Xu Hướng 2/2024 # Phân Biệt Mụn Thông Thường Và Khối U Ung Thư # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Biệt Mụn Thông Thường Và Khối U Ung Thư được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một bé gái ở Ấn Độ đang trong tình trạng nguy kịch khi bố mẹ em nghĩ mãn chỉ là mụn nhọt thông thường. Tới khi bệnh tình của em được phát hiện ra thì đã vượt tầm kiểm soát của các bác sĩ.

Trong một tình huống ngược lại, bà mẹ trẻ người Mỹ khi thấy màu mắt của cậu con trai 2 tuổi trong bức ảnh khác lạ đã cảm thấy vô cùng lo lắng. Người mẹ tìm hiểu thông tin sau đó đưa con đi khám và phát hiện ra cậu bé bị ung thư nguyên bào võng mạc. Khối u đã được các bác sĩ khẩn trương lấy ra khỏi mắt của cậu bé, tình hình khả quan hơn rất nhiều vì mẹ của bé đã phát hiện kịp thời.

Bất kỳ sự điều trị chậm trễ nào cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng, đặc biệt là khi chủ quan hoặc không có kiến thức để nhận biết dấu hiệu của bệnh.

Bé gái Ấn Độ rơi vào tình trạng nguy kịch khi bố mẹ em nhầm lẫn khối u ung thư và mụn nhọt thông thường.

Mụn nhọt là viêm nang lông do tụ cầu trùng, tiến triển tạo thành ổ áp xe nóng và hóa mủ; ung thư da là một tình trạng phát triển bất thường của tế bào da.

Vì sao cần phân biêt sớm ung thư da và nhọt mụn?

Khối u da thường lành tính, có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện sớm. Cho nên khi bị mụn nhọt trên 1 tháng chưa lành, cần cảnh giác nghĩ tới ung thư da để khám xác định và điều trị tích cực, tránh biến chứng.

Nếu bị ung thư da mà cho là nhọt mụn lâu lành, không chữa trị đúng cách, tẩm đắp các loại thuốc không chất lượng có thể gây nguy hiểm tới tính mạng.

Các dấu hiệu phân biệt

– Yếu tố thời gian:

Nhọt mụn hoặc chốc lở xuất hiện nhanh, đột ngột. Một vùng da sưng nóng đỏ, hóa mủ nhanh, tiến triển thành ổ áp xe, tự vỡ mủ, hoặc do chích tháo mủ, và khỏi sau 1-2 tuần. Tuy nhiên có một số trường hợp nhọt tồn tại lâu hàng tháng (nhọt bọc) là nhọt ở sâu lớp dưới da, không tự vỡ, khối nhọt bọc này mềm ở giữa xung quanh có nền xâm nhập cứng.

Ung thư da xuất hiện từ từ với các dấu hiệu cảnh báo là sự thay đổi màu sắc bất thường ở da, sau đó nổi sần lên và hình thành u cục.

– Hình dạng, màu sắc khối u:

Nhọt mụn có hình dạng đầu nhọn tương đối tròn và cân đối, (trừ trường hợp mọc thành cụm liền nhau). Ung thư da có hình dạng bất kỳ, thường không tròn, không cân đối. Nhọt mụn thường xung huyết màu đỏ hồng, ranh giới giữa nhọt và vùng da bình thường không rõ, chuyển màu dần dần. Ung thư da có ranh giới thường rõ ràng giữa vùng da lành và vùng da bị ung thư, nhất là các u (màu đen, màu đỏ sẫm…).

Nếu nốt ruồi đổi màu sắc và hình dạng thì cần hết sức cảnh giác sự xuất hiện của khối u hắc tố.

– Vị trí:

Nhọt mụn có thể mọc ở bất kỳ chỗ nào trên cơ thể, nhưng ít có ở mặt, ít có ở mặt trước cẳng chân cẳng tay, thường ở vùng da mềm kín ít được vệ sinh sạch sẽ (nách, bẹn, bụng, ngực). Ung thư da thường ở vùng da hở tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời, tuy cũng có thể ở vùng da kín rất ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời (như dương vật).

– Tính chất đau:

Nhọt mụn thường đau nhức nhiều, có thể kèm theo sốt. Ung thư da hầu như không đau, bóp nắn mạnh thấy đau tức.

Phân biệt ổ viêm loét mãn tính với loét da do ung thư

Các nhọt mụn, các ổ áp-xe đôi khi vỡ hình thành ổ viêm loét mãn tính, thường ở người già, người bệnh tiểu đường, kéo dài dai dẳng hàng năm khó lành, cũng cần phân biệt với loét da do ung thư.

Ổ viêm loét mãn tính thường có bờ mềm, xung quanh có quầng viêm đỏ, ít chảy máu, chảy nhiều nước vàng.

Ổ loét da do ung thư có bờ cứng hơn, ít đau, chảy máu nhiều hơn, có hạt nhú bì. Hạt nhú bì là những hạt nhỏ màu trong hồng to nhỏ không đều, to như hạt cám, hạt vừng đến cục sùi ở đáy hoặc bờ của ổ loét.

Mụn nhọt thông thường gây đau đớn nhưng sẽ nhanh lành và không gây nguy hiểm.

Một số vị trí nhọt có tính chất nguy hiểm cần cảnh giác

– Đinh râu:

Đây là nhọt ở vùng môi trên, rãnh mũi, cằm, thường gặp ở những người có sức đề kháng kém. Nếu dùng tay nặn, gẩy (khêu, nhể) đinh râu, tụ cầu sẽ có cơ hội xâm nhập vào mặt, rồi vào tĩnh mạch xoang hang trong sọ não, gây viêm tắc tĩnh mạch xoang hang.

Vì đặc điểm da vùng này rất linh hoạt, nhiều tổ chức ống bạch huyết nếu dùng tay nặn, mủ của ổ áp-xe không đẩy ra ngoài mà gây vỡ các màng của hệ thống bạch huyết và chui sâu hơn vào tổ chức dưới da. Mặt người bệnh sẽ sưng húp, biến dạng, có thể bị sốt cao, nhiễm trùng huyết, mê man, dễ tử vong (trước đây khi kháng sinh chưa có nhiều).

– Hậu bối (bệnh than ngoài da):

Bệnh thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch, người già, tiểu đường. Đặc điểm của hậu bối là nhọt mọc nhiều thành cụm, khi vỡ ra để lại miệng mủ như gương sen, tổ ong. Da xung quanh hậu bối bầm tím, có chỗ loét, hoại tử.

Hậu bối hay mọc ở vùng lưng, gáy, xương cùng, có kích thước 6-10 cm. Người mọc hậu bối có thể bị sốt cao, đau nhức, thể trạng kém, tắc mạch, nhiễm khuẩn huyết có thể tử vong. Nếu khỏi, hậu bối cũng để lại sẹo nhăn nhúm.

Các mụn nhọt mọc quanh hậu môn, do tình trạng vệ sinh của khu vực này kém và tổ chức lỏng lẻo nhọt dễ biến chứng thành áp-xe quanh hậu môn. Nếu áp-xe sâu có thể ăn thông vào , tạo ra lỗ rò hậu môn – trực tràng

– Lên lẹo: Là nhọt ở chân lông bờ mi mắt, khi nhọt đã ở giai đoạn lui thì mới chích mủ, không được nặn non vì có nguy cơ tạo hiện tượng viêm nhiễm mãn tính dai dẳng, khi khỏi bị ve mắt.

Theo PV – Sức khỏe và Đời sống

Cách Phân Biệt Mụn Nhọt Thông Thường Và Ung Thư Da

Mụn nhọt hay các vết chốc lở thông thường thường xuất hiện nhanh chóng, đột ngột. Vùng da có mụn thường sưng nóng đỏ, hóa mủ nhanh và sau 1-2 tuần nó có thể tự vỡ mủ hoặc chích tháo mủ, sau đó khỏi hoàn toàn. Đây là trường hợp không đáng lo ngại.

Tuy nhiên với những nhọt tồn tại lâu (hàng tháng) không thể tự vỡ, nằm sâu dưới lớp da, khối nhọt này mềm ở giữa xung quanh có nền xâm nhập cứng thì nên cảnh giác. Bởi vì ung thư da xuất hiện từ từ, kèm theo các dấu hiệu cảnh báo: thay đổi màu sắc bất thường ở da, nổi sần và hình thành u cục.

Một số hình ảnh ung thư hắc tố da

Mụn nhọt thông thường có hình dạng đầu tương đối tròn và cân đối, ngoại trừ các trường hợp có mụn mọc thành cụm liền nhau. Mụn nhọt thường có sung huyết màu đỏ hồng, ranh giới giữa chúng là vùng da bình thường không rõ mà chúng chuyển màu một cách dần dần.

Còn vết mụn dấu hiệu ung thư da thì có thể có hình dạng bất kỳ, không tròn, không cân đối và chúng thường có ranh giới rõ ràng. Giữa các vùng da bình thường và vùng da bị ung thư, đặc biệt là các ung thư da hắc tố thường có màu đen hoặc màu đỏ sẫm…

Mụn nhọt có thể mọc ở bất cứ chỗ nào trên cơ thể

Mụn nhọt thường có thể mọc ở bất kỳ vùng nào trên cơ thể. Còn vết mụn ung thư da thường ở vùng da tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời.

Mụn nhọt thường làm cho người bệnh cảm giác đau nhức, có thể kèm theo sốt. Trong khi đó, ung thư da hầu như không đau, chỉ khi bóp mạnh sẽ thấy cảm giác đau tức.

Biện pháp phòng ngừa

Tránh làm việc và tiếp xúc ánh nắng mặt trời quá lâu (tia cực tím thường mạnh nhất vào khoảng từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều mỗi ngày). Nên dùng kem chống nắng có chứa các chất ngăn chặn tác hại của tia UVA và UVB trước khi ra ngoài trời nắng. Dùng kem chống nắng cho tất cả những vùng phơi sáng, kể cả môi, 30 phút trước khi ra nắng, rồi thoa lại sau vài giờ. Hạn chế tiếp xúc với các loại hóa chất, tia phóng xạ, chất phóng xạ, môi trường độc hại. Kiểm tra sức khỏe da thường xuyên, phát hiện sớm những vùng da phát triển bất thường, các nốt ruồi thay đổi kích thước, tính chất,… để ngừa ung thư da.

BS. Quang Minh

Phân Biệt Khối U Và Ung Thư Như Thế Nào?

Khối u không có khả năng xâm lấn hay xâm nhập vào các cơ quan hay tổ chức lân cận; không có khả năng di căn tới các tổ chức khác trong cơ thể theo đường máu hoặc đường bạch huyết, người ta gọi là khối u lành hay u lành.

Ngược lại, khối u có khả năng xâm lấn hay xâm nhập vào các cơ quan hay tổ chức lân cận; có khả năng di căn và phát triển mới ở một tổ chức khác, người ta gọi là khối u ác hay khối u Ung thư.

Như vậy, u lành là u xuất phát từ cơ quan nào (da, gan, não, phổi, xương…) thì chỉ phát triển ở cơ quan đó, bị “vỏ” của cơ quan đó ngăn chặn, không vượt ra ngoài hay xâm nhập sang cơ quan lân cận.

Về quá trình hình thành u lành và u ác có những điểm giống nhau. Bình thường tế bào cũng có một tuổi thọ nhất định. Sau một số chu kỳ sinh sản (sinh sản vô tính/tự phân đôi), một thời gian hoạt động theo chức năng, tế bào đi vào quy trình chết định sẵn (chết theo chương trình). Khi một tế bào “già” chết đi, một tế bào “non” ra đời thay thế cả vị trí trong không gian và chức năng, khi đó không xuất hiện khối u.

Trong một số trường hợp, tế bào già không chết đi, tế bào mới vẫn được sinh ra, các tế bào mới vẫn có chức năng như tế bào sinh ra nó (biệt hóa) khi đó khối u lành xuất hiện.

Đó là kết quả của quá trình đột biến gien trong u lành. Nếu quá trình đột biến kèm theo những đột biến khác nữa dẫn tới sự sinh sản (nhân đôi) không kiểm soát, tế bào “non” cũng sinh sản, không có chức năng (không hoặc kém biệt hóa) mà lại sản sinh ra các chất kích thích tăng sinh mạch máu mới, các chất có khả năng tiêu hủy “vỏ” khối u để xâm lấn vào cơ quan tổ chức xung quanh và tách khỏi khối u ban đầu, “chui” vào các mạch máu mới hay mạch bạch huyết đến định cư và phát triển ở một hay nhiều cơ quan khác trong cơ thể (di căn) thì đó là khối u ác.

Như vậy, nơi nào u ác có thể xuất hiện thì nơi đó u lành cũng có thể xuất hiện, u lành có thể mang tên “cơ quan” mà nó sinh ra như: u xương lành, u buồng trứng lành, u nang tuyến giáp trạng lành, u xơ tử cung, u nang gan lành… u lành cũng có thể mang tên tế bào, tổ chức sinh ra nó như: u mỡ (lipoma), u xơ (fibroma), u xơ thần kinh (neurofibroma), u cơ vân (rhabdomioma), u cơ trơn (leiomyoma), u sụn (chondroma)…

Như trên đã phân tích, như vậy, u lành thường phát triển chậm hơn u ác; triệu chứng u lành thường mang tính tại chỗ hơn u ác. Tuy nhiên, nó phụ thuộc vào vị trí khối u và nguồn gốc tế bào. Nói chung, u ác luôn luôn đe dọa tính mạng người bệnh thì u lành phần lớn “lành” hơn.Cách phân biệt u lành và u ác

Cho đến nay người ta đã biết có tới trên 200 loại ung thư mà con người có thể mắc, trong đó, phần lớn hình thành khối u (u ác). Trong tiếng Việt, tên các bệnh ung thư thường gắn “ung thư” với tên của cơ quan đó như: ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư phổi, ung thư gan, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng… Tuy nhiên, có thể chia ung thư ở người làm hai loại dựa vào nguồn gốc xuất phát của tế bào ung thư.

Ung thư xuất phát từ tổ chức liên kết như: cơ, xương, mỡ, mạch máu, dây thần kinh, tổ chức lym pho (hạch bạch huyết, tế bào lỵm pho)… có tên chung ung thư tổ chức liên kết (với tên chung ở đuôi tiếng Latin là Sarcoma).

Loại tế bào ung thư xuất phát từ tổ chức biểu mô như: da, niêm mạc phủ đường hô hấp, đường tiêu hóa, đường tiết niệu, gan, thận, và các tuyến nội, ngoại tiết… có tên chung là ung thư biểu mô (với tên chung ở đuôi tiếng Latin là Carcinoma).

Mỗi loại ung thư, mỗi bệnh ung thư có quá trình tiến triển tự nhiên nhanh, chậm và di căn sớm muộn khác nhau; mô thức được điều trị khác nhau và đáp ứng với các phương pháp điều trị khác nhau. Và vì vậy, tiên lượng cho mỗi loại, mỗi bệnh ung thư cũng khác nhau.

Thậm chí, cũng là ung thư da nhưng xuất phát từ tế bào biểu mô đáy thì hầu như không có di căn và không gây chết người, nhưng nếu xuất phát từ tế bào biểu mô hắc tố thì hoàn toàn ngược lại.

Cũng là ung thư biểu mô tuyến giáp trạng nhưng tế bào thể biệt hóa có tiên lượng hoàn toàn tốt thì ngược lại, tế bào thể không biệt hóa có tiên lượng rất không tốt. Do đó, không những phải áp dụng các phương pháp chẩn đoán khác nhau mà áp dụng các mô thức điều trị cũng khác nhau. Không chỉ chẩn đoán xác định bệnh ung thư, giai đoạn bệnh mà còn chẩn đoán loại tế bào, mức độ biệt hóa tế bào.

Gần đây, chẩn đoán đột biến gen trong nhiều bệnh ung thư đã được tiến hành như: đột biến gen trong ung thư vú, ung thư phổi, ung thư đại – trực tràng… Kết quả của các xét nghiệm này đã được ứng dụng trong lâm sàng và mang lại nhiều hứa hẹn trong điều trị bệnh ung thư trong tương lai không xa.

Nếu có 200 loại u ác mà con người có thể mắc thì cũng có chừng bấy nhiêu loại u lành, thậm chí có thể nhiều hơn. Ngoài những đặc điểm chung khác nhau và giống nhau như trên, tiếng Việt nói chung thường phải kèm tính từ “lành tính” đi kèm như: u xương lành tính, u tuyến giáp lành tính, u cơ trơn tử cung (mà nhiều người quen gọi u xơ) lành tính, u phì đại tuyến tiền liệt lành tính.

U lành có những loại tồn tại với con người suốt đời mà không gây tổn hại gì với chủ nhân của nó như: nốt ruồi (một dạng u da) ở vị trí kín đáo, hay có những u chỉ gây ảnh hưởng về thẩm mỹ như u tuyến giáp địa phương (có những bệnh nhân mang theo một u tuyến giáp nặng đến hàng kilogram trong gần như cả đời của họ). Có phụ nữ mang trong mình u nang buồng trứng nặng tới 15 kilogram trong rất nhiều năm cứ tưởng mình bị chửa “voi”.

Nói chung, dù u lành có phát triển chậm nhưng theo thời gian, số tế bào lớn lên về mặt số lượng để tạo thành khối u, chúng dù nhiều dù ít đều gây nên “hiệu ứng khối” (Mass effects) nhất là u xuất phát trong một “khuôn bọc” chắc chắc như: u nang gan, u máu trong gan, u máu trong não, u màng não tủy lành tính… Chúng cũng gây hội chứng chèn ép.

Các u ở gan như trên cũng gây nên tức nặng vùng hạ sườn phải như u gan ác tính cũng có thể dọa vỡ.

Các u lành ở não hay màng não tủy như đã kể gây chèn ép não, tủy sống, gây tăng áp lực nội sọ, gây liệt thần kinh trung ương, liệt tủy… Lúc này bắt buộc điều trị, đôi khi sinh mạng cũng bị đe dọa. u lành có thể chèn ép các dây thần kinh, mạch máu gây đau hoặc tổn thương thần kinh, gây thiếu máu có thể dẫn đến hoại tử các tổ chức, cơ quan ở phía ngoại vi.

Những u lành của các tuyến nội tiết đôi khi gây nên những “hội chứng không hề lành” chút nào. u tiết Insulin của tuyến tuỵ (Insulinoma) gây hạ đường huyết ác tính, u vỏ tuyến thượng thận lành tính gây hội chứng cao huyết áp kịch phát (Phyochromacytoma) có thể gây chảy mậu não bất kỳ lúc nào dẫn đến tử vong, u tiết gastrin (Gastrinoma) gây loét dạ dày đa ổ và chảy máu dữ dội.

U tuyến yên lành ở trẻ nhỏ gây hội chứng “người khổng lồ”, ở người lớn gây hội chứng “to” đầu chi… nhiều u lành lúc này được gọi là u “độc”, đặc biệt u tuyến giáp trạng cường chức năng (bệnh basedow). Do vậy, gọi là u lành nhưng vẫn cần được khám xét, đánh giá chu đáo và đưa ra chỉ định điều trị hợp lí, kịp thời.

Nói chung, u lành “ác tính hóa” chỉ gặp ở một số bệnh tương đối hiếm. Thí dụ bệnh đa u xơ thần kinh, trong hàng trăm cái u khắp bề mặt cơ thể (bệnh Von Recklinghausen) có thể có một vài cái ác tính hóa. Bệnh đa polyp gia đình, có hàng ngàn cái polyp trong lòng đại tràng, bệnh di truyền gen trội do đột biến gien APC, trước 20 – 25 tuổi tất cả các polyp đều lành tính nhưng bắt đầu 30 tuổi bị ác tính hóa, đến 35 – 40 tuổi tất cả các bệnh nhân đều bị ung thư đại tràng. Những người này phải được cắt bỏ toàn bộ đại tràng dự phòng trước 20 tuổi.

Nhìn chung, phương pháp điều trị u lành chủ yếu là phẫu thuật. Phẫu thuật cắt bỏ khối u thường được chỉ định khi khối u gây chèn ép như: cắt bỏ u màng não, tủy gây chèn ép tủy sống và tổ chức não.

Mở cửa sổ hay cắt bỏ u nang gan, u nang thận giải chèn ép đề phòng vỡ nang khi va chạm mạnh. Các khối u xương hay u sụn lành tính nhưng thường chèn ép các mạch máu thần kinh xung quanh cũng cần được lấy đi. Hoặc u lành được chỉ định cắt bỏ vì yếu tố thẩm mỹ như u mỡ vùng đầu mặt cổ.

Điều trị các u lành tuyến nội tiết thường không đơn giản mà cần phối hợp giữa các nhà nội tiết học và các nhà phẫu thuật như u tuyến thượng thận. Đôi khi phải cần đến các nhà “xạ trị” như: u tuyến yên, u tuyến giáp trạng có cường chức năng, u quái buồng trứng nói chung là lành tính nhưng chỉ GÓ mô bệnh học mới xác định được có ác tính không (loại u quái bất thục sản). “U xơ” tuyến vú ở phụ nữ trên 35 tuổi cũng chỉ khẳng định u lành bằng “bộ ba chẩn đoán”: lâm sàng (-), X-quang vú (-), tế bào (-)…

Người ta thường gọi chuyên khoa UNG – BƯỚU vì nghiên cứu chẩn đoán điều trị UNG THƯ (U ác) là mảng cực kỳ lớn, nhưng nghiên cứu chẩn đoán điều trị BƯỚU (ám chỉ u lành) cũng không kém phần quan trọng.

Trước hết, cần chẩn đoán phân biệt u lành hay u ác mà nhiều khi với những phương pháp chẩn đoán rất hiện đại vẫn gặp khó khăn, về điều trị tuy có đơn giản và mang lại hiệu quả khỏi bệnh hoàn toàn cao hơn nhưng nhiều khối u lành khi điều trị cũng không phải lúc nào cũng thuận lợi.

Vì Sao Cần Phân Biệt Sớm Ung Thư Da Và Mụn Nhọt Thông Thường?

Khối u da nếu như là lành thính thì có thể sẽ được chữa khỏi hoàn toàn nếu như được phát hiện sớm. Chính vì vậy mà khi bạn thấy sự xuất hiện của mụn nhọt trong khoảng thời gian 1 thánh mà chưa thấy lành, thì nên cảnh giác nghĩ tới trường hợp ung thư da, để đi khám và điều trị tích cực để tánh biến chứng nguy hiểm.

Nếu như trong trường hợp bị ung thư mà lại hiểu lầm là mụn nhọt thông thường, chữa trị không phù hợp, sử dụng các loại thuốc không chất lượng có thể gây nguy hiểm tới tính mạng người bệnh.

Các dấu hiệu để phân biệt

– Yếu tố thời gian

Mụn nhọt hay các vết chốc lở xuất hiện một cách nhanh chóng, đột ngột. Vùng da đó bị sứng nóng đỏ, hóa mủ nhanh, và sau 1-2 tuần nó có thể tư vỡ mủ hoặc chích tháo mủ sau đó khỏi hoàn toàn đây là trường hợp không đáng lo ngại .

Tuy nhiên có một số trường hợp nhọt tồn tại trong khoảng thời gian lâu (hàng tháng) không thể tự vỡ, nằm sâu dưới lớp da, khối nhọt này mễm ở giữa xung quanh có nền xâm nhập cứng thì bạn nên cảnh giác. Bởi vì ung thư da là một bệnh xuất hiện rất từ tử kèm theo đó là các dấu hiệu cảnh báo vê sự thay đổi màu sắc bất thường ở da, sau đó nổi sần và hình thành u cục.

– Hình dạng và màu sắc

Mụn nhọt thông thường có hình dạnh đầu tương đối tròn và cân đối ngoại trừ các trường hợp có mụn mọc thành cụm liền nhau. Mụn nhọt thương có xung huyết màu đỏ hồng, ranh giới giưa chúng là vùng đa bình thường không rõ mà chúng chuyển màu một cách dần dần.

Bện cạnh đó thì ung thư da co những hình dạng bất kỳ, không tròn, không cân đối và chúng thường có ranh giới rõ ràng giữa các vùng da bình thường và ung da bị ung thư đặc biệt là các ung thư da hắc tố thường có màu đen hoặc màu đỏ sẫm…

– Vị trí

Mụn nhọt thường có thể mọc ở bất kỳ vùng nào trên cơ thể, tuy nhiên chúng ít được bắt gặp ở mặt, ít xuất hiện ở các mặt trước chân tay, thông thường chúng có mặt ở vùng da mềm, kín, ít được chú ý vệ sinh sạch sẽ như: nách, bẹn, bụng…

Ung thư da thì ngược lại chúng thường ở vùng da được tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời, tuy nhiên ở một số trường hợp các tế bào ung thư cũng có thể xuất hiện ở vùng ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

– Tính chất đau

Mụn nhọt thường mang lại cho người bệnh cảm giác đau nhức có thể là kèm theo sốt.

Ung thư da hầu như không mang lại cảm giác đau, nếu như bạn bóp mạnh sẽ thấy cảm giác đau tức.

Những dấu hiệu khác thường này sẽ giúp chúng ta nhận biết, phân biệt được một cách dễ dàng hơn với những mụn nhọt thông thường và căn bệnh ung thư da. Để tránh những rủi ro ngoài mong muốn.

Chuyên Gia Chỉ Cách Phân Biệt Khối U Và Ung Thư

Chúng ta thường nhầm lẫn khối u và ung thư, việc nhầm lẫn này có thể gây ra những hoang mang không đáng có, hoặc những chủ quan trong điều trị ung thư. Do vậy, bệnh nhân cần hiểu và biết cách phân biệt giữa hai khái niệm khối u và ung thư.

1.1. Định nghĩa

Theo các chuyên gia y tế, khối u là các tổ chức không có chức năng sinh lý, không có khả năng xâm lấn các tổ chức và cơ quan lân cận. Các khối u này thường được gọi là u lành tính và không có khả năng di căn theo các con đường mạch máu và mạch bạch huyết.

Trong khi đó các tổ chức ung thư là những khối u ác tính có khả năng xâm lấn mạnh mẽ tới các tổ chức lân cận qua hệ thống mạch bạch huyết và mạch máu xung quanh khối u ác tính. Quá trình di căn của các khối u ác tính sẽ khiến các bộ phận cơ thể bị huỷ hoại, thay đổi chức năng thậm chí không còn chức năng sinh lý bình thường.

1.2. Quá trình hình thành khối u và ung thư

Khối u lành được hình thành do quá trình chết tế bào già bị rối loạn. Thông thường các tế bào sẽ sinh ra và chết đi sau một số chu kỳ nhất định. Nhưng do một nguyên nhân nào đó mà các tế bào già không chết đi như chu kỳ, trong khi các tế bào non vẫn liên tục sinh ra thì sẽ gây nên khối u lành tính. Việc hình thành khối u lành tính không bao gồm sự biến đổi gen trong nhân tế bào.

Đối với khối u ác tính hay còn gọi là ung thư, chúng được hình thành do sự biến đổi gen trong nhân tế bào. Điều này gây ra sự tăng sản tế bào không kiểm soát, không biệt hoá, không có chức năng sinh lý bình thường. Quá trình hình thành khối u ác tính còn kích thích sự sản sinh các mạch máu lân cận, làm cho khối u dần thoát khỏi lớp vỏ ban đầu, lan tràn sang các bộ phận lân cận của cơ thể. Chúng ta thường định nghĩa chúng là ung thư di căn.

Như vậy, u lành thường chậm phát triển hơn ung thư hay u ác tính. Tuy nhiên, tác hại của khối u lành tính thường phụ thuộc vào vị trí, còn khối u ác tính hay ung thư thường không phụ thuộc vào vị trí.

Đa số các loại ung thư hình thành nên từ khối u rắn, trước tiên sẽ tập trung thành một vài khối trước khi di căn ra các bộ phận lân cận. Ung thư máu là một trường hợp đặc biệt, chúng thường không hình thành từ khối u. Như vậy, ung thư đa số được hình thành từ khối u, nhưng không phải tất cả các khối u đều là ung thư. Vậy làm sao để phân biệt khối u và ung thư?

Thường những khối u lành tính chỉ được phân biệt qua xét nghiệm tế bào. Nếu các tế bào khối u được xác định là tế bào không biến đổi gen thì nó là khối u lành tính. Các khối u lành tính sẽ bị giới hạn bởi lớp mô xung quanh nó, nếu không xảy ra chèn ép các bộ phận xung quanh thì nó gần như vô hại và không xâm lấn (di căn) sang các bộ phận lân cận. Các khối u lành tính nhưng nằm tại các vị trí quan trọng như não, cạnh các dây thần kinh hoặc mạch máu thì nên phẫu thuật sớm. Việc này tránh cho khối u chèn ép, ảnh hưởng cấu trúc của các bộ phận lân cận.

Khối u lành tính tuy không di căn nhưng cũng có thể phát triển thành kích thước rất lớn. Sau khi phẫu thuật thì khối u lành tính rất ít tái phát. Đồng thời khối u lành tính thường không thể phát triển thành ác tính hay ung thư. Trừ trường hợp khối u đó là polyp đại tràng, là một loại tiền ung thư trực tràng, có khả năng phát triển thành ung thư hay khối u ác tính.

Các phương pháp hiện nay đang sử dụng để chẩn đoán khối u lành tính là chẩn đoán hình ảnh, siêu âm, chụp X-quang, cắt lớp vi tính… Phương pháp chính xác nhất để xác định khối u lành tính là sinh thiết tế bào.

Việc phân biệt khối u ác tính thường không dễ dàng, rất dễ nhầm lẫn với khối u lành tính. Các chuyên gia thường dùng kinh nghiệm để đánh giá sơ bộ rằng khối u có phải ác tính hay không trước khi dùng các xét nghiệm chuyên khoa. Khối u ác tính vẻ ngoài thường có bờ không đều, mấp mô. Các khối u này cũng thường cố định và không di chuyển. Trong khi đó, các khối u lành thường có bờ trơn nhẵn, mềm và di chuyển xung quanh vị trí ban đầu.

Tất nhiên đó chỉ là cách đánh giá sơ bộ và không có cơ sở khoa học. Biện pháp này không thể phân biệt chính xác u lành hay u ác. Do đó, khi bệnh nhân phát hiện các khối u dưới da ở bất kì vị trí nào như cổ, vú, nách, tinh hoàn… thì cần tới khám sàng lọc ung thư tại các bệnh viện ung bướu để được chẩn đoán có bằng chứng bằng y khoa hiện đại.

Các phương pháp chẩn đoán bằng y khoa hiện đại bao gồm siêu âm, chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính. Trong đó như đã nói, sinh thiết khối u mới là phương pháp chính xác nhất để phân loại u lành hoặc u ác tính.

Bệnh nhân nên chủ động khám sàng lọc ung thư định kỳ tại các bệnh viện chuyên khoa ung bướu. Qua đó có khả năng tầm soát chẩn đoán sớm ung thư, kịp thời can thiệp và ngăn chặn ung thư từ khi còn chưa di căn. Việc can thiệp sớm ung thư sẽ giúp gia tăng tỷ lệ chữa khỏi, giảm tỷ lệ di căn và tái phát ung thư.

Các phương pháp y học hiện đại trong phòng chống di căn ung thư thường tập trung vào trị bệnh triệu chứng, trị bệnh tại chỗ. Đồng thời kết quả điều trị thường phụ thuộc rất nhiều vào việc khối u được phát hiện sớm hay muộn. Các phương pháp thường được sử dụng đó là điều trị trực tiếp bằng hoá trị hay xạ trị.

Đồng thời bệnh nhân thường cần kết hợp cùng các thảo dược và chế độ sinh hoạt hợp lý để phần nào ức chế sự di căn của khối u. Thời gian gần đây, các nhà khoa học Nhật Bản đã bào chế thành công chiết xuất lên men nấm miễn dịch bằng vi khuẩn Lactobacillus. Việc này mở ra hướng đi mới, mang tới hy vọng sống cho người bệnh ung thư.

Hoạt chất sinh học Beta gluccan được chiết xuất từ nấm miễn dịch Hanabiratake được chứng minh có khả năng ức chế di căn, đồng thời rất an toàn và có ý nghĩa lớn trong phòng ngừa ung thư tái phát. Sản phẩm được bào chế dưới dạng cốm, có tên Tokyo Res 1000, được nhập khẩu nguyên hộp về Việt Nam theo chương trình hợp tác quốc tế Việt – Nhật với rất nhiều ưu điểm vượt trội trong hỗ trợ điều trị ung thư.

Tokyo Res 1000 là Thành tựu nghiên cứu 20 năm của Trung tâm Katsuragi, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của tổ chức y tế Nhật Bản. Được Bộ Y tế Việt Nam thẩm định và cấp giấy phép lưu hành toàn quốc.

Làm Sao Để Phân Biệt Ung Thư Da Với Mụn Nhọt Thông Thường?

Tôi đang băn khoăn giữa việc phân biệt ung thư da với mụn nhọt thông thường, mong các chuyên gia cho tôi biết cách để phân biệt các dấu hiệu này.

Đáp:

Để phân biệt ung thư da với mụn nhọt không quá khó. Với mụn nhọt hay các vết chóc lở thông thường không đáng lo ngại, thường xuất hiện một cách nhanh chóng, đột ngột. Vùng da có mụn thường sưng nóng đỏ, hóa mủ nhanh, và sau 1-2 tuần nó có thể tư vỡ mủ hoặc chích tháo mủ sau đó khỏi hoàn toàn.

Tuy nhiên, bạn nên cảnh giác với những mụn nhọt xuất hiện lâu và không có dấu hiệu khỏi (hàng tháng) không thể tự vỡ, nằm sâu dưới lớp da, khối nhọt này mềm ở giữa xung quanh có nền xâm nhập cứng.

Nếu mụn nhọt là biểu hiện bị ung thư da nhưng nhầm lẫn sang mụn nhọt thông thường, chữa trị không phù hợp, sử dụng các loại thuốc không chất lượng có thể gây nguy hiểm tới tính mạng người bệnh. Bởi vì ung thư da là một bệnh xuất hiện rất từ từ kèm theo các dấu hiệu cảnh báo là sự thay đổi màu sắc da bất thường, nổi sần và hình thành u cục.

Các bạn nên chú ý, dấu hiệu của mụn nhọt thông thường là có hình dạng đầu tương đối tròn và cân đối, ngoại trừ các trường hợp có mụn mọc thành cụm liền nhau. Mụn nhọt thường có xung huyết màu đỏ hồng, ranh giới giữa chúng là vùng da bình thường không rõ mà chúng chuyển màu một cách dần dần.

Còn nếu là mụn do ung thư da gây ra sẽ có hình dạng bất kỳ, không tròn, không cân đối và chúng thường có ranh giới rõ ràng. Giữa các vùng da bình thường và ung da bị ung thư đặc biệt là các ung thư da hắc tố thường có màu đen hoặc màu đỏ sẫm…

Ở vị trí mụn nhọt thông thường, mụn có thể mọc ở bất kỳ vùng nào trên cơ thể, tuy nhiên chúng ít được bắt gặp ở mặt, ít xuất hiện ở các mặt trước chân tay, Nhưng lại hay xuất hiện ở vùng da mềm, kín, ít được chú ý vệ sinh sạch sẽ như: nách, bẹn, bụng…

Còn vết mụn ung thư da thì ngược lại, mụn do bị ung thư da thường xuất hiện ở vùng da tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời. Tuy nhiên không phải vì thế mà các tế bào ung thư không xuất hiện ở vùng ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Nên nếu có những biểu hiện bất thường bạn nên thăm khám bác sĩ để xác định chính xác bệnh.

Một dấu hiệu nữa để phân biệt ung thư da với mụn nhọt thông thường là mụn nhọt thường mang lại cho người bệnh cảm giác đau nhức có thể là kèm theo sốt.

Trong khi mụn do ung thư da hầu như không mang lại cảm giác đau, nếu như bạn bóp mạnh sẽ thấy cảm giác đau tức.

Theo Đất Việt

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Biệt Mụn Thông Thường Và Khối U Ung Thư trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!