩ sẽ theo dõi bệnh nhân qua hệ thống truyền hình cáp, bác sĩ sẽ nói chuyện với bệnh nhân thông qua hệ thống

Máy điều trị khá lớn và gây tiếng ồn khi vận hành, nhưng không gây đau cho bệnh nhân. Bệnh nhân phải nằm yên trong suốt thời gian trị liệu ngắn. Trong suốt quá trình xạ trị, bệnh nhân và bác sĩ sẽ trò truyện thông qua hệ thống liên lạc 2 chiều. Vì thế, nếu có vất kỳ vấn đề gì, bệnh nhân chỉ cần thông báo cho bác sĩ và bác sĩ sẽ lập tức hỗ trợ kịp thời.

14. Biện pháp giảm tác dụng phụ xạ trị, nâng cao sức đề kháng hỗ trợ điều trị ung thư

Xạ trị trong thực tế.

Xạ trị ung thư có thể tiêu diệt nhầm các tế bào khỏe mạnh, gây các tác dụng phụ của xạ trị khiến bệnh nhân mệt mỏi và đau đớn. Để làm giảm các triệu chứng này, ngoài nghỉ ngơi hợp lý và có một chế độ ăn giàu dinh dưỡng, có thể sử dụng các sản phẩm hỗ trợ tăng cường hệ miễn dịch cho người bệnh như King Fucoidan.

King Fucoidan & Agaricus là sự kết hợp tuyệt vời của Fucoidan Nhật Bản từ tảo Mozuku và nấm Agaricus là một sản phẩm cho tác dụng như vậy. Hai thành phần này kết hợp tạo nên tác dụng hiệp đồng giúp tăng khả năng tiêu diệt tế bào ung thư lên một cách đáng kể.

Viện Nghiên cứu Fucoidan Nhật Bản (NPO) đã khẳng định sự phối hợp giữa Fucoidan và Betaglucan trong nấm Agaricus kết hợp cùng các biện pháp điều trị ung thư hiện đại sẽ cho hiệu quả mạnh mẽ nhất, hạn chế các tác dụng không mong muốn trong quá trình hóa, xạ trị, hạn chế di căn và nâng cao chất lượng cuộc sống trong thời gian người bệnh chiến đấu với ung thư

Vị trí định vị sẽ được bác sĩ giữ nguyên hoặc điều chỉnh theo sự chủ động của bác sĩ.

King Fucoidan & Agaricus là sản phẩm Fucoidan Nhật Bản đầu tiên được Bộ Y tế cấp phép lưu hành.

HOTLINE MIỄN CƯỚC 24/7 18000069 (miễn cước), để được tư vấn và mua hàng trực tiếp từ nhà nhập khẩu chính thức sản phẩm.

King Fucoidan giúp người bệnh giảm được những triệu chứng khó chịu khi điều trị bằng xạ trị Lưu ý sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng chữa bệnh. Đây là sản phẩm được khuyên dùng trong xạ trị bởi các bác sĩ điều trị ung thư các bệnh viện chuyên khoa lớn tại Việt Nam

Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Bệnh Thấp Tim Và Cách Chữa Trị / 2023

Bệnh thấp tim hay còn gọi thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp (Rheumatic Fever) được coi là một trong những bệnh của hệ miễn dịch mô liên kết hay thuộc hệ thống tạo keo.

Bệnh thấp tim hay còn gọi thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp (Rheumatic Fever) được coi là một trong những bệnh của hệ miễn dịch mô liên kết hay thuộc hệ thống tạo keo. Cho tới nay, bệnh vẫn khá thường gặp ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) và là nguyên nhân hàng đầu của bệnh van tim ở người trẻ tuổi. Bệnh thường gặp từ 6-15 tuổi, nhưng không ít trường hợp xảy ra ở lứa tuổi 20.

Tại sao lại bị thấp tim?

Ngày nay, người ta đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh là do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A đường hô hấp trên (streptocuccus A). Vì vậy mà hiện nay bệnh thấp tim đã được đẩy lùi và khá hiếm gặp ở các nước phát triển. Ở nước ta cũng có thể hoàn toàn khống chế tốt bệnh nếu chúng ta có những biện pháp giáo dục sức khoẻ tốt, sự phát triển đồng bộ về vệ sinh dinh dưỡng cũng như phát hiện kịp thời để tiêm phòng thấp sẽ hạn chế được tiến triển nguy hại đến các van tim.

Thấp tim có thể tiến triển khá âm thầm mà đến khi bị biến chứng vào tim mới phát hiện ra bệnh. Có tới gần 50% số bệnh nhân bị bệnh van tim do thấp tim mà không rõ tiền sử đau khớp.

Mối liên hệ chặt chẽ giữa dịch viêm họng và thấp tim được biết rõ từ năm 1930. Bằng chứng là sự tăng rõ rệt kháng thể kháng liên cầu streptolysin O ở trong huyết thanh bệnh nhân bị thấp tim. Bên cạnh đó, người ta thấy hiệu quả rõ rệt của kháng sinh trong phòng bệnh thấp tim là một trong những bằng chứng hỗ trợ cho cơ chế trên.

Thấp tim không phải do trực tiếp liên cầu gây ra mà thông qua cơ chế miễn dịch Thông thường, sau khoảng 3 tuần viêm đường hô hấp trên bệnh nhân mới có biểu hiện thấp tim Một khía cạnh nữa là thấp tim rất ít khi xảy ra ở bệnh nhân dưới 5 tuổi, khi mà hệ miễn dịch chưa hoàn thiện đầy đủ nên phản ứng chéo của cơ thể chưa đủ hiệu lực gây ra thấp tim Lớp kháng nguyên là các protein M,T và R ở lớp vỏ ngoài của liên cầu A là yếu tố quan trọng nhất gây phản ứng chéo với cơ thể. Bởi cơ thể đã sản sinh ra kháng thể chống lại các protein ở các tổ chức mô liên kết của cơ thể, loại mà có đặc tính trùng hợp rủi ro với protein của vi khuẩn Trong số trên, protein M là yếu tố không những đặc hiệu miễn dịch mà còn là yếu tố gây thấp mạnh nhất. Có khoảng 3% số bệnh nhân bị viêm đường hô hấp trên do liên cầu nhóm A mà không được điều trị triệt để sẽ tiến triển thành thấp tim, và có khoảng 50% số bệnh nhân đã bị thấp tim bị tái phát. Nhiễm liên cầu ngoài da thường ít khi gây thấp tim.

Nhận biết thế nào?

Các dấu hiệu viêm tim

Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41-83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim viêm màng ngoài tim viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim tiếng thổi tâm thu ở mỏm tim, tim to, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim suy tim suy tim thường ít gặp ở giai đoạn cấp, nhưng nếu gặp thì là biểu hiện nặng và do viêm cơ tim Một trong những biểu hiện rất phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá. Viêm màng ngoài tim có thể gây đau ngực tiếng cọ màng tim, tiếng tim mờ.

Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ đau khớp Thường xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai..) và có tính chất di chuyển viêm khớp đáp ứng rất tốt với thuốc aspirin trong vòng 48 giờ. Nếu trong trường hợp đã cho aspirin đầy đủ mà trong vòng 48 giờ viêm khớp không thuyên giảm thì phải nghĩ tới nguyên nhân khác ngoài thấp tim. Viêm khớp do thấp tim thường không để lại di chứng.

Múa giật Sydeham

Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi, giảm trương lực cơ rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ. Múa giật Sydeham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khoảng 3 tháng sau khi viêm đường hô hấp trên Múa giật Sydeham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2-3 tháng. Cần phải chẩn đoán phân biệt với một số bệnh lý khác như, phản ứng co giật ở một số bệnh, động kinh, rối loạn hành vi tác phong.

Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5-2 cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau khoảng vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

Hồng ban vòng (erythema marginatum): Đây là một loại ban trên da bệnh nhân có màu hồng và khoảng tái ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim

Các dấu hiệu phụ

Sốt thường xảy ra trong giai đoạn cấp; Đau khớp được định nghĩa là chỉ đau khớp chứ không có viêm (sưng, nóng, đỏ); Ngoài ra còn có thể gặp các biểu hiện như đau bụng viêm cầu thận cấp viêm phổi cấp do thấp tim, đái máu, hoặc viêm màng não Đây là những dấu hiệu không nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán thấp tim.

Loại bỏ ngay sự nhiễm liên cầu bằng thuốc kinh điển benzathine Nếu bệnh nhân bị dị ứng với penicillin thì dùng thay bằng erythromycine.

Chống viêm khớp: phải được bắt đầu càng sớm càng tốt ngay khi có chẩn đoán.

Aspirin là thuốc được chọn hàng đầu và hiệu quả nhất. Thường dùng kéo dài từ 4-6 tuần tuỳ thuộc vào diễn biến lâm sàng. Có thể giảm liều dần dần sau 2-3 tuần. Nếu sau khi dùng aspirin 24-36 giờ mà không hết viêm khớp thì cần thiết phải nghĩ đến nguyên nhân khác ngoài thấp tim.

Prednisolone được khuyến cáo dùng cho những trường hợp có kèm viêm tim nặng. Dùng kéo dài 2-6 tuần. Giảm liều dần trước khi dừng.

Một số thuốc giảm viêm chống đau không phải corticoid có thể được dùng thay thế trong một số hoàn cảnh nhất định.

Điều trị múa giật Sydenham: bao gồm các biện pháp nghỉ ngơi tại giường, tránh các xúc cảm, dùng các biện pháp bảo vệ và có thể dùng một số thuốc như: phenobarbital diazepam, haloperidol, hoặc steroid Việc phòng bệnh tiếp tục theo chế độ cũng là biện pháp tránh được tái phát múa giật Sydenham.

Chế độ nghỉ ngơi trong giai đoạn cấp là rất quan trọng, đầu tiên là nghỉ tại giường, sau là vận động nhẹ trong nhà rồi vận động nhẹ ngoài trời và trở về bình thường. Chế độ này tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh.

Điều trị suy tim (nếu có): nghỉ tại giường, thở ôxy, với suy tim trái cấp cho morphin, lợi tiểu. Hạn chế ăn mặn và hạn chế uống nước có thể dùng lợi tiểu. Digixin có thể dùng nhưng phải thận trọng vì quả tim của bệnh nhân thấp tim rất nhạy cảm, nên dùng liều ban đầu bằng nửa liều quy ước.

Vấn đề cực kỳ quan trọng là nhắc nhở bệnh nhân và gia đình sự cần thiết và tôn trọng chế độ phòng thấp tim cấp hai khi bệnh nhân ra viện.

Phòng bệnh thấp tim như thế nào?

Vì thấp tim là do liên cầu gây ra và có thể lây nhiễm nên những biện pháp giáo dục sức khoẻ là rất quan trọng. Hãy giáo dục cho trẻ giữ vệ sinh, không để nhiễm lạnh Nâng cao thể chất cũng là biện pháp quan trọng trong việc chống đỡ bệnh. Một khi trẻ có các dấu hiệu viêm đường hô hấp trên cần được điều trị triệt để và sớm. Nếu có những biểu hiện đau khớp thì cần đưa ngay trẻ đến khám tại các cơ sở y tế.

Phòng bệnh cấp I: Một bước cực kỳ quan trọng trong điều trị thấp tim là loại trừ ngay sự nhiễm liên cầu khuẩn, cũng gọi là chế độ phòng thấp cấp I.

Cần thiết phải điều trị thật sớm nếu có thể khi phát hiện ra nhiễm liên cầu. Penicillin là thuốc lựa chọn hàng đầu vì tính hiệu quả và giá rẻ. Với bệnh nhân dị ứng với

penicillin, thay thế bằng erythromycin uống trong 10 ngày. Có thể dùng marcrolide mới như azithromycin để thay thế rất có tác dụng. Có thể thay thế bằng chế độ khác là dùng cephalosporin dạng uống thế hệ I (cephalexin, cephadroxil) uống trong 10 ngày.

Phòng bệnh cấp II: Phải bắt đầu ngay khi được chẩn đoán thấp tim. Thời gian dùng thuốc luôn là câu hỏi của bệnh nhân và nói chung phụ thuộc vào từng cá thể bệnh nhân. Nên dùng bằng đường tiêm. Chỉ nên dùng đường uống cho các trường hợp ít có nguy cơ tái phát thấp tim hoặc vì điều kiện không thể tiêm phòng được vì tỷ lệ tái phát thấp tim ở bệnh nhân dùng đường uống cao hơn đường tiêm nhiều. Hãy thật kiên trì và tuân thủ theo yêu cầu của bác sĩ vì chỉ một sự chủ quan cũng có thể dẫn tới hậu quả khôn lường sau này mà bạn không còn thời gian để mà hối hận.

Ung Thư Hắc Tố Da Là Gì? Tất Cả Những Điều Bạn Cần Biết Về Nó / 2023

Ung thư hắc tố da là gì?

U tế bào hắc tố, hay còn gọi là ung thư tế bào hắc tố, u hắc tố ác tính. Là một loại ung thư da nguy hiểm nhất khởi đầu từ sự rối loạn của các tế bào hắc tố. Hầu hết các khối u ác tính xuất hiện như nốt ruồi và lan ra các vùng lân cận. Sau đó, các khối u này sẽ xâm lấn đến da, võng mạc, tĩnh mạch, các hạch bạch huyết, cuối cùng di căn đến gan, não, phổi và xương.

Nguyên nhân chính xác của tất cả các u hắc tố không rõ ràng, nhưng tiếp xúc với tia cực tím (UV) từ ánh sáng mặt trời hoặc giường tắm nắng làm tăng nguy cơ phát triển u hắc tố. Hạn chế tiếp xúc với bức xạ UV có thể giúp giảm nguy cơ mắc ung thư da.

Nguy cơ u ác tính dường như đang gia tăng ở những người dưới 40 tuổi, đặc biệt là phụ nữ. Biết các dấu hiệu cảnh báo ung thư da có thể giúp đảm bảo rằng những thay đổi ung thư được phát hiện và điều trị trước khi ung thư lan rộng. Khối u ác tính có thể được điều trị thành công nếu được phát hiện sớm.

Ung thư tế bào hắc tố (Malignant melanoma – MM) chiếm khoảng 5% các ung thư da và khoảng 1% các loại ung thư. Theo nhiều nghiên cứu thì số lượng bệnh nhân ung thư tế bào hắc tố ngày càng tăng. Riêng ở Na Uy và châu Úc, chỉ trong thời gian 10 năm từ 1970 đến 1980 số bệnh nhân bị ung thư tế bào hắc tố đã tăng lên gấp đôi. Theo một số nghiên cứu những năm gần đây, tốc độ tăng của bệnh vẫn duy trì ở mức độ cao trên toàn thế giới, đặc biệt ở châu Úc, Bắc Mỹ và các nước Bắc Âu. Ở Mỹ năm 2006 có 111.900 trường hợp ung thư tế bào hắc tố được phát hiện.

Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ của ung thư hắc tố

Nguyên nhân gây ung thư hắc tố da hiện chưa được sáng tỏ. Tuy nhiên tiếp xúc nhiều với tia UV từ ánh nắng mặt trời là yếu tố nguy cơ chính của bệnh.

Ung thư hắc tố da xảy ra khi các tế bào sản xuất melanin – sắc tố da của cơ thể bị phát triển quá mức không thể kìm hãm, dẫn đến hình thành khối u ác tính. Nguyên nhân là do các tổn thương DNA ở tế bào bình thường. Tuy nhiên tại sao DNA bị tổn thương và dẫn tới hình thành các khối u vẫn chưa được biết rõ.

Thông thường, các tế bào da phát triển một cách có kiểm soát và có trật tự – các tế bào mới khỏe mạnh đẩy các tế bào cũ về phía bề mặt da của bạn, nơi chúng chết đi và cuối cùng rơi ra. Nhưng khi một số tế bào phát triển tổn thương DNA, các tế bào mới có thể bắt đầu phát triển ngoài tầm kiểm soát và cuối cùng có thể tạo thành một khối các tế bào ung thư.

Những gì làm hỏng DNA trong các tế bào da và làm thế nào điều này dẫn đến khối u ác tính hiện vẫn không rõ ràng. Có khả năng đó là sự kết hợp của các yếu tố, bao gồm các yếu tố môi trường và di truyền, gây ra khối u ác tính. Tuy nhiên, các bác sĩ tin rằng việc tiếp xúc với tia cực tím (UV) từ mặt trời và từ giường tắm nắng là nguyên nhân hàng đầu của khối u ác tính ở da.

Yếu tố nguy cơ

Tia UV không phải là nguyên nhân gây ra tất cả các trường hợp ung thư hắc tố, đặc biệt ở các vị trí không tiếp xúc với ánh nắng mặt trời (kẽ tay chân, gan bàn tay, bàn chân…). Điều đó chứng tỏ có nhiều yếu tố nguy cơ khác của ung thư hắc tố, bao gồm:

Da trắng

Có ít các sắc tố (melanin) trên da có nghĩa rằng bạn có ít khả năng bảo vệ khỏi các bức xạ UV hơn. Người tóc vàng, người dễ dàng có các tàn nhang, rám nắng có nguy cơ phát triển ung thư hắc tố hơn người da da đen.

Tiếp xúc với tia cực tím (UV) quá mức

Tiếp xúc với bức xạ tia cực tím, đến từ mặt trời và từ ánh sáng giường tắm nắng, có thể làm tăng nguy cơ ung thư da, bao gồm cả ung thư hắc tố da. Tia UVA và UVB đều gây nguy hiểm cho da, và có thể gây ung thư da, trong đó có ung thư hắc tố. Đặc biệt, khi còn nhỏ, cháy nắng sẽ làm tăng nguy cơ phát triển bệnh. Những người sống ở những nơi có số giờ nắng nhiều như Florida, Hawaii và Australia – thường dễ mắc ung thư da; tại một số địa điểm phía Bắc bán cầu, người dân da sáng cũng có khả năng gặp phải một số dạng ung thư da. Không nên lạm dụng nhuộm da vì nó làm tăng tiếp xúc với tia UV, do đó tăng nguy cơ phát triển ung thư hắc tố và nhiều dạng ung thư da khác

Tiền sử cháy nắng

Cháy nắng là yếu tố thuận lợi đối với ung thư tế bào hắc tố. Hầu hết các trường hợp mắc ung thư tế bào hắc tố đều có tiền sử bị cháy nắng khi còn trẻ. Người ta thấy rằng những người da trắng, làm việc trong văn phòng ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, chỉ bị cháy nắng 1 đến 2 lần trong dịp nghỉ mỗi năm có tỉ lệ mắc bệnh cao.

Sống gần xích đạo hơn hoặc ở độ cao cao hơn

Những người sống gần xích đạo trái đất, nơi các tia mặt trời trực tiếp hơn, sẽ nhận lượng bức xạ UV cao hơn so với những người sống ở vĩ độ cao hơn. Ngoài ra, nếu bạn sống ở độ cao lớn, bạn sẽ tiếp xúc với nhiều bức xạ UV hơn.

Có nhiều nốt ruồi hoặc các nốt ruồi không bình thường

Có nhiều hơn 50 nốt ruồi là yếu tố nguy cơ của ung thư hắc tố. Tương tự, có nhiều các nốt ruồi bất thường cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh. Có hai loại nốt ruồi: nốt ruồi bình thường – những điểm nhỏ màu nâu xuất hiện trong vài chục năm đầu đời, chúng có ở gần như tất cả mọi người – và nốt ruồi không điển hình, còn được gọi là các vết chàm bất thường (dysplastic nevi). Nốt ruồi không điển hình có thể là tiền thân của khối u hắc tố. Tuy nhiên, càng nhiều nốt ruồi (dù là loại bình thường), nguy cơ mắc bệnh càng cao.

Tiền sử gia đình bị ung thư hắc tố

Người có tiền sử gia đình mắc ung thư hắc tố, đặc biệt là người thân thế hệ 1 như bố mẹ, anh chị em có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Tiền sử mắc ung thư da

Một khi bạn đã có khối u ác tính, tỉ lệ tái phát bệnh rất cao. Những người đang có hoặc đã có ung thư biểu mô tế bào đáy (basal cell carcinoma) và ung thư tế bào vảy (squamous cell carcinoma) cũng có nguy cơ tiến triển thành ung thư hắc tố.

Suy giảm hệ miễn dịch

Người có hệ miễn dịch bị suy giảm có nguy cơ ung thư hắc tố da cao hơn. Những người có hệ thống miễn dịch yếu, chẳng hạn như những người đã trải qua cấy ghép nội tạng, có nguy cơ mắc bệnh ung thư da cao hơn.

Hormon

Triệu chứng của ung thư hắc tố

Ung thư hắc tố da có thể biểu hiện ở mọi vị trí trên cơ thể. Chúng thường phát triển trên các vùng tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời như lưng, chân, tay và mặt.

Ung thư hắc tố da cũng có thể xảy ra ở các vùng ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời như gan bàn chân, gan bàn tay và móng tay, đặc biệt ở người có làn da đen.

Các dấu hiệu ban đầu của ung thư hắc tố da:

Thay đổi trên nốt ruồi cũ: Đột ngột thay đổi về hình dáng, kích thước hay chảy máu, ngứa ngáy. Nốt ruồi có màu sẫm dần hoặc có thể loét sùi, đường viền không đều, nham nhở, bất đối xứng.

Xuất hiện nốt tăng sắc tố hoặc khác thường trên da.

Đặc biệt: Ung thư hắc tố không phải luôn bắt đầu từ nốt ruồi có sẵn mà có thể xảy ra ở các vị trí da bình thường khác. Sự khác nhau giữa nốt ruồi bình thường và bất thường:

Dấu hiệu ABCDE

Nốt ruồi, đốm nâu trên da thường vô hại. Tuy nhiên những ai có hơn 100 nốt ruồi trên cơ thể có nguy cơ mắc ung thư hắc tố cao hơn bình thường. Những dấu hiệu bệnh đầu tiên có thể xuất hiện ở một hoặc nhiều nốt ruồi không điển hình. Đó là lý do tại sao việc nhận ra các thay đổi của nốt ruồi là vô cùng quan trọng. Hãy tìm những dấu hiệu ABCDE của căn bệnh ung thư hắc tố và nếu bạn nhận thấy một hoặc nhiều dấu hiệu sau, hãy đến gặp bác sĩ ngay lập tức.

A: Asymmetrical/ Tính bất đối xứng

Nốt ruồi lành tính có dạng đối xứng. Nếu bạn vẽ một đường thẳng qua tâm, nó sẽ chia nốt ruồi thành hai phần bằng nhau. Nếu bạn vẽ một đường thẳng qua nốt ruồi bất thường, hai nửa sẽ tạo hai phần không đối xứng – chính là một dấu hiệu cảnh báo cho khối u ác tính.

B: Borders/ Đường viền

Một nốt ruồi lành tính có bề mặt và viền nhẵn. Trong khi đó, viền của một khối u hắc tố ác tính ở giai đoạn đầu có xu hướng không đồng đều, thường có dạng vỏ sò hoặc có các khe hình chữ V.

C: Color/ Màu

Hầu hết các nốt ruồi lành tính có màu đồng đều – thường là màu nâu. Nốt ruồi nhiều màu là một tín hiệu cảnh báo. Một số sắc thái khác nhau của màu nâu, chàm hoặc đen có thể xuất hiện. Khối u hắc tố cũng có thể chuyển thành màu đỏ, trắng hoặc màu xanh.

D: Diameter/ Đường kính

Nốt ruồi lành tính thường có đường kính nhỏ hơn so với những khối u ác tính. Đường kính u hắc tố thường lớn khoảng ¼ inch hoặc 6mm, nhưng đôi khi chúng trông nhỏ hơn khi phát hiện sớm.

E: Evolving/ Phát triển (mở rộng)

Thông thường, nốt ruồi lành tính không biến đổi theo thời gian. Hãy cảnh giác khi một nốt ruồi bắt đầu phát triển hoặc thay đổi theo bất kỳ cách nào. Những thay đổi về kích thước, hình dạng, màu sắc, độ cao. Các triệu chứng như chảy máu, ngứa hoặc đóng vảy đều là những dấu hiệu nguy hiểm.

Ung thư tế bào hắc tố nông

Thể này thường gặp ở người da trắng (chiếm 70% ung thư tế bào hắc tố ở người da trắng), lứa tuổi từ 40 đến 50. Tổn thương xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào của cơ thể. Tuy nhiên, phụ nữ thường bị ở cẳng chân và nam giới lại gặp nhiều ở lưng. Lúc đầu tổn thương có màu nâu xen kẽ màu xanh, bờ không đều, kích thước nhỏ và phẳng sau tiến triển lan rộng ra xung quanh, để lại sẹo teo hoặc nhạt màu ở giữa. Sau một thời gian tổn thương trở nên dày, xuất hiện các nốt, cục, loét, chảy máu. Một đặc điểm nổi bật của ung thư tế bào hắc tố là hiện tượng màu sắc không đồng nhất với sự xen kẽ giữa màu nâu và màu đen hay màu xám ở tổn thương.

Những nốt ruồi không điển hình thường xuất hiện từ bé hay trong quá trình phát triển của cơ thể, kích thước nhỏ, giới hạn không rõ với da lành. Điều đặc biệt là chúng có thể hư biến thành ung thư tế bào hắc tố. Chúng ta có thể xác định mức độ lành tính hay đã hư biến của thương tổn bằng dermatoscope (một dụng cụ có độ phóng đại trên 10 lần, giúp cho chúng ta có thể phát hiện ung thư tế bào hắc tố giai đoạn sớm dựa vào những thay đổi về sắc tố của tồn thương). Trường hợp nghi ngờ, nên phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tổn thương và làm xét nghiệm mô bệnh học để xác định.

Ung thư tế bào hắc tố thể u

Thể này thường hay gặp ở lứa tuổi 50 đến 60 tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ.

Thương tổn là những u nhỏ, nồi cao trên mặt da, hình vòm đôi khi có cuống, thường có màu nâu đỏ. Thương tổn có thể loét, dễ chảy máu, hay tăng sắc tố rải rác trên bề mặt. Thương tổn hay gặp ở thân mình, tuy nhiên có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể. Bệnh tiến triển nhanh nên thường được chẩn đoán muộn hơn so với thể nông bề mặt và có tiên lượng xấu.

Ung thư tế bào hắc tố Dubreuilh

Loại ung thư này thường gặp ở người nhiều tuổi. Thương tổn là các dát màu nâu hay đen hình dạng không đều. Các dát này thường xuất hiện ở vùng da hở như má, thái dương và trán. Thương tổn tiến triển lâu nhiều tháng, nhiều năm có xu hướng lan rộng ra xung quanh đôi khi lành ở giữa, sau đó xuất hiện u ở trên tổn thương, báo hiệu sự xâm lấn sâu xuống phía dưới.

Các thể khác của ung thư tế bào hắc tố

Thể đầu chi

Thương tổn thường gặp ở lòng bàn tay, bàn chân, đặc biệt là ở gót chân (chiếm 50% ung thư tế bào hắc tố ở bàn chân). Khởi đầu là một vùng da tăng sắc tố màu sắc không đồng nhất, màu nâu xen kẽ màu đen xám, giới hạn khồng rõ ràng, không đau, không ngứa. Thương tổn lan rộng ra xung quanh, có thể loét hay xuất hiện các khối u nổi cao. Một số tác giả cho rằng nốt ruồi ở một số vị trí dễ sang chấn như bàn tay, bàn chân hay vùng cạo râu dễ bị hư biến thành ung thư tế bào hắc tố và khuyên nên cắt bỏ sớm những nốt ruồi ở những vị trí này.

Thể dưới móng

Ung thư tế bào hắc tố dưới móng biểu hiện bàng các thương tổn tăng sắc tố không đều, chiếm một phần hay toàn bộ nền của móng. Thương tổn có thề lan sang phần da phủ móng. Ung thư tế bào hắc tố dưới móng thường được chẩn đoán muộn vì dễ nhầm với các bệnh khác như nốt ruồi dưới móng, xuất huyết do sang chấn, viêm quanh móng, nhiễm nấm, hạt cơm dưới móng. Do vậy, với bất kỳ một thương tổn tăng sắc tố dưới móng, phải được khám kỹ, nhất là với những thương tổn lan hết chiều dài của móng.

Thể niêm mạc

Ung thư tế bào hắc tố có thể thấy ở niêm mạc miệng, sinh dục, quanh hậu môn, nhưng hiếm gặp. Thương tổn thường là mảng da tăng sắc tố, tiến triển nhanh chóng lan ra xung quanh, nhưng cũng có thể phát triển rất chậm nhiều năm trước khi nổi cao trên mặt da. Đối với tất cả những thương tổn tăng sắc tố ở niêm mạc, cần làm sinh thiết mặc dù về mặt lâm sàng chưa có biểu hiện ác tính.

Ung thư tế bào hắc tố phát triển từ nốt ruồi

Trên 50% các trường hợp ung thư tế bào hắc tố xuất hiện ở vùng da bình thường. Tuy nhiên, ung thư tế bào hắc tố có thể xuất phát từ những tổn thương sắc tố (nốt ruồi, bớt sắc tố bẩm sinh). Bệnh nhân càng có nhiều nốt ruồi không điển hình càng có nguy cơ biến thành ung thư tế bào hắc tố. Những bệnh nhân có nốt ruồi không điển hình mà không có tiền sử gia đình có người mắc ung thư tế bào hắc tố thì nguy cơ hư biến cao gấp 80 lần so với người bình thường và những người có các nốt ruồi không điển hình kết hợp với có tiền sử gia đình có người bị ung thư tế bào hắc tố thì nguy cơ này tăng lên từ 100 đến 400 lần. Do vậy, cần theo dõi sự tiến triển của các nốt ruồi. Trong trường hợp nốt ruồi có những thay đổi, cần phẫu thuật cắt bỏ và nên theo dõi 3 đến 6 tháng một lần. Trường hợp cần thiết có thể chụp ảnh để dễ so sánh.

Ung thư tế bào hắc tố ở mắt

Thường xuất hiện ở lớp hắc mạc. Người bệnh có thay đổi thị lực (nhìn mờ) khi có ung thư hắc tố ở mắt, có thể chẩn đoán qua khám mắt.

Chẩn đoán ung thư hắc tố

Sàng lọc ung thư da

Tự sàng lọc ung thư da: Tự khám da giúp chúng ta hiểu rõ được các nốt ruồi, các tàn nhang… trên cơ thể do đó có thể phát hiện sớm các thay đổi của chúng. Khám toàn diện các vị trí: thân mình, lưng, tay và chân. Ngoài ra kiểm tra các vị trí ít chú ý đến như: Móng chân, móng tay, gan bàn chân, kẽ các ngón chân, ngón tay, háng và da đầu.

Sàng lọc ung thư da tại cơ sở y tế: Các bác sỹ sẽ khám toàn bộ các vị trí nghi ngờ.

Các biện pháp chẩn đoán ung thư da

Ung thư hắc tố da được phát hiện bằng khám da tuy nhiên bệnh chỉ có thể được khẳng định qua sinh thiết tổn thương. Các phương pháp sinh thiết tổn thương:

Sinh thiết khoan bằng dụng cụ bấm (Punch biopsy)

Sinh thiết trọn tổn thương (Excisional biopsy)

Sinh thiết một phần tổn thương (Incisonal biopsy)

Lựa chọn phương pháp sinh thiết phụ thuộc vào đặc điểm khối u. Sinh thiết khoan bằng dụng cụ bấm và sinh thiết trọn tổn thương được khuyến cáo hơn vì có thể lấy hết các tổn thương nếu cần thiết. Tuy nhiên trong trường hợp tổn thương lớn cần áp dụng sinh thiết một phần tổn thương.

Điều trị ung thư tế bào hắc tố

Ung thư hắc tố có chữa được không? Bệnh có thể chữa khỏi thành công nếu được chẩn đoán và điều trị sớm. Cách điều trị ung thư hắc tố da phụ thuộc và giai đoạn và thể trạng của bệnh nhân.

Giai đoạn sớm

Với các ung thư hắc tố da giai đoạn sớm điều trị là phẫu thuật loại bỏ tổn thương.

Trong hầu hết các trường hợp, phẫu thuật khối u hắc tố mới có thể được thực hiện tại phòng mổ của bác sĩ hoặc như là một quy trình ngoại trú gây tê tại chỗ. Chỉ khâu vẫn được giữ nguyên trong 1-2 tuần, và hầu hết các bệnh nhân được khuyên nên tránh những bài tập nặng trong thời gian này. Phẫu thuật để lại sẹo nhỏ và cải thiện theo thời gian bằng cách sử dụng mỹ phẩm phù hợp.

Phẫu thuật cắt bỏ (Surgical excision) sử dụng để điều trị tất cả các dạng ung thư da. Đây là phương pháp cho hiệu quả y học cũng như thẩm mỹ.

Các bác sĩ bắt đầu bằng việc khoanh vùng các khối u với một cây bút đánh dấu và sau đó tiến hành gây tê cục bộ và cắt dọc theo đường đã vẽ. Toàn bộ quy trình mất khoảng ba mươi phút cho các tổn thương nhỏ.

Vết thương lành nhanh chóng, thường là trong một hoặc hai tuần. Sẹo hình thành phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm vị trí của khối u và quá trình chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật.

Các mẫu mô này sẽ được gửi đến một phòng thí nghiệm, để kiểm tra liệu “ngưỡng an toàn” có bị xâm chiếm bởi khối u. Nếu trường hợp này xảy ra, rất có thể khối u vẫn còn hiện diện, và cần phẫu thuật bổ sung. Đôi khi, phẫu thuật Mohs micrographic là một lựa chọn tốt vào thời điểm này.

Các tổn thương rất nhỏ có thể được loại bỏ hoàn toàn trong quá trình sinh thiết và không yêu cầu điều trị thêm.

Giai đoạn lan tràn

Phẫu thuật: Bao gồm phẫu thuật tổn thương và các hạch bạch huyết vùng để phòng ngừa tái phát và di căn xa.

Hóa chất: Sử dụng thuốc hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư.

Xạ trị: Bổ trợ sau phẫu thuật. Có thể sử dụng xạ trị triệu chứng.

Liệu pháp miễn dịch: Giúp hệ miễn dịch của cơ thể có thể tiêu diệt các tế bào ung thư. Một số miễn dịch đã được cấp phép sử dụng tại Việt Nam như Pembrolizumab (Keytruda).

Phòng ngừa ung thư hắc tố

Bạn có thể giảm nguy cơ bị khối u ác tính và các loại ung thư da khác nếu bạn:

Tránh ánh nắng mặt trời vào giữa ngày

Đối với nhiều người ở Bắc Mỹ, các tia nắng mặt trời mạnh nhất trong khoảng 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Dời lịch trình các hoạt động ngoài trời vào các thời điểm khác trong ngày, ngay cả trong mùa đông hoặc khi trời nhiều mây.

Bạn hấp thụ bức xạ UV quanh năm và các đám mây bảo vệ rất ít khỏi các tia gây hại. Tránh ánh nắng mặt trời mạnh nhất giúp bạn tránh được những vết cháy nắng và nắng nóng gây tổn thương da và tăng nguy cơ phát triển ung thư da. Phơi nắng tích lũy theo thời gian cũng có thể gây ung thư da.

Sử dụng kem chống nắng quanh năm

Kem chống nắng không lọc được tất cả các bức xạ tia cực tím có hại, đặc biệt là bức xạ có thể dẫn đến khối u ác tính. Nhưng chúng đóng một vai trò quan trọng trong chống nắng tổng thể.

Sử dụng kem chống nắng phổ rộng có SPF ít nhất là 30. Thoa kem chống nắng lượng đủ nhiều và bôi lại sau mỗi hai giờ – hoặc thường xuyên hơn nếu bạn đang bơi hoặc đổ mồ hôi. Học viện Da liễu Hoa Kỳ khuyên bạn nên sử dụng kem chống nắng phổ rộng, chống nước với chỉ số SPF ít nhất là 30.

Mặc quần áo bảo hộ

Kem chống nắng không cung cấp sự bảo vệ hoàn toàn khỏi tia UV. Vì vậy, hãy che phủ làn da của bạn bằng quần áo dệt tối màu, che kín cánh tay và chân của bạn và một chiếc mũ rộng vành, giúp bảo vệ nhiều hơn mũ lưỡi trai. Đừng quên kính râm. Hãy tìm những loại chặn cả hai loại bức xạ UV – tia UVA và UVB.

Tránh giường tắm nắng

Giường tắm nắng phát ra tia UV và có thể làm tăng nguy cơ ung thư da.

Làm quen với làn da của bạn để bạn nhận thấy những thay đổi

Kiểm tra làn da của bạn thường xuyên để phát hiện các sự thay đổi mới của da hoặc thay đổi trong các nốt ruồi, tàn nhang, vết sưng và vết bớt hiện có.

Với sự trợ giúp của gương, kiểm tra khuôn mặt, cổ, tai và da đầu của bạn. Kiểm tra ngực và thân của bạn, mặt dưới của cánh tay và bàn tay của bạn. Kiểm tra cả mặt trước và mặt sau của chân và bàn chân của bạn, bao gồm cả gót chân và khoảng trống giữa các ngón chân. Cũng đừng quên kiểm tra khu vực sinh dục của bạn và giữa mông.

Những Điều Cần Biết Về Xạ Trị Ung Thư Vú / 2023

Bài viết được tham vấn chuyên môn bởi các bác sĩ làm việc tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park Xạ trị là một phương pháp điều trị rất chuyên khoa và là phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh nhân ung thư vú. Bác sĩ sẽ lên kế hoạch điều trị rất chi tiết cho từng bệnh nhân, tùy thuộc vào loại ung thư, giai đoạn ung thư và các phương pháp điều trị khác (nếu có) mà bệnh nhân đang nhận.

Xạ trị là việc sử dụng tia X năng lượng cao để điều trị ung thư. Các tia năng lượng cao có kiểm soát được phát ra từ một cỗ máy gọi là máy gia tốc tuyến tính, có thể phá hủy và tiêu diệt các tế bào ung thư trong vùng cơ thể được điều trị.

Xạ trị cũng ảnh hưởng đến các tế bào bình thường trong vùng điều trị, nhưng những tế bào này thường có thể phục hồi sau điều trị. Xạ trị thường được thực hiện trong một khoảng thời gian để việc điều trị có tác dụng lớn nhất trong tiêu diệt tế bào ung thư, đồng thời hạn chế thiệt hại cho các tế bào bình thường.

Xạ trị cũng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các ống phóng xạ được đưa vào khu vực bị ung thư, gọi là xạ trị áp sát hoặc xạ trị trong.

Xạ trị là một phương pháp điều trị rất chuyên khoa và là phương pháp điều trị phổ biến cho bệnh nhân ung thư vú. Bác sĩ sẽ lên kế hoạch điều trị rất chi tiết cho riêng bạn, tùy thuộc vào loại và giai đoạn ung thư và các phương pháp điều trị khác (nếu có) mà bạn đang nhận. Hãy nhớ rằng mỗi bệnh nhân có phác đồ điều trị khác nhau, vì vậy bạn không nên so sánh kế hoạch điều trị của bạn với các bệnh nhân khác.

Trong hầu hết các trường hợp, xạ trị được chỉ định sau phẫu thuật. Điều này làm giảm nguy cơ ung thư quay trở lại bằng cách loại bỏ bất kỳ tế bào ung thư nào có thể vẫn còn sót lại trong khu vực. Nếu bạn có một khối u đã được cắt bỏ, rất có thể bạn sẽ nhận được chỉ định xạ trị đối với các mô vú còn lại.

Nếu bạn đã phẫu thuật cắt bỏ vú (cắt bỏ toàn bộ vú), nhưng khối u lớn hoặc tế bào ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết dưới cánh tay, bạn có thể được xạ trị vùng thành ngực.

Bạn có thể xạ trước, hóa sau; hóa trước, xạ sau; hoặc hóa – xạ đồng thời. Bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ phù hợp nhất với từng loại bệnh và tình trạng của bệnh nhân.

Trong những tình huống như thế, mức độ điều trị ung thư vú bằng xạ trị sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân của bạn. Thông thường, việc điều trị sẽ được đưa ra trong một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều.

Đôi khi, bạn có thể được xạ trị để giảm kích thước khối u lớn trước khi phẫu thuật.

Thời gian điều trị phụ thuộc vào tình trạng của bạn và các phương pháp điều trị khác có thể được đưa ra trước. Xạ trị thường diễn ra hàng ngày, từ thứ Hai đến thứ Sáu, trong khoảng từ 5 đến 6 tuần.

Đầu tiên, bạn sẽ gặp chuyên gia xạ trị (bác sĩ xạ trị) trong Khoa Ngoại trú để được tư vấn về việc điều trị của bạn. Một cuộc hẹn tiếp theo sẽ được thực hiện để lên kế hoạch điều trị. Sau đó bạn sẽ được xác nhận một ngày cụ thể để bắt đầu.

Xạ trị là một phương pháp điều trị chuyên biệt. Bạn thường được điều trị như một bệnh nhân ngoại trú. Nếu gặp trục trặc trong lịch hẹn, hãy thông báo trước với nhân viên xạ trị.

Điều quan trọng là việc điều trị của bạn phải được tiếp tục đúng kế hoạch và bạn đừng bỏ lỡ bất kỳ cuộc hẹn nào. Ví dụ, nếu bạn có một kỳ nghỉ được đặt trước, hãy nói với bác sĩ xạ trị đang điều trị cho bạn để có thể sắp xếp lại lịch hẹn, nếu có thể.

Mỗi ngày nhân viên điều trị sẽ hỏi thăm sức khỏe xem bạn thế nào. Nếu bạn có bất kỳ vấn đề gì, hãy nói chuyện với bác sĩ xạ trị hoặc điều dưỡng của bạn. Một cuộc hẹn có thể được sắp xếp với bác sĩ hoặc điều dưỡng chăm sóc vú của bạn, nếu cần. Xạ trị không làm bạn nhiễm phóng xạ nên việc tiếp xúc gần gũi với người khác là an toàn trong quá trình điều trị, nhiều người vẫn tiếp tục làm việc trong quá trình điều trị.

Việc điều trị của bạn được lên kế hoạch riêng, vì vậy đừng so sánh địa điểm điều trị và số lần điều trị với những bệnh nhân khác. Lập kế hoạch điều trị, còn được gọi là mô phỏng, tìm ra khu vực chính xác cần điều trị, sử dụng liều phóng xạ phù hợp nhất, đồng thời gây ra ít tác dụng phụ nhất có thể xảy ra.

Mô phỏng có nghĩa là lập kế hoạch điều trị bằng xạ trị cho bạn. Một máy X-quang đặc biệt gọi là máy mô phỏng được sử dụng để lập kế hoạch điều trị cho bạn. Bạn sẽ được mời đến trung tâm xạ trị để cùng lên kế hoạch này.

Bạn có thể có chút lo lắng khi lần đầu tiên đến trung tâm xạ trị. Vào ngày đó, hãy cố gắng mang theo một người thân thiết để bạn có tâm lý tốt hơn. Bạn nên chọn áo ngực và áo ngoài cũ vì mực đánh dấu trên vùng sẽ được xạ trị có thể làm ố nội y của bạn, những vết mực này có thể khó loại bỏ trên y phục.

Mô phỏng không làm bạn đau. Tuy nhiên, bạn sẽ nằm trên một chiếc bàn cứng trong một căn phòng có máy móc phía trên, điều này có thể gây khó chịu. Bạn sẽ phải cởi một phần y phục để lộ da vùng vú. Phiên mô phỏng của bạn có thể kéo dài từ nửa giờ đến một giờ. Trong thời gian này, bạn cần nằm yên trong khi các chuyên gia và bác sĩ xạ trị chụp một số tia X và tính toán liều lượng. Một số mô phỏng có thể sử dụng CT mô phỏng thay vì chụp X-quang để lên kế hoạch điều trị

Ở một số giai đoạn bạn sẽ ở một mình trong phòng nhưng bạn có thể được nhìn thấy và nghe thấy mọi lúc qua màn hình từ xa. Khu vực cơ thể bạn được điều trị có thể được đánh dấu bằng một điểm đánh dấu màu hồng hoặc tím hoặc dấu xăm vĩnh viễn. Nếu một điểm như thế đã được đánh dấu, bạn đừng xóa nó và hãy quay trở lại trung tâm xạ trị để đánh dấu lại nếu bạn thấy dấu ấy bị mờ đi. Biện pháp xăm da vĩnh viễn có thể được chỉ định sử dụng, tuy nhiên, bạn yên tâm vì dấu ấy rất nhỏ và thường có màu xanh hoặc đen. Các hình xăm sẽ tồn tại trên khu vực này suốt đời, nhưng chúng không gây đau đớn và hầu như không đáng chú ý.

Khi đến để xạ trị, bạn sẽ được đề nghị cởi áo đến thắt lưng và nằm trên bàn điều trị. Chuyên gia xạ trị sẽ định vị bạn để bạn ở cùng một vị trí mỗi lần xạ trị. Một lần nữa, bạn sẽ ở trong phòng một mình, nhưng chuyên gia xạ trị có thể nhìn thấy và nghe thấy bạn mọi lúc từ màn hình bên ngoài. Bạn cũng có thể nói chuyện với nhân viên thông qua một máy liên lạc.

Khi đã ở đúng vị trí, bạn sẽ được yêu cầu nằm yên và hít thở bình thường.

Chuyên gia xạ trị sẽ định vị máy theo các góc khác nhau để hướng chùm tia đến các khu vực cần thiết. Bạn sẽ không cảm thấy đau trong quá trình thực hiện xạ trị, nhưng bạn có thể cảm thấy một vài khó chịu ở cánh tay (như tê tay chẳng hạn) vì bạn phải giữ nó ở cùng một vị trí trong suốt quá trình điều trị.

Tuy nhiên, việc điều trị chỉ kéo dài vài phút. Khi kết thúc, bạn mặc áo trở lại và bác sĩ sẽ cho một cuộc hẹn lần sau. Việc này sẽ trở thành thói quen cho đến khi kế hoạch điều trị kết thúc. Kỹ thuật viên xạ làm việc rất chặt chẽ với các bác sĩ và nhân viên khác trong đơn vị. Họ có thể cung cấp cho bạn sự giúp đỡ và lời khuyên về bất kỳ khía cạnh nào trong việc điều trị của bạn. Nếu bạn lo lắng hoặc phân vân về điều gì đó, hãy tư vấn họ. Ngay cả khi bạn cảm thấy xấu hổ, họ sẽ rất vui lòng tư vấn cho bạn một cách chuyên nghiệp.

Xạ trị có thể gây ra một vài tác dụng phụ. Tác dụng phụ xảy ra vì xạ trị ảnh hưởng đến các tế bào bình thường trong khi tiêu diệt các tế bào ung thư. Tác dụng phụ thường giới hạn trong khu vực cơ thể được điều trị. Các tế bào bình thường có thể phục hồi dù có thể bị hư hại trong thời gian ngắn hoặc dài hạn do ảnh hưởng của bức xạ.

Hầu hết các tác dụng phụ của xạ trị là tạm thời, nhưng một số có thể vĩnh viễn. Một số tác dụng phụ thậm chí có thể xảy ra vài tháng hoặc nhiều năm sau khi điều trị. Mỗi cơ thể phản ứng khác nhau với điều trị, nhưng tác dụng phụ nhất định là phổ biến hơn so với những người khác.

Thay đổi da

Một phản ứng da trong hoặc sau khi xạ trị vú có thể phát triển. Mức độ của phản ứng này sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm liều điều trị và độ nhạy cảm làn da của bạn. Bạn có thể cảm thấy đau và ngứa da ở vùng điều trị 10 – 14 ngày sau khi việc điều trị bắt đầu. Da của bạn có thể bong ra khi tiếp tục điều trị và có thể trở nên đỏ, đau và khô.

Sau khi kết thúc xạ trị, các tác động trên da của bạn có thể tiếp tục xấu đi trong khoảng một tuần sau đó. Da của từng người phản ứng khác nhau với bức xạ. Da của bạn có thể bị đau, trong khi người khác không bị ảnh hưởng. Đội ngũ chăm sóc sức khỏe cho bạn sẽ kiểm tra làn da của bạn thường xuyên và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp cho bất kỳ phản ứng phụ nào.

Đau hoặc khó chịu

Bạn có thể bị đau và sưng ở vùng vú ngay lúc xạ hoặc sau đó. Những triệu chứng này có thể tiếp tục trong một thời gian sau khi điều trị kết thúc. Nếu điều trị bao gồm trung tâm hoặc khu vực xương đòn, một khu vực nhỏ nơi cổ họng của bạn (thực quản) có thể bị ảnh hưởng. Điều này có thể gây ra chứng ợ nóng và khó chịu, nhưng thường được cải thiện khi dùng thuốc được kê toa bởi bác sĩ điều trị.

Mệt mỏi

Trong những tuần bạn đang được điều trị, cơ thể bạn sử dụng rất nhiều năng lượng, do đó bạn có thể cảm thấy mệt mỏi hơn bình thường, đặc biệt khi điều trị tiếp tục. Sự căng thẳng trong quá trình tư vấn, khám, chẩn đoán ung thư và hành trình đến bệnh viện đều có thể làm tăng thêm sự mệt mỏi này. Nghiên cứu cho thấy sự cân bằng giữa tập thể dục và nghỉ ngơi có thể giúp giảm cảm giác mệt mỏi này. Một chế độ ăn uống lành mạnh và không khí trong lành cũng có thể hỗ trợ bạn rất nhiều.

Tác dụng phụ khác

Đôi khi một phần phổi phía sau khu vực xạ trị bị viêm. Điều này có thể gây ho khan hoặc khó thở, nhưng thường cơ thể tự chữa lành.

Nếu bạn là một phụ nữ trẻ đang cho con bú, có lẽ bạn sẽ không thể cho con bú bên vú đang được điều trị.

Một số tác dụng phụ có thể không xuất hiện cho đến khi việc điều trị kết thúc. Chúng được gọi là tác dụng phụ muộn. Một số tác dụng phụ muộn có thể nghiêm trọng và vĩnh viễn. Xạ trị vùng vú và nách đôi khi tạo ra các mô cứng, gọi là xơ hóa và gây ra bởi sự tích tụ mô sẹo. Nếu tình trạng xơ hóa vú trở nên nghiêm trọng, vú có thể trở nên nhỏ hơn và cứng hơn rõ rệt.

Tránh sử dụng bất kỳ loại nước hoa, chất khử mùi, băng, kem hoặc nước thơm nào trên vùng được điều trị trừ khi nhân viên xạ trị khuyên nên làm như vậy.

Rửa nhẹ vùng được điều trị bằng nước ấm, trong bồn tắm hoặc vòi hoa sen, và lau khô bằng khăn mềm. Không chà xát khu vực được chiếu xạ. Một số bệnh viện có thể cho phép bạn sử dụng xà phòng nhẹ, không mùi.

Tránh để khu vực được điều trị tiếp xúc với ánh sáng mặt trời trực tiếp trong một năm sau khi điều trị. Khi điều trị xong, da ở vùng được điều trị sẽ có nguy cơ phỏng nắng cao hơn, vì vậy điều quan trọng là giữ cho khu vực này được che chắn hoặc thường xuyên bôi kem chống nắng. Trong khi điều trị, bạn nên tránh các liệu pháp nhiệt độ cao, chẳng hạn như miếng giữ nhiệt, phòng xông hơi, chai nước nóng hoặc túi lạnh.

Áo lót bằng vải cotton mềm hoặc áo khoác sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái. Bạn cũng có thể thấy thoải mái hơn khi không mặc áo ngực trong một thời gian sau khi điều trị.

Nếu bạn mang vú giả, bạn có thể thấy loại mềm nhẹ tốt hơn loại silicon của bạn.

Một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh với nhiều chất lỏng có thể giúp cơ thể bạn đối phó với các tác động của việc điều trị tốt hơn.

Cố gắng đừng quá kỳ vọng vào bản thân trong quá trình điều trị vì mức năng lượng của bạn sẽ thấp.

Không nên bơi trong nước clo (có nhiều trong các hồ bơi công cộng) trong quá trình điều trị và trong 3 đến 4 tuần sau khi kết thúc điều trị.

Nếu bạn thấy có phản ứng da, đừng quá lo lắng, nó sẽ được chữa lành hoàn toàn khoảng 4 tuần sau khi điều trị. Nhân viên điều dưỡng tại trung tâm xạ trị sẽ tư vấn cho bạn cách chăm sóc da tốt nhất.

Bạn cũng có thể nhận thấy các mạch máu nhỏ, giãn dưới da. Xơ hóa nghiêm trọng cũng có thể chặn dẫn lưu bạch huyết cánh tay của bạn và gây ra sưng phù gọi là phù bạch huyết sau điều trị ung thư vú ở cánh tay.

Nếu bạn nhận thấy bất kỳ sự sưng phù nào nơi cánh tay, bàn tay hoặc vú, hãy đề nghị được giới thiệu đến một nhà trị liệu chuyên nghiệp để điều trị.

Các tác dụng phụ muộn khác

Các tác dụng phụ khác có thể xảy ra sau này bao gồm:

Điểm yếu của xương trong khu vực, ví dụ, xương sườn và xương đòn của bạn;

Tổn thương dây thần kinh ở cánh tay, có thể gây ngứa ran, tê, đau, yếu và có thể mất một số cử động;

Xơ phổi trên của bạn, có thể gây ho khan và khó thở.

Nếu bạn đang lên kế hoạch tái tạo vú, xạ trị vú có thể ảnh hưởng đến các loại tái tạo vú mà bạn có thể có. Một số hình thức tái tạo vú dung nạp xạ trị tốt hơn các hình thức khác. Bác sĩ và điều dưỡng chăm sóc vú của bạn sẽ cung cấp cho bạn thêm thông tin hữu ích.

Da của bạn cũng có thể cảm thấy khô sau khi xạ trị. Trong trường hợp này, sử dụng kem dưỡng ẩm theo khuyến nghị của chuyên gia xạ trị có thể cải thiện tình hình. Mô vú nơi được điều trị có thể cảm thấy săn chắc hơn trước. Điều quan trọng cần lưu ý là những gì bình thường đối với bạn.

Mặc dù hoàn thành xạ trị thường là một niềm hy vọng, nhiều người vẫn cảm thấy khá dễ bị tổn thương. Có thể phải mất một thời gian trước khi bạn cảm thấy quay trở lại nhịp độ bình thường.

Cố gắng đừng quá kỳ vọng vào bản thân trong những ngày đầu và vài tuần sau khi điều trị. Bạn có thể cảm thấy mệt mỏi một thời gian, nhưng dần dần bạn sẽ bắt đầu cảm thấy tốt hơn. Đối với một số người, việc này có thể mất vài tháng và đôi khi lên đến một năm

Bạn sẽ được chỉ định theo dõi thường xuyên để kiểm tra tiến độ phục hồi sức khỏe. Nhưng nếu bất cứ lúc nào bạn có mối quan tâm hoặc lo lắng, hãy liên hệ với chuyên gia xạ trị để có thể sắp xếp một cuộc hẹn sớm hơn cho bạn.

Khi đang xạ trị, bạn có thể cảm thấy tinh thần khá buồn bã, sợ hãi hoặc khó điều chỉnh với những gì đang xảy ra với mình. Sợ những điều chưa biết là nỗi sợ phổ biến, bình thường của con người, vì vậy tìm hiểu càng nhiều càng tốt về việc điều trị có thời điểm nào trong hoặc sau khi điều trị, hãy nhớ rằng bạn không hề cô đơn. Có rất nhiều người xung quanh có thể giúp thể giúp bạn làm chủ bản thân tốt hơn. Bạn có thể thấy hữu ích khi đến thăm trung tâm xạ trị trước, vì bạn sẽ hiểu rõ những gì có thể mong đợi. Nếu bạn đang cảm thấy tâm trạng xuống thấp, mệt mỏi, lo lắng hoặc khóc tại bất kỳ bạn, trong đó có đội ngũ y tế đang chữa trị cho bạn. Hãy cố gắng cho người khác biết bạn đang cảm thấy thế nào, đặc biệt là gia đình và bạn bè, để họ có thể hỗ trợ bạn.

Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park được xây dựng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế, sử dụng mô hình tiếp cận đa chuyên khoa trong chẩn đoán, lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân, góp phần chăm sóc người bệnh toàn diện. Trung tâm Ung bướu Vinmec Central Park có những ưu điểm vượt trội trong điều trị ung thư như:

Vinmec Hội tụ các chuyên gia giỏi về xạ trị, hóa trị, phẫu trị, được trang bị các phương tiện hiện đại.

Hệ thống lập kế hoạch xạ trị và Máy xạ trị Truebeam hiện đại nhất Đông Nam Á, với ưu thế vượt trội giảm thiểu ảnh hưởng của tia xạ lên các mô lành tính so với tia X, giảm thời gian chiếu xạ và nguy cơ tác dụng phụ đối với người bệnh.) giúp điều trị hiệu quả các bệnh ung thư phổ biến: Phổi, Đầu mặt cổ, vú….

Là bệnh viện đầu tiên tại TPHCM áp dụng liệu pháp miễn dịch tự thân, Bệnh viện Vinmec Central Park có thể điều trị ung thư với các phác đồ điều trị ung thư đa mô thức phù hợp với từng trường hợp, đem lại hiệu quả điều trị cao, cung cấp thêm 1 địa chỉ khám và điều trị ung thư tin cậy cho người dân tại TPHCM và các khu vực lân cận, để người dân không phải ra nước ngoài điều trị.

Để tìm hiểu kỹ hơn về xạ trị điều trị ung thư tại Vinmec, Quý khách có thể liên hệ HOTLINE: 0938.506.009 hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY

XEM THÊM:

Cập nhật thông tin chi tiết về Tất Cả Những Điều Cần Biết Về Xạ Trị Ung Thư / 2023 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!