Xu Hướng 2/2024 # Nhiễm Herpes Lan Tỏa Toàn Thân – Eczema Herpesticum # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Nhiễm Herpes Lan Tỏa Toàn Thân – Eczema Herpesticum được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Da là cơ quan có diện tích lớn nhất trong cơ thể, lại phải tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài và là “môi trường sống” của nhiều loài vi sinh vật, bao gồm cả vi khuẩn, virus, nấm, kí sinh. Khi gặp điều kiện thuận lợi, da bị các virus, vi khuẩn tấn công dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm. Nhất là trên các bệnh nhân suy giảm miễn dịch như mắc các bệnh mãn tính: HIV, đái tháo đường, tăng huyết áp,.. bệnh nhân đang phải dùng các thuốc ức chế miễn dịch, rất dễ nhiễm các virus từ môi trường sống và có thể gây nguy hiểm tính mạng.

Eczema Herpesticum là bệnh da do virus Herpes Simplex 1 ( HSV1) gây nên, lây truyền qua đường tiếp xúc trực tiếp với dịch, chất tiết từ người bị bệnh. Bệnh thường biểu hiện ở vùng da hở như: đầu mặt, cổ, một số trường hợp nặng tổn thương xuất hiện trên diện rộng lan tỏa khắp cơ thể. Thời gian ủ bệnh thường 1-2 tuần sau khi tiếp xúc với virus gây bệnh. Nhiễm eczema herpesticum ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch rất thường gặp, và triệu chứng thường nặng với tổn thương da lan tỏa toàn thân, sốt cao liên tục, nổi hạch và có thể gặp biến chứng viêm màng não đe dọa tính mạng người bệnh nếu không được điều trị kịp thời bằng thuốc kháng virus.

Bệnh viện da liễu Trung Ương đang tiếp nhận điều trị một bệnh nhân nhiễm  Eczema Herpesticum có nhiều bệnh nền như: đỏ da toàn thân, pemphigus, lao phổi đang điều trị. Trường hợp bệnh nhân nam, 73 tuổi với chẩn đoán Đỏ da toàn thân/ Pemphigus – Lao phổi đang điều trị 2 tuần nay tại khoa bệnh da nam giới, các triệu chứng về da đang cải thiện tốt, bệnh nhân có chỉ định ra viện. Khoảng 1 ngày nay, bệnh nhân xuất hiện các tổn thương mụn nước, vết trợt mới rải rác vùng cẳng chân, sau lan ra thân mình, sốt nhẹ, Qua thăm khám và xét nghiệm,  bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm Eczema herpesticum – một dạng nhiễm virus herpes lan tỏa toàn thân.

Hình 1: Tổn thương trợt nông 0.5 cm, rải rác vùng ngực trên nền da đỏ thẫm của bệnh đỏ da toàn thân

Hình 2: Tổn thương trợt nông hình tròn 0.5 cm, rải rác vùng cổ, ngực trên nền da đỏ thẫm của bệnh đỏ da toàn thân

Theo chúng tôi Dương Thị Lan, phó khoa Bệnh da nam giới – Bệnh viện da liễu Trung ương: bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh nền nặng như: mắc lao phổi, nhiễm trùng huyết, da đang tổn thương do mắc đỏ da toàn thân/ pemphigus vảy lá, bệnh nhân đã bội nhiễm virus herpes từ những người khỏe mạnh xung quanh và có triệu chứng rất nặng: sốt cao liên tục, các vết trợt , vảy tiết rải rác khắp tay chân thân mình. Bệnh nhân đã được các bác sĩ tích cực điều trị với thuốc kháng virus acyclovir truyền tĩnh mạch và chăm sóc tổn thương da tại chỗ.

BSCK.II Dương Thị Lan khuyến cáo các bệnh nhân cao tuổi, suy giảm miễn dịch, mắc các bệnh da mạn tính như viêm da cơ địa, đỏ da toàn thân, pemphigus,.. rất dễ nhiễm virus herpes, tiến triển thành bệnh eczema herpesticum và các biến chứng nghiêm trọng khác. Vì vậy, các bệnh nhân mắc bệnh da mạn tính cần tuân thủ điều trị theo bác sĩ chuyên khoa, giữ gìn và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, đến khám ngay tại cơ sở y tế gần nhất nếu có các triệu chứng bất thường.

Bài viết: Khoa bệnh da nam giới

Đăng bài: Phòng CTXH

Sự Lan Tỏa Của Sh

Trong hai năm, hơn 1500 bệnh nhân bỏng đã tìm đến Phòng khám đa khoa Sinh Hậu, phố Bà Triệu để được chữa trị. Nhiều người trong số họ sau thời gian điều trị đã bình phục, trở về mà không phải mang di chứng cũng như bị ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Vậy điều gì đã làm nên sự kì diệu ấy?

Tiến sỹ Y khoa Nhâm Văn Sinh theo dõi tiến triển ở bệnh nhân bỏng

Chúng tôi đến phòng khám khi trong phòng lúc này còn có 3 bệnh nhân bỏng đang được chữa trị. Họ đều rất trẻ. Hai người trong số họ đến từ thị xã Phúc Yên, một người đến từ huyện Bình Xuyên, có người bỏng chiếm 30% diện tích cơ thể. Được tận mắt chứng kiến những bệnh nhân bỏng, chúng tôi không khỏi ái ngại. Chỉ nhìn thôi, cũng cảm nhận thấy họ đã và đang phải trải qua những phút giây đau đớn như thế nào, nhất là về tâm lý, đặc biệt với phụ nữ, điều này thật khó khăn. Vậy mà, khác hẳn với suy nghĩ của chúng tôi, các bệnh nhân không hề bi quan mà tràn đầy niềm tin.

Ở phòng khám được 8 ngày, chị Ngô Thị Hải ở xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên cho biết: “Tôi bị bỏng do nướng cá mực. Khi thấy cá chưa chín, tôi đổ thêm cồn vào, vậy là ngọn lửa bùng to và phả thẳng vào mặt, ngực và chân. Tại vùng bị bỏng, tôi cảm thấy nóng rát. Được các bác sỹ tại phòng khám đa khoa Sinh Hậu nhiệt tình chăm sóc, qua 8 ngày điều trị bằng thuốc SH- 91 và dùng kháng sinh, đến nay vết bỏng của tôi đang dần se lại. Tôi không còn cảm thấy đau như mấy hôm đầu. Tôi mong mọi người khi sử dụng lửa để nấu nướng nên cẩn thận và không vội vàng để tránh được những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra”.

Giống như chị Hải, anh Ngô Đức Nam ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên cũng bị bỏng do nướng mực. Anh kể: “Được người nhà đi biển về cho mấy con mực nên tôi hăng hái mua cồn về nướng. Khi lửa chưa cháy hết, tôi tiếp tục đổ cồn và lửa đã bắt vào lọ cồn gây nổ. Vì quá bất ngờ, tôi đã không kịp phản ứng nên cũng bị bỏng ở phần chân. Đến phòng khám đa khoa Sinh Hậu, tôi được đắp thuốc và dùng kháng sinh. Sau đó ba mươi phút cảm giác đau rát đã giảm bớt. Hiện nay, vết bỏng đang dần phục hồi, tôi cũng không còn cảm thấy đau nữa”.

Để rõ hơn về bệnh bỏng cũng như quá trình điều trị bệnh này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với người bác sĩ đã được không ít bệnh nhân nhắc đến với sự kính trọng, ngưỡng mộ. Bằng trí tuệ của mình, ông đã sáng chế ra loại thuốc làm dịu những cơn đau, giảm tỉ lệ tử vong, tỉ lệ tàn phế cho nạn nhân bỏng, trả lại vẻ đẹp cho bệnh nhân đồng thời cũng góp phần làm giảm chi phí trong chữa trị. Ông chính là Tiến sĩ Y khoa Nhâm Văn Sinh, tác giả của loại thuốc chữa bỏng SH- 91 với không ít đặc tính hữu hiệu.

Mở cho chúng tôi xem những bức ảnh, vidieo clip ghi lại quá trình chữa trị của các bệnh nhân bỏng, ông cho biết, bỏng là tai nạn thường gặp trong sinh hoạt, lao động, sản xuất, trong đó bỏng do sinh hoạt chiếm khoảng 65 %; để lại di chứng nặng nề cho bệnh nhân về thẩm mỹ, chức năng, tâm lý. Tác nhân gây bỏng do nước sôi, lửa, điện, cồn. Từ năm 2012- 2014, Phòng khám đa khoa Sinh Hậu tiếp nhận 1547 trường hợp bỏng, riêng tháng 6 và 8, có 38 trường hợp bị bỏng do cồn, 7 người trong đó bỏng chiếm trên 30% diện tích cơ thể. Nguyên nhân bỏng cồn đều do thiếu kinh nghiệm trong khi nướng mực. Thấy mực chưa chín, người nướng thường đổ thêm cồn vào, trong khi đó, dưới những con mực, vẫn còn lửa leo lét cháy, khó phát hiện, chính vì vậy, ngọn lửa đã bùng lên. Nhiệt lượng của cồn lên tới 15000 C, với sức nóng như vậy, nó đã gây ra bỏng cho chính người nướng cồn. Các bệnh nhân bỏng cồn thường bị bỏng toàn thân, đa số ở vùng mặt.

Đau đớn, xuất tiết huyết tương và nhiễm khuẩn được xuất hiện ngay sau chấn thương bỏng, trong đó đau và xuất tiết huyết tương là các tác nhân nguy hiểm nhất gây ra các biến loạn chức năng tại chỗ và toàn thân, là nguyên nhân gây ra Shock và tử vong ở những bỏng sâu, diện rộng.

Các thuốc chữa vết thương bỏng hiện nay thường chỉ có tác dụng kháng khuẩn. Trong khi đó đau và xuất tiết dịch là hai yếu tố diễn biến nguy hiểm nhất trong bỏng thì hiện nay theo ông chưa có loại thuốc nào có tác dụng ức chế, ngăn cản tác nhân gây đau và gây xuất tiết dịch sau chấn thương bỏng.

Được thừa kế từ bài thuốc gia truyền và nghiên cứu mở rộng, SH- 91 có tác dụng: Giảm đau ngay sau ít phút đắp thuốc và dịu êm trong cả quá trình điều trị. Hiệu quả giảm đau của SH- 91 đạt mức không cần phải sử dụng đến thuốc an thần giảm đau ở bệnh nhân bỏng có diện tích bỏng dưới 40% diện tích cơ thể ( bỏng độ II, độ III ). Giảm xuất tiết dịch: Dịch tiết giảm, viêm nề giảm. Giảm tiết dịch đạt ở mức bỏng dưới 60 % diện tích cơ thể (bỏng độ II, độ III ) trong hồi sức nuôi dưỡng không phải sử dụng đến máu và dịch thể thay thế máu (chỉ sử dụng dung dịch đẳng chương ) mà sức khỏe hồi phục nhanh, vết bỏng liền khỏi sớm. Giảm viêm mủ giả mạc: Hiếm khi có mủ giả mạc trên nền tổn thương bỏng khi thay băng ( bỏng độ II, độ III ). Giảm số lượng và chủng loại vi khuẩn: Trong nghiên cứu đối chứng so sánh với thuốc chữa bỏng Silver Sulfadiazin 1% (Thuốc do hãng Marion Hoa Kỳ sản xuất) SH- 91 có tác dụng làm giảm số lượng và chủng loại vi khuẩn tương đương. Đặc biệt SH- 91 có tác dụng mạnh với trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa) loại vi khuẩn gây tử vong hàng đầu ở nhiễm trùng huyết trong bỏng và SH- 91 không có tác dụng phụ.

Với tác dụng giảm đau, giảm tiết tịch tại vết bỏng, SH -91 góp phần làm giảm thời gian và cường độ shock, cắt shock sớm làm giảm các biến chứng tại chỗ và toàn thân do Shock gây ra, giảm chi phí cho hồi sức chống shock, giảm tỷ lệ tử vong, giảm di chứng sức khỏe phục hồi nhanh vết bỏng liền khỏi sớm.

Đặc biệt trong điều trị thuốc SH- 91 vẫn giữ lại lớp biểu bì hoại tử sau bỏng, chỉ tháo rạch nước vòm phòng đắp SH- 91 ngoài lớp biểu bì. Lớp biểu bì không bị phân hủy tan rữa. Sau 7- 8 ngày bóc bỏ lớp biểu bì nền tổn thương bỏng không có mủ giả mạc, nhẵn bóng, nếu đắp các loại thuốc khác thường chỉ sau 2- 3 ngày lớp biểu bì bị phân hủy tan rữa, làm môi trường thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập.

Qua những điều được nghe, được chứng kiến ở phòng khám, qua video clip mô tả lại chi tiết quá trình điều trị của các bệnh nhân, sự tiến triển của vết thương bỏng từ loại thuốc SH- 91, chúng tôi tin rằng, với công dụng hữu hiệu ấy, SH- 91 thực sự đã mang lại cho bệnh nhân bỏng vẻ đẹp ban đầu và sự lan tỏa của nó ngày càng mở rộng.

Bài, ảnh Bạch Dương

Hình Ảnh Bệnh Gan Lan Tỏa Trên Siêu Âm Bụng

Gan nhiễm mỡ được xác định khi có trên 5% mỡ trong gan. Biếu hiện sự tích luỹ triglycerid được tổng hợp từ acid béo trong tế bào gan.

Bệnh gan lan toả

Gan nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ được xác định khi có trên 5% mỡ trong gan. Biếu hiện sự tích luỹ triglycerid được tổng hợp từ acid béo trong tế bào gan.

Gan nhiễm mỡ có hai thể:

Thể không bào lớn do ứ đọng mỡ trong nguyên sinh chất, là thể hay gặp nhất, không biểu hiện triệu chứng lâm sũng, thường do rối loạn lipid máu với nhiều nguyên nhân: uống nhiều rượu, béo phì, nối ruôt-hỗng trũng, nuôi dưỡng qua ngoũi đường tiêu hoá, suy dinh dưỡng, đái đường, Cushing, rối loạn giáp trạng.

Thể không bào nhỏ do thoái hoá mỡ của bộ ty thể cấp tính, có nhiều nguyên nhân: thoái hoá mỡ cấp ở phụ nữ có thai nghén, nhiễm siêu vi trùng, thuốc đôc cho gan, hôi chứng Reye, thoái hoá xốp tế bào do viêm gan siêu vi trùng. Thường biểu hiên triệu chứng (đau, nôn), tiến triển đôi khi dẫn đến tử vong.

Trên siêu âm, gan nhiễm mỡ là hình tăng âm lan toả không suy giảm những sóng âm ở sâu (H.10a), khác với xơ gan giai đoạn đầu là hình tăng âm lan toả không đều có suy giảm những sóng âm ở sâu. Gan nhiễm mỡ lan toả phát hiện dễ dàng dựa vào sự tăng chênh lệch đâm đô âm giữa nhu mô gan và nhu mô thân. Gan nhiễm mỡ khu trú có thể thấy là hình nốt tăng âm hoặc hình đám âm không đều với bờ không đều do xen lẫn giữa vùng tăng âm nhiêm mỡ với vùng giảm âm của gan lành giống hình “bản đổ”, các mạch máu không bị đè đẩy (H.lOb).

Gan nhiêm mỡ không đổng đều thường tôn trọng môt số vùng nhu mô gan tạo thành “đảo” gan lành, như vùng tiếp giáp chỗ phân chia cửa (phân thuỳ IV) (H.lOc) hoặc vùng giường túi mật (phân thuỳ V), với biểu hiên là vùng gan lành trên nền gan sáng cho hình ảnh nốt giảm âm. Sự tôn trọng này được giải thích bởi những biến đổi giải phẫu tĩnh mạch. Các tĩnh mạch của các vùng này có thể từ tĩnh mạch vị phải (tĩnh mạch môn vị) hoạc tĩnh mạch túi mật, thâm chí từ tĩnh mạch vị trái. Máu của các tĩnh mạch này không chứa vi dưỡng chấp, nên giải thích tạo sao các vùng này không bị nhiêm mỡ.

Đôi khi, gan nhiễm mỡ có thể tôn trọng môt số tổn thương như trong trường hợp có khối trên gan nhiêm mỡ, làm môt số u tăng âm như u máu trở thành khối giảm âm hoạc đổng âm. Chẩn đoán xác định cần dựa vào CLVT và CHT.

Trường hợp ngược lại có thể xảy ra là: gan có thể hoàn toàn không nhiêm mỡ, chỉ có môt hoạc nhiều vùng xuất hiên gan nhiêm mỡ dạng nốt. Vùng thường thấy nhất là phân thuỳ IV ở phía trước phân chia cửa và quanh rãnh dây chằng liềm. Chẩn đoán phân biêt giữa môt nốt gan nhiêm mỡ với môt u gan đôi khi không thể dựa vào siêu âm với hình ảnh nốt tăng âm so với nhu mô gan còn lại, cũng như không thể dựa vào CLVT với hình ảnh nốt giảm tỷ trọng trên cả các lớp trước và sau tiêm, trong trường hợp này chẩn đoán xác định cần dựa vào CHT.

Xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa

Xơ gan: là một bênh tiến triển, thường thứ phát sau nhiễm độc rượu mạn tính, nhiễm siêu vi trùng viêm gan B và C. Các nguyên nhân khác có thể là bênh nhiễm sắc tố sắt (hemachromatosis); các bất thường chuyển hoá khác như: bênh Wilson (rối loạn chuyên hoá đổng), thiếu hụt alpha-antitrypsine, bênh sinh đường (glycogenosis); viêm gan nhiễm mỡ không do rượu; bênh tắc tĩnh mạch, hội chứng Budd-Chiari; viêm gan tự miễn; xơ đường mật nguyên phát hoặc thứ phát.

Những biến đổi của gan:

Biến đổi hình thái: Giai đoạn đầu của xơ gan không thấy thay đổi hình thái của gan. Sau đó là teo một số phân thuỳ gan do phá huỷ tế’ bào, trong khi đó các phân thuỳ khác có xu hướng phì đại. Thường thấy là phì đại thuỳ trái và phân thuỳ IV, trong khi đó thuỳ phải giảm kích thước rõ rêt hoặc teo phân thuỳ IV (H.11a) hoặc phì đại phân thuỳ I (H.11b). Giai đoạn tiến triển hơn, bờ gan trở lên lổi lõm do teo không đều giữa các vùng khác nhau (H.11c).

Biến đổi nhu mô gan: nhu mô trở lên không đều do xơ, do nhiễm mỡ, hoặc do bất thường hấp thu sắt. Trong đó xơ là yếu tố chính, vì vậy giải thích tại sao có cấu trúc âm khác nhau giữa những vùng xơ và những vùng nhu mô còn lành trên siêu âm. Khi xơ gan phối hợp với viêm gan rượu, nhu mô gan có thể rất không đổng đều do phối hợp với nhiễm mỡ. Những nốt xơ thoái hoá thường khó thấy do có kích thước nhỏ thường dưới 3mm và có cấu trúc âm giống nhu mô gan lành. Nếu dùng đầu dò tần số cao, có thể thấy nhưng không đặc hiệu.

Phát triển của ung thư biểu mô gan trên xơ gan:

Bênh nhân xơ gan có nguy cơ ung thư biểu mô cao với 2% mỗi năm. Đó là một u ác tính mà thời gian tăng thể tích gấp đôi trung bình là 4 tháng. Điều trị rất khó khăn do u xuất hiên trên một gan xơ. Hiên nay điều trị hoá chất không có hiêu quả. Với u trên 5 cm, ít có khả năng điều trị. Kết quả tốt hơn cho điều trị ngoại hoặc các kỹ thuật điều trị qua da (nút mạch hoá chất, sang cao tần, tiêm cồn) đối với u không vượt quá 3 cm. Vì vậy cần phải phát hiên u sớm nhất có thể trên bênh nhân xơ gan bằng thăm khám siêu âm gan và đinh lượng alpha-foetoprotein đinh kỳ thường 3-6 tháng/lần. Một hội nghị ở Barcelone đã đưa ra chẩn đoán một ung thư biểu mô gan trên xơ gan với 4 tiêu chuẩn sau:

Bênh nhân có xơ gan.

Nốt trên 2 cm.

Nốt này thấy được bằng hai thăm khám khác nhau gồm siêu âm, CLVT, CHT và chụp mạch.

Nốt này tăng sinh mạch hoặc nồng độ alpha-foetoprotein trên 400ng/ml.

Tăng áp lực tĩnh mạch cửa:

Trên siêu âm và Doppler:

Thân tĩnh mạch cửa: ở giai đoạn đầu của tăng áp lực tĩnh mạch cửa giãn với khẩu kính trên 13 mm (H.12a), sau đó giảm. Có thể có huyết khối cục đống trong lòng tĩnh mạch cửa (H.12b).

Dòng chảy thân tĩnh mạch cửa thay đổi trên Doppler: có thể thấy thay đổi dòng chảy theo nhịp nhở, hướng về gan khi hít vào, ra khỏi gan khi thở ra; nặng thấy có đảo chiều hoàn toàn dòng chảy với hướng ra khỏi gan.

Tuần hoàn bàng hệ: Các tĩnh mạch giãn biểu hiện là hình giảm âm ngoằn ngoèo hoặc tròn tuỳ theo lớp cắt.

Giãn tĩnh mạch vùng rốn gan hoặc túi mật thường thấy.

Có thể thấy tĩnh mạch cạnh rốn di trong dây chằng tròn để nối với đám rối tĩnh mạch quanh rốn, là tĩnh mạch duy nhất có vòng nối ở hạ lưu của thân cửa từ nhánh cửa trái.

Tĩnh mạch vành vị, dẫn lưu ngược dòng tạo nên đám giãn tĩnh mạch thực quản. Thường nằm ở phía bên trái của tĩnh mạch cửa, bất thường khi có đường kính giãn trên 7mm và có dòng chảy ra khỏi gan.

Tĩnh mạch lách có các nhánh nối trực tiếp với tĩnh mạch thân trái hoặc gián tiếp với các tĩnh mạch ngắn của dạ dày tạo thành đám tĩnh mạch giãn vùng hang vị trước khi nối với tĩnh mạch thân trái.

Có thể dày phù nề thành dạ dày trên 5mm, dày phù nề thành ruột non với giãn mạch máu vùng mạc treo.

Lách to trên 12 cm (H.13), có thể nhu mô không đổng đều nhẹ.

Dịch cổ chứng tự do trong các khoang ổ bụng (khoang Morrisson, khoang lách-thân, túi cùng Douglas, rãnh thành đại tràng..).

Túi mật có thể thấy thành dày (do dịch cổ chứng, giảm albumin máu).

Bệnh nhiễm sắc tố sắt (hemachromatosis)

Là bệnh di truyền, do ruột tăng hấp thu sắt. Ban đầu, sắt được tích luỹ ở gan, sau đó ở tuỵ, muộn hơn ở hầu hết các cơ quan (tim, da, sinh dụcũ). Bệnh biểu hiện lâm sàng khi ở giai đoạn muộn, thường là đau khớp và đái tháo đường. Bệnh không tiến triển xơ gan, nhưng nhiễm độc do ứ sắt là nguy cơ lớn tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào gan.

Vai trò của chẩn đoán hình ảnh trong bệnh này là đánh giá ứ sắt trong gan và tìm một ung thư biểu mô tế bào gan. Siêu âm không cho dấu hiệu đặc biệt.

Trên CLVT, khi ứ sắt nặng, gan biểu hiên tăng tỷ trọng, còn trên CHT giảm tín hiêu hơn tín hiêu của cơ cạnh sống.

Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Bạch Mai

Nhiễm Herpes Simplex Virus Sinh Dục

Năm 1896, Fournier đã đưa ra chẩn đoán và điều trị bệnh này. Năm 1939, Burnet và Williams đã dùng thuật ngữ “Herpes simplex infections” và cho rằng bệnh tồn tại trong cơ thể suốt đời mà chủ yếu ở thể tiềm ẩn không biểu hiện triệu chứng bệnh, do sự tác động của một số yếu tố làm cho vi rút trở nên hoạt tính và bệnh có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Nhờ những tiến bộ khoa học, năm 1952-1956 đã nuôi cấy và phân lập được Herpes Simplex Virus – HSV. Vào những năm 1960, người ta đã biết được có hai týp HSV gây bệnh ở người: HSV-1 thường gây bệnh ở niêm mạc miệng và HSV-2 gây bệnh chủ yếu ở sinh dục-hậu môn.

Giữa cuối thập kỷ 70, các thày thuốc lâm sàng đã biết rõ herpes sinh dục là một bệnh lây truyền qua đường tình dục quan trọng. Đối với phụ nữ có thai khi mắc bệnh này có thể lây truyền vi rút cho thai nhi và gây những biến chứng nghiêm trọng đe dọa tính mạng của trẻ sơ sinh như viêm màng não, viêm phổi… Lần đầu tiên công chúng được biết đến tầm quan trọng của bệnh qua tạp chí Time xuất bản năm 1982. Tiến bộ điều trị đầu tiên là sử dụng vidarabine điều trị viêm màng não do HSV đã làm giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, thuốc này gây độc và khó sử dụng. Chỉ đến năm 1977, bác sĩ Gertrude Elion và cộng sự phát minh ra acyclovir thì điều trị Herpes sinh dục mới thực sự có bước tiến bộ rõ rệt. Sau đó một số thuốc khác ra đời như valacyclovir và famciclovir nhưng cũng không có ưu việt đáng kể so với acyclovir. Cho đến nay, không có thuốc nào diệt được vi rút, chữa khỏi bệnh mà chỉ có thể cải thiện được triệu chứng lâm sàng và vấn đề vi rút tiềm ẩn trong cơ thể vẫn chưa được giải quyết.

Từ năm 1924, các nhà khoa học đã quan tâm đến việc nghiên cứu vắc xin phòng nhiễm HSV. Cho đến nay, có hơn 60 công trình nghiên cứu về dự phòng và điều trị. Tuy nhiên, hầu hết các công trình này đều không được kiểm chứng. Hiện có hai loại vắc xin đã được nghiên cứu đánh giá: vắc xin kết hợp giữa glycoprotein (g)D và gB với MF-59 và vắc xin kết hợp giữa gD và cơ chất, những thật không may là cả hai loại vắc xin này đều không có tác dụng phòng bệnh.

Nhờ vào tét huyết thanh chẩn đoán nên đã có thể đánh giá được tỷ lệ hiện nhiễm HSV. Những nghiên cứu cho thấy, ở những nhóm dân cư có mức độ kinh tế- xã hội thấp thì tỷ lệ nhiễm rất cao (có thể đến 80-100%), nhưng nhóm dân cư có trình độ kinh tế- xã hội cao thì tỷ lệ này chỉ là < 50%. Nữ có tỷ lệ nhiễm cao hơn nam. Châu Phi có tỷ lệ nhiễm khá cao, một số nghiên cứu cho thấy ở phụ nữ trẻ có 80% nhiễm HSV so với thanh niên nam là 40%. Những người nhiễm HIV có tỷ lệ nhiễm HSV cao hơn người không nhiễm. Trên những bệnh nhân STD, tỷ lệ nhiễm HSV cũng cao hơn.

Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá tỷ lệ hiện nhiễm HSV.2. NGUYÊN NHÂN

Bệnh Herpes đơn dạng do vi rút Herpes simplex virus (HSV), là vi rút DNA lớn (100-200nm). Vi rút nhân lên trong tế bào và tạo nên các thể vùi có thể phát hiện được bằng nhuộm soi kính hiển vi quang học. Có nhiều chủng herpes được phân theo genome loại a, b và g. Trong đó có 8 chủng HSV ở người, đó là HSV 1 và 2 (a), herpesvirus varicellae (varicella zoster virus, b), human cytomegalovirus (b), Epstein-Barr virus (g), human herpesvirus 6 (b), human herpesvirus 7 (b), human herpesvirus 8 (g).

Có hai chủng HSV chủ yếu là HSV-1, gây bệnh vùng mặt và HSV-2, gây nhiễm trùng sinh dục. Cả hai chủng này đều tồn lưu trong hạch thần kinh cảm giác sau khi nhiễm trùng tiên phát. Trong giai đoạn này, vi rút không sinh ra protein của nó nên vật chủ không phát hiện ra sự tồn tại của nó trong cơ thể. Do đó, nó có thể di chuyển trong sợi thần kinh và khi nhân lên ở da-niêm mạc sẽ gây nên tái phát triệu chứng. Vi rút có thể được đào thải qua nước bọt và dịch sinh dục ở những người bệnh không triệu chứng, đặc biệt trong tháng đầu tiên sau khi nhiễm bệnh. Nghiên cứu cho thấy những người có triệu chứng thì lượng vi rút đào thải ra lớn hơn 100-1000 lần người không có triệu chứng. Vi rút lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua dịch chứa vi rút. HSV-1 gây nhiễm chủ yếu ở trẻ em, triệu chứng thường nhẹ hoặc tiềm ẩn. Ở các nước nghèo, tỷ lệ trẻ nhiễm HSV có thể gần 100%, trái lại các nước phát triển thì tỷ lệ thấp hơn, có thể chỉ bằng một nửa số trên. HSV-2 chủ yếu gây nhiễm ở những người trưởng thành thông qua hoạt động tình dục. Theo một số nghiên cứu thì có khoảng 1/3 người trẻ tuổi có huyết thanh dương tính với HSV-2 và tỷ lệ này cao hơn ở những người lớn tuổi hơn, có thể đến trên 50%. Nhiễm HSV-2 tiên phát thường có triệu chứng và biểu hiện lâm sàng nặng hơn tái phát. Lây truyền bệnh thường xảy ra khi người bệnh không có triệu chứng. Gần đây, tỷ lệ HSV-1 ở sinh dục tăng lên do quan hệ tình dục miệng-sinh dục.

Các sang chấn nhỏ trên da/niêm mạc tạo điều kiện cho vi rút xâm nhập vào các tế bào biểu mô. HSV có thể lây nhiễm do tiếp xúc với người bệnh như khi chơi thể thao gây va chạm, tiếp xúc tình dục, hôn, tiếp xúc của nhân viên y tế bị nhiễm vi rút, … hoặc HSV trong cơ thể người bệnh lây nhiễm sang vùng da khác như tật cắn móng tay, mút tay làm lây nhiễm vi rút từ miệng. Sau khi nhiễm vi rút, miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào chống lại sự xâm nhập của vi rút nhưng không may là hiệu quả của kháng thể không tiêu diệt được vi rút, không tránh được tái nhiễm và tái phát bệnh. Ở những bệnh nhân đã nhiễm HSV miệng thì khi nhiễm HSV ở sinh dục thường không nặng. Những người khỏe mạnh, có miễn dịch bình thường thì bệnh tái phát khi miễn dịch trung gian tế bào suy giảm tạm thời. Một số yếu tố làm bệnh tái phát là sang chấn tại chỗ, bỏng nắng, kinh nguyệt, căng thẳng thần kinh… Trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải, có tỷ lệ nhiễm HSV cao hơn, biểu hiện lâm sàng nặng hơn và không điển hình. Phụ nữ có thai khi nhiễm HSV sơ phát khi sinh đẻ có nguy cơ lây nhiễm tới 50% cho trẻ và gây nhiễm nặng, có thể tử vong. Nếu mẹ bị nhiễm vào 3 tháng cuối của thai kỳ, có thể gây thai chết lưu và đẻ non. Những người phụ nữ có thai bị nhiễm HSV từ trước thì nguy cơ đối với thai nhi thấp hơn nhiều do thai nhi được kháng thể của mẹ bảo vệ.

Khi vi rút xâm nhập vào cơ thể, chúng tồn lưu trong một số tế bào đặc hiệu và trở thành thể bệnh tiềm ẩn. Dưới một số điều kiện ảnh hưởng, khi miễn dịch suy giảm thì vi rút trở nên tái hoạt tính hủy hoại tế bào và gây triệu chứng nhiễm trùng cấp tính.3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG3.1. Nhiễm HSV sơ phát (tiên phát)

Nhiễm HSV sơ phát xảy ra trên những người có huyết thanh âm tính và đa số là không triệu chứng. Những người có biểu hiện triệu chứng lâm sàng thì thường có biểu hiện nặng hơn tái nhiễm. Nhiễm HSV sinh dục thường hay có triệu chứng hơn nhiễm ở miệng.

– Thời gian ủ bệnh khoảng 3-5 ngày. Trước khi có biểu hiện tổn thương da và niêm mạc, bệnh nhân có cảm giác ngứa, dấm dứt tại chỗ, sau đó xuất hiện một dát đỏ phù nề, trên có nhiều mụn nước. Các mụn nước thường đứng thành từng cụm, từ 2-10 mụn nước. Mụn nước thường căng tròn kích thước bằng đầu đinh ghim hoặc to hơn, bên trong chứa dịch vàng chanh hoặc trong suốt. Có khi các mụn nước liên kết với nhau thành bọng nước nhỏ, các mụn nước, bọng nước sắp xếp thành hình vòng cung. Khi các bọng nước xuất hiện thì cũng là lúc triệu chứng cơ năng bớt dần. Các mụn nước, bọng nước này có thể bội nhiễm thành dịch vàng, tồn tại một vài ngày rồi vỡ tạo thành các vết chợt hình đa cung, sau đó đóng vảy tiết màu vàng nâu. Vảy tiết sau vài ngày bong ra để lại các vết sẫm màu, dần dần da trở lại bình thường, không có sẹo.

– Tiến triển: trong vòng 1-2 tuần, nhưng hay tái phát.

– Triệu chứng toàn thân: có thể sốt, mệt mỏi, chán ăn, hạch lân cận sưng to, đau. + Nhiễm HSV sinh dục. Nhiễm HSV sinh dục chủ yếu lây qua quan hệ tình dục và đa số bệnh nhân bị bệnh do HSV-2 gây nên. Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ bệnh do HSV-1 tăng lên do quan hệ miệng-sinh dục. Trong các loét sinh dục hoa liễu hiện nay thì nhiễm herpes là hay gặp nhất. Biểu hiện lâm sàng bệnh nhân thường có tiền triệu là mệt mỏi. Trên bệnh nhân nam, thương tổn hay gặp ở dương vật, quy đầu và bao quy đầu. Thương tổn thường đau, kéo dài khoảng 2-3 tuần nếu không điều trị. Các bệnh nhân nam đồng tính có thể thấy thương tổn ở hậu môn và quanh hậu môn. Ở bệnh nhân nữ, các thương tổn ở sinh dục ngoài như âm hộ, môi lớn, môi nhỏ, cổ tử cung. Các vết loét làm cho người bệnh đau, đi tiểu buốt, ở cổ tử cung làm cho viêm cổ tử cung loét nặng.

Trên những người nhiễm HIV, loét thường kéo dài và trở nên mạn tính, tái phát nhiều.

Khả năng tái phát khoảng 95% với HSV-2 và 50% với HSV-1, có 2/3 trường hợp tái phát từ 2 đến 6 lần/năm. Những người đã nhiễm HSV-1 thì khi nhiễm HSV-2 sinh dục sơ phát thường có triệu chứng nhẹ hơn, triệu chứng lâm sàng tiến triển ngắn hơn và triệu chứng toàn thân nhẹ. Nhiễm HSV tái phát

Triệu chứng lâm sàng thường nhẹ hơn, các thương tổn da có mụn nước nhỏ hơn, nhanh khỏi hơn, hầu như không có triệu chứng toàn thân. Bệnh nhân có thể có tiền triệu như ngứa, cảm giác bỏng rát, đau dây thần kinh trước khi nổi mụn nước vài giờ hoặc ngày hôm trước. Thông thường mụn nước nhỏ, thành đám trên nền da viêm đỏ. Các mụn nước nhanh chóng thành mụn mủ và đóng vẩy tiết rồi lành không để lại sẹo, diễn biến bệnh ngắn hơn sơ phát, thường trong khoảng 7-10 ngày. Bệnh nhân có thể đau khi xuất hiện thương tổn và đau kéo dài trong vài ngày. Vị trí thương tổn thường ở vị trí sơ phát, nhưng có thể ở bất kỳ vùng da-niêm mạc nào trên cơ thể. Tiến triển nhẹ hơn và thời gian bệnh ngắn hơn sơ phát.4. XÉT NGHIỆM

Các xét nghiệm xác định HSV gồm nuôi cấy vi rút, xét nghiệm huyết thanh ELISA tìm kháng thể kháng HSV, miễn dịch huỳnh quang, PCR, kính hiển vi điện tử phát hiện vi rút. Chẩn đoán tế bào học theo phương pháp Tzanck thấy tế bào khổng lồ. Trong các xét nghiệm thì PCR là tét có độ nhạy và đặc hiệu cao nhất.5. CHẨN ĐOÁN5.1. Chẩn đoán xác định

– Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng vì thông thường bệnh có triệu chứng rõ. Tuy nhiên, việc xác định bệnh ở những người không triệu chứng phải dựa vào xét nghiệm.

– Các xét nghiệm xác định HSV thường làm: ELISA, miễn dịch huỳnh quang, PCR. Một xét nghiệm có thể làm ở nhiều cơ sở là chẩn đoán tế bào học Tzanck thấy tế bào khổng lồ là hình ảnh hỗ trợ cho chẩn đoán bệnh này.5.2. Chẩn đoán phân biệt

– Zona, chốc bọng nước nhỏ, eczema thể đồng tiền, bệnh Duhring-Brocq, áp tơ miệng.

– Các loét ở sinh dục khác như: Hạ cam, giang mai, vết loét do sang chấn vùng sinh dục, săng ghẻ, pemphigus, Behçet, Crohn’ disease…

– Chẩn đoán phân biệt với các bệnh: nhiễm liên cầu, bệnh bạch hầu, tưa miệng, áp tơ, viêm họng mụn nước do coxsackievirus, hội chứng Stevens- Johnson, hồng ban cố định nhiễm sắc.6. ĐIỀU TRỊ6.1. Nguyên tắc chung

– Điều trị bao gồm chống bội nhiễm tại thương tổn, chống vi rút và cần tư vấn cho người bệnh về khả năng bệnh tái phát, đề phòng biến chứng trong đó có eczema herpeticum, đề phòng lây nhiễm cho người khác.

– Điều trị cần được tiến hành càng sớm càng tốt đối với nhiễm HSV sơ phát mà không cần chờ kết quả xét nghiệm. Thuốc chống vi rút sẽ làm giảm triệu chứng toàn thân, hạn chế sự lan rộng của HSV tại chỗ. Liệu trình điều trị đối với nhiễm sơ phát ít nhất 10 ngày.

– Nhiễm HSV sinh dục cần được tư vấn điều trị cho bạn tình và phòng tránh nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, trong đó có nhiễm HIV.

– Nếu có bội nhiễm dùng kháng sinh phổ rộng.

– Tăng cường sức khoẻ bằng chế độ dinh dưỡng nhiều đạm, vitamin và chế độ nghỉ ngơi thích hợp.7. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

Vắc xin mới trong giai đoạn thử nghiệm.

Cần tuyên truyền giáo dục y tế về sức khoẻ sinh sản và an toàn tình dục.

Nhiễm Herpes Sinh Dục Điều Trị Và Điều Trị Dự Phòng

 1. DIỄN BIẾN TỰ NHIÊN CỦA QUÁ TRÌNH LÂY NHIỄM      Nhiễm HSV sinh dục là một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục phổ biến trên thế giới. Hầu hết nhiễm herpes sinh dục do nhiễm HSV-2 nhưng nhiễm HSV-1 cũng gây ra những biểu hiện lâm sàng tương tự. Điều trị bằng thuốc kháng virus có thể rút ngắn thời gian xuất hiện các biểu hiện lâm sàng. Bệnh nhân không điều trị có thể dẫn tới các biến chứng và tỷ lệ tử vong cũng đáng kể. Bệnh thường tái phát và có thể điều trị dự phòng bằng các thuốc kháng virus. Các lần tái phát có thể không có triệu chứng hoặc triệu chứng không điển hình nhất là ở phụ nữ (dễ nhầm với nứt kẽ hoặc viêm da kích ứng vùng sinh dục). Hơn nữa, thời gian xuất hiện thương tổn trung bình của đợt tái phát ngắn hơn so với sơ nhiễm (10 so với 19 ngày) và thời gian phát tán virus cũng thấp hơn (2 so với 9 ngày) [5]. Sau cùng, điều trị bằng thuốc kháng virus không tiêu diệt được virus tiềm ẩn, không giảm được số lần và mức độ nặng của tái phát khi dừng thuốc.2. CÁC THUỐC KHÁNG VIRUS      Các thuốc kháng virus như acyclovir, famciclovir và valacyclovir cho thấy hiệu quả tương đương trong điều trị sơ nhiễm HSV cũng như làm giảm khả năng lây truyền của bệnh [6,7]. Famciclovir và valacyclovir có sinh khả dụng đường uống tốt hơn acyclovir. Thuốc bôi tại chỗ có hiệu quả đối với các thương tổn ở vùng rìa niêm mạc và không nên sử dụng [8]. Độ an toàn và khả năng dung nạp của cả 3 thuốc đều tốt.3. ĐIỀU TRỊ SƠ NHIỄM HSV      Sơ nhiễm HSV có thể khiến các biểu hiện trên lâm sàng dài hơn với thương tổn là các vết loét nặng, chúng ta nên điều trị bằng thuốc kháng virus cho tất cả các trường hợp sơ nhiễm HSV. Bắt đầu sử dụng các thuốc kháng virus sớm trong vòng 72 giờ sau khi xuất hiện thương tổn sẽ làm giảm thời gian bị bệnh cũng như mức độ trầm trọng của bệnh nhiều ngày cho tới nhiều tuần [9]. Hơn nữa, điều trị bằng các thuốc kháng virus còn làm giảm nguy cơ xuất hiện các biến chứng của sơ nhiễm như viêm màng não và rối loạn đám rối thần kinh cùng cụt [10].       So sánh hiệu quả điều trị sơ nhiễm HSV bằng famciclovir và acyclovir. Trong 3 thử nghiệm lâm sàng mù đôi có đối chứng với các liều famciclovir khác nhau (125, 250, 500 và 750mg) so với điều trị bằng acyclovir trong 5 hoặc 10 ngày trong số 951 bệnh nhân. Một phần ba trong số bệnh nhân đăng ký tham gia các thử nghiệm này nhiễm HSV tiên phát [12]. Famciclovir uống 3 lần/ngày và acyclovir 5 lần/ngày. So sánh thời gian phát tán virus, thời gian lành thương trung bình và thời gian cải thiện thể trạng giữa các nhánh uống famciclovir và acyclovir trong 10 ngày cho thấy famciclovir liều 125mg không hiệu quả bằng các liều khác.Valacyclovir so với acyclovir – Valacyclovir và acyclovir có hiệu quả tương đồng, trong khi số lần uống valacyclovir ít hơn acyclovir. Trong một thử nghiệm đa trung tâm so sánh, đối chứng, 643 bệnh nhân người lớn sơ nhiễm HSV sinh dục được chỉ định điều trị 10 ngày bằng acyclovir 200 mg, 5 lần/ngày hoặc valacyclovir 1000 mg 2 lần/ngày [13]. Người ta thấy không có sự khác biệt giữa 2 phác đồ trên đối với thời gian lành thương, thời gian đau, thời gian hết sạch triệu chứng và thời gian phát tán virus.Valacyclovir so với famcyclovir – Không có nghiên cứu nào trực tiếp so sánh hiệu quả của 2 loại thuốc này trong điều trị sơ nhiễm HSV sinh dục.Biến chứng của HSV – Có thể chúng ta sẽ cần đến các liệu pháp điều trị khác đường uống trong những trường hợp sơ nhiễm HSV sinh dục kết hợp với một số dấu hiệu lâm sàng nặng như:      – Các bệnh lý của thần kinh trung ương như viêm màng não vô khuẩn, viêm não hoặc viêm tuỷ cắt ngang;      – Viêm gan hoặc viêm thành phế nang;      – Nhiễm HSV lan toả.      Có thể chúng ta sẽ cần kéo dài liệu trình trị liệu đối với những bệnh nhân suy giảm miễn dịch do bệnh ở những bệnh nhân này thường trầm trọng hơn và kéo dài hơn.Điều trị triệu chứng ở bệnh nhân nhiễm HSV tiên phát – Bệnh nhân nhiễm HSV tiên phát có thể có những triệu chứng khá nặng tại chỗ như đau tại vết loét hoặc vùng cùng cụt. Điều trị bằng thuốc giảm đau hoặc hướng dẫn tắm rửa vệ sinh vùng sinh dục (tắm ngồi – Sitz baths) nhất là đối với phụ nữ đi tiểu khó, có nhiều vết loét sinh dục. Những bệnh nhân nữ phàn nàn tiểu tiện khó có thể đã xuất hiện nhiễm trùng đường tiết niệu thứ phát. Đặt thông tiểu trong những trường hợp này trong vài ngày, có khi đến hàng tuần, trước khi đặt có thể cho họ sử dụng thuốc giảm đau.Thời điểm bắt đầu điều trị – Bắt đầu điều trị khi nào cũng là yếu tố rất quan trọng để đạt được hiệu quả cải thiện lâm sàng một cách tối đa. Hầu hết các nghiên cứu đều đánh giá và khuyến cáo chúng ta nên bắt đầu sử dụng thuốc trong vòng 72 giờ sau khi xuất hiện các dấu hiệu trên lâm sàng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên cho bệnh nhân sử dụng thuốc kháng virus trong những trường hợp đến họ đến sau thời điểm trên.Tóm tắt điều trị nhiễm HSV sinh dục tiên phát – So với không điều trị gì thì điều trị bằng thuốc kháng virus đường uống giúp làm giảm đáng kể thời gian và mức độ của bệnh với những tác dụng không mong muốn của thuốc là tối thiểu. Do đó, chúng tôi khuyến cáo sử dụng thuốc kháng virus đường uống cho tất cả những trường hợp nhiễm HSV tiên phát không có biến chứng. Với bất kỳ loại thuốc nào trong 3 loại thuốc sẵn có tại tất cả các cơ sở điều trị, hiệu quả tương đương (14-17]. Valacyclovir là thuốc phải uống số lần ít nhất so với 2 loại khác trong khi acyclovir là loại rẻ nhất. Thời gian điều trị là 7 – 10 ngày. Chúng tôi đồng thuận với hướng dẫn điều trị của CDC năm 2024, khuyến cáo một trong ba phác đồ sau:      – Acyclovir 400mg 3 lần/1 ngày hoặc 200mg 5 lần/ngày hoặc      –  Famcyclovir 250mg 3 lần/ngày hoặc      – Valacyclovir 1000mg 2 lần/ngày.4. ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG TÁI PHÁTCác phương pháp điều trị dự phòng – Đối với những bệnh nhân tái nhiễm HSV sinh dục, các yếu tố chúng tôi cân nhắc để đưa ra chiến lược quản lý điều trị phù hợp bao gồm: tần suất tái phát, mức độ trầm trọng của bệnh và nguy cơ lây truyền virus cho bạn tình chưa nhiễm của họ. Thày thuốc và bệnh nhân cần phải biết, quá trình lây truyền virus diễn ra ngay cả khi không có triệu chứng. Một số lựa chọn cụ thể:      –  Điều trị dự phòng liên tục: Uống thuốc kháng virus hàng ngày, phương pháp này thường áp dụng cho những người hay tái phát và có bạn tình không nhiễm HSV;      –  Điều trị dự phòng gián đoạn: Bệnh nhân uống thuốc kháng virus ngay khi mới phát hiện các dấu hiệu tiền triệu của bệnh như ngứa, cảm cúm, tiểu khó;      –  Không can thiệp gì: áp dụng cho những người bệnh ít tái phát hoặc những người mắc bệnh nhẹ.So sánh giữa điều trị dự phòng liên tục và gián đoạn – Không nhiều số liệu so sánh 2 phương pháp này, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm của nó.             Hiệu quả lâm sàng – Một thử nghiệm lâm sàng sử dụng acyclovir có đối chứng với giả dược trên 156 bệnh nhân hay tái phát (trên 6 lần/năm). So sánh điều trị dự phòng liên tục 400 mg 2 lần/ngày và dự phòng gián đoạn 200 mg 5 lần/ngày trong 5 ngày [18]. Kết quả cho thấy dự phòng liên tục có những ưu việt so với các phương pháp kia như sau:      – Tăng thời gian tái phát trung bình (280 ngày so với 28 ngày của phương pháp dự phòng gián đoạn và 23 ngày của phương pháp giả dược);      – Giảm số ngày trung bình bị bệnh trong tháng (0,32 so với 4,18 và 4,72).Chất lượng cuộc sống – Những ưu việt về chất lượng cuộc sống của phương pháp dự phòng liên tục cũng được thể hiện [19,20]. Điều này được thể hiện trong một nghiên cứu đa trung tâm, nhãn mở, ngẫu nhiên, hai nhánh, cắt ngang trên 225 bệnh nhân. Một nhánh điều trị dự phòng gián đoạn bằng valacyclovir 500 mg 2 lần/ngày trong 5 ngày so với nhánh kia 500 mg mỗi ngày. Bệnh nhân tái phát trung bình 6 lần/năm trước khi bắt đầu nghiên cứu. Kết quả như sau:      –  Nhóm điều trị dự phòng liên tục có tỷ lệ tái phát thấp hơn 78% so với nhóm dự phòng gián đoạn;      –  Không phát hiện biến cố sử dụng thuốc nào trong thời gian nghiên cứu 48 tuần;      – Trong số 202 người tham gia đủ 48 tuần nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân thích hiệu quả của phương pháp dự phòng liên tục cao hơn phương pháp gián đoạn (72% so với 28%).Những vấn cần cân nhắc trước áp dụng phương pháp điều trị dự phòng:      – Tần suất tái phát của bệnh;      – Tuân thủ điều trị của bệnh nhân;      – Yếu tố tâm lý bệnh nhân;      – Độc tính của thuốc;      – Chi phí điều trị; Chúng tôi thống nhất với hướng dẫn điều trị dự phòng tái phát HSV sinh dục của CDC năm 2024 như sau:Phương pháp dự phòng gián đoạn:      – Acyclovir: 800 mg 3 lần/ngày trong 2 ngày hoặc 800 mg 2 lần/ngày trong 5 ngày hoặc 400 mg 3 lần/ngày trong 5 ngày;      – Famcyclovir: 1000 mg 2 lần 1 ngày duy nhất hoặc 125 mg 2 lần/ngày trong 5 ngày hoặc 500 mg 1 lần sau đó 250 mg 2 lần/ngày trong 2 ngày tiếp theo;      – Valacyclovir 500 mg 2 lần/ngày trong 3 ngày hoặc 1000 mg 1 lần/ngày trong 5 ngày.Phương pháp dự phòng liên tục:      – Acyclovir: 400 mg 2 lần/ngày;      – Famcyclovir: 250 mg 2 lần/ngày;      – Valacyclovir 500 mg 1 lần/ngày hoặc 1000 mg 1 lần/ngày. Chúng tôi ưa thích phác đồ valacyclovir 500 mg 1 lần/ngày hơn, với những bệnh nhân tái phát trên 10 lần/năm chúng tôi áp dụng phác đồ valacyclovir 1000 mg 1 lần/ngày; Liệu pháp điều trị dự phòng liên tục được khuyến cáo trong 6 năm, chúng ta nên tiến hành đánh giá lại việc sử dụng thuốc kháng virus điều trị dự phòng liên tục để tiên lượng trong bối cảnh chưa rõ về lợi ích – nguy cơ trong 6 năm đó.5. ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LIÊN TỤC CHO CẶP BẠN TÌNH DỊ NHIỄM (Một người nhiễm HSV người còn lại không nhiễm – ND): Kính mời độc giả tìm đọc trong những chuyên đề chuyên biệt6. KHUYẾN CÁO ĐẶC BIỆT VỚI NGƯỜI NHIỄM HIV      Bệnh nhân nhiễm HIV có hệ miễn dịch suy giảm có thể có biểu hiện lâm sàng nhiễm HSV sinh dục dài hơn, nặng hơn người không nhiễm HIV. Điều trị bằng thuốc kháng HIV (ART) có thể cũng sẽ tác động trên HSV làm giảm mức độ trầm trọng của bệnh, giảm tần suất xuất hiện các triệu chứng thứ phát đường sinh dục. Tuy nhiên, các biểu hiện lâm sàng có thể nặng hơn ở giai đoạn mới bắt đầu sử dụng thuốc ART do cơ chế phục hồi miễn dịch [14].      Điều trị dự phòng liên tục hay gián đoạn bằng các thuốc chống virus như acyclovir, famciclovir hay valacyclovir có thể giảm các biểu hiện lâm sàng của nhiễm HSV trong số những người nhiễm HIV. Tuy nhiên CDC đã khuyến cáo cần sử dụng liều cao hơn, thời gian điều trị dự phòng dài hơn ở người nhiễm HIV, cụ thểPhương pháp dự phòng liên tục:      – Acyclovir: 400 – 800 mg 2 – 3 lần/ngày;      – Famcyclovir: 500 mg 2 lần/ngày;      – Valacyclovir 500 mg 2 lần/ngày.Phương pháp dự phòng gián đoạn:      – Acyclovir: 400 mg 3 lần/ngày trong 5 – 10 ngày;      – Famciclovir: 500 mg 2 lần 1 ngày 5 – 10 ngày;      –  Valacyclovir 1000 mg 2 lần/ngày trong 5 – 10 ngày.      Vấn đề HSV-2 kháng acyclovir trong phương pháp điều trị dự phòng liên tục chưa quá trầm trọng. Trong 2 nghiên cứu lớn, tỷ lệ này chỉ là 0,18% và 0,32%. Thậm chí phân lập được HSV kháng thuốc từ bệnh nhân có hệ miễn dịch khoẻ mạnh, virus này rất hiếm gặp, không đáng lo ngại, không ảnh hưởng đến những hiệu quả trên lâm sàng.      Tuy nhiên người ta lại phát hiện hiện tượng kháng thuốc ở những bệnh nhân có HIV điều trị lâu dài. Khi đã khẳng định kháng acyclovir thì cũng cần phải xem xét vấn đề kháng chéo với famciclovir và valacyclovir. Lúc này thì phải tính đến việc sử dụng foscarnet trên lâm sàng.8. PHÁT TRIỂN CÁC THUỐC KHÁNG VIRUS      Hiện nay, người ta đang nghiên cứu sử dụng pritelivir để điều trị HSV-2. Pritelivir là một thuốc ức chế phức hợp helicase-primase của HSV-2, cơ chế hoạt động của thuốc khác với cơ chế tương tự nucleoside của acyclovir, famciclovir và valacyclovir. Trong một nghiên cứu trên 156 người có HSV-2 dương tính và có tiền sử herpes sinh dục. Đối tượng nghiên cứu được phân một cách ngẫu nhiên vào nhóm sử dụng giả dược hay một trong 4 liều pritelivir (5 mg/ngày; 25 mg/ngày; 75 mg/ngày hoặc 400 mg/tuần) trong 28 ngày [54]. Xét nghiệm PCR hàng ngày để phát hiện HSV-2. Những người sử dụng liều cao (75mg/ngày hoặc 400mg/tuần) có tỷ lệ giảm đáng kể tỷ lệ lây truyền virus và số ngày trung bình có thương tổn. Nguy cơ tương đối của lây truyền virus giữa nhóm sử dụng pritelivir và giả dược là 0,13 (95% Cl, 0,04 – 0,38) với nhóm dùng liều 75 mg/ngày và 0,32 (95% Cl 0,17 – 0,59) ở nhóm dùng liều 400 mg/tuần. Tỷ lệ phần trăm số ngày có thương tổn cũng giảm ở 2 nhóm sử dụng liều cao (1,2% ở cả 2 nhóm liều cao so với 9% ở nhóm giả dược). Hai nhóm sử dụng pritelivir liều thấp kết quả tương tự nhóm giả dược. Tuy nhiên pritelivir có gây độc trên khỉ nên FDA còn đang xem xét, trong tương lai có thuốc này hay không còn chưa rõ ràng.9. TƯ VẤN CHO BỆNH NHÂN – Mục tiêu của tư vấn cho bệnh nhân và bạn tình của họ là để bệnh nhân hiểu được vấn đề chẩn đoán bệnh của họ, dự phòng như thế nào và tránh các hiểu nhầm về bệnh tật. Cần phải cho bệnh nhân biết về tiền sử lây nhiễm của họ và nhấn mạnh đến khái niệm lan truyền virus, khả năng tái phát và lan truyền virus ngay cả khi không có biểu hiện lâm sàng.10. THÔNG TIN CHO NGƯỜI BỆNH      Bên cạnh bài báo chuyên khảo này, UpToDate cung cấp 2 loại tài liệu hướng dẫn bệnh nhân, tạm gọi là “cơ bản” và “nâng cao”. Loại “cơ bản” viết dưới ngôn ngữ dễ hiểu (cấp độ đọc 5-6, cách phân loại của Mỹ ND). Tại đây, người ta trả lời 4 – 5 câu hỏi mà người bệnh hay đặt ra trong các tình huống. Loại tài liệu này rất tốt cho những người muốn tìm thiểu thông tin chung về bệnh, ngắn gọn, súc tích, đơn giản, dễ hiểu. Loại tài liệu “nâng cao” viết dài hơn, chuyên môn sâu hơn và chi tiết hơn. Loại tài liệu “nâng cao” có cấp độ đọc 10 – 12, tốt cho những người muốn tìm hiểu sâu hơn về bệnh và có khả năng hiểu được những thuật ngữ chuyên ngành y tế. Với các bài báo giáo dục bệnh nhân, tác giả khuyên chúng ta in ra hoặc email cho người bệnh để họ đọc.

 Tin, bài dịch: Bác sỹ Vũ Thanh TùngĐăng tin: Phòng CNTT&GDYT

11. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Gupta R, Warren T, Wald A. Genital herpes. Lancet 2007; 370:2127. 2. Corey L, Mindel A, Fife KH, et al. Risk of recurrence after treatment of first-episode genital herpes with intravenous acyclovir. Sex Transm Dis 1985; 12:215. 3. Corey L, Adams HG, Brown ZA, Holmes KK. Genital herpes simplex virus infections: clinical manifestations, course, and complications. Ann Intern Med 1983; 98:958 4. Benedetti JK, Zeh J, Corey L. Clinical reactivation of genital herpes simplex virus infection decreases in frequency over time. Ann Intern Med 1999; 131:14. 5. Mertz GJ, Critchlow CW, Benedetti J, et al. Double-blind placebo-controlled trial of oral acyclovir in firstepisode genital herpes simplex virus infection. JAMA 1984; 252:1147. 6. Perry CM, Wagstaff AJ. Famciclovir. A review of its pharmacological properties and therapeutic efficacy in herpesvirus infections. Drugs 1995; 50:396. 7. Perry CM, Faulds D. Valaciclovir. A review of its antiviral activity, pharmacokinetic properties and therapeutic efficacy in herpesvirus infections. Drugs 1996; 52:754. 8. Corey L, Benedetti J, Critchlow C, et al. Treatment of primary first-episode genital herpes simplex virus infections with acyclovir: results of topical, intravenous and oral therapy. J Antimicrob Chemother 1983; 12 Suppl B:79. 9. Cernik C, Gallina K, Brodell RT. The treatment of herpes simplex infections: an evidence-based review. Arch Intern Med 2008; 168:1137. 10. Corey L, Fife KH, Benedetti JK, et al. Intravenous acyclovir for the treatment of primary genital herpes. Ann Intern Med 1983; 98:914. 11. Bryson YJ, Dillon M, Lovett M, et al. Treatment of first episodes of genital herpes simplex virus infection with oral acyclovir. A randomized double-blind controlled trial in normal subjects. N Engl J Med 1983; 308:916. 12. Loveless M, Sacks SL, Harris JRW. Famciclovir in the management of first- episode genital herpes. Infect Dis Clin Pract 1997; 6:S12. 13. Fife KH, Barbarash RA, Rudolph T, et al. Valaciclovir versus acyclovir in the treatment of first-episode genital herpes infection. Results of an international, multicenter, double-blind, randomized clinical trial. The Valaciclovir International Herpes Simplex Virus Study Group. Sex Transm Dis 1997; 24:481. 14. Workowski KA, Bolan GA, Centers for Disease Control and Prevention. Sexually transmitted diseases treatment guidelines, 2024. MMWR Recomm Rep 2024; 64:1. 15. Wald A, Benedetti J, Davis G, et al. A randomized, double-blind, comparative trial comparing high- and standard-dose oral acyclovir for first-episode genital herpes infections. Antimicrob Agents Chemother 1994; 38:174. 16. Drugs for sexually transmitted infections. Treat Guidel Med Lett 2004; 2:67. 17. Drugs for non-HIV viral infections. Treat Guidel Med Lett 2005; 3:23. 18. Mattison HR, Reichman RC, Benedetti J, et al. Double-blind, placebo-controlled trial comparing long-term suppressive with short-term oral acyclovir therapy for management of recurrent genital herpes. Am J Med 1988; 85:20. 19. Fife KH, Almekinder J, Ofner S. A comparison of one year of episodic or suppressive treatment of recurrent genital herpes with valacyclovir. Sex Transm Dis 2007; 34:297. 20. Mills J, Mindel A. Genital herpes simplex infections: some therapeutic dilemmas. Sex Transm Dis 2003; 30:232. 21. Patel R, Stanberry L, Whitley RJ. Review of recent HSV recurrent-infection treatment studies. Herpes 2007; 14:23. 22. Lebrun-Vignes B, Bouzamondo A, Dupuy A, et al. A meta-analysis to assess the efficacy of oral antiviral treatment to prevent genital herpes outbreaks. J Am Acad Dermatol 2007; 57:238. 24. Corey L, Bodsworth N, Mindel A, et al. An update on short-course episodic and prevention therapies for herpes genitalis. Herpes 2007; 14 Suppl 1:5A. 25. Reichman RC, Badger GJ, Mertz GJ, et al. Treatment of recurrent genital herpes simplex infections with oral acyclovir. A controlled trial. JAMA 1984; 251:2103. 26. Wald A, Carrell D, Remington M, et al. Two-day regimen of acyclovir for treatment of recurrent genital herpes simplex virus type 2 infection. Clin Infect Dis 2002; 34:944. 27. Goldberg LH, Kaufman R, Conant MA, et al. Oral acyclovir for episodic treatment of recurrent genital herpes. Efficacy and safety. J Am Acad Dermatol 1986; 15:256. 28. Sacks SL, Aoki FY, Diaz-Mitoma F, et al. Patient-initiated, twice-daily oral famciclovir for early recurrent genital herpes. A randomized, double-blind multicenter trial. Canadian Famciclovir Study Group. JAMA 1996; 276:44. 29. Aoki FY, Tyring S, Diaz-Mitoma F, et al. Single-day, patient-initiated famciclovir therapy for recurrent genital herpes: a randomized, double-blind, placebo-controlled trial. Clin Infect Dis 2006; 42:8. 30. Abudalu M, Tyring S, Koltun W, et al. Single-day, patient-initiated famciclovir therapy versus 3-day valacyclovir regimen for recurrent genital herpes: a randomized, double-blind, comparative trial. Clin Infect Dis 2008; 47:651. 31. Spruance SL, Tyring SK, DeGregorio B, et al. A large-scale, placebo-controlled, dose-ranging trial of peroral valaciclovir for episodic treatment of recurrent herpes genitalis. Valaciclovir HSV Study Group. Arch Intern Med 1996; 156:1729. 32. Saiag P, Praindhui D, Chastang C. A double-blind, randomized study assessing the equivalence of valacyclovir 1000 mg once daily versus 500 mg twice daily in the episodic treatment of recurrent genital herpes. Genival Study Group. J Antimicrob Chemother 1999; 44:525. 33. Leone PA, Trottier S, Miller JM. Valacyclovir for episodic treatment of genital herpes: a shorter 3-day treatment course compared with 5-day treatment. Clin Infect Dis 2002; 34:958. 34. Strand A, Patel R, Wulf HC, et al. Aborted genital herpes simplex virus lesions: findings from a randomised controlled trial with valaciclovir. Sex Transm Infect 2002; 78:435. 35. Bodsworth NJ, Crooks RJ, Borelli S, et al. Valaciclovir versus aciclovir in patient initiated treatment of recurrent genital herpes: a randomised, double blind clinical trial. International Valaciclovir HSV Study Group. Genitourin Med 1997; 73:110. 36. Corey L, Wald A, Patel R, et al. Once-daily valacyclovir to reduce the risk of transmission of genital herpes. N Engl J Med 2004; 350:11. 37. Reitano M, Tyring S, Lang W, et al. Valaciclovir for the suppression of recurrent genital herpes simplex virus infection: a large-scale dose range-finding study. International Valaciclovir HSV Study Group. J Infect Dis 1998; 178:603. 38. Straus SE, Croen KD, Sawyer MH, et al. Acyclovir suppression of frequently recurring genital herpes. Efficacy and diminishing need during successive years of treatment. JAMA 1988; 260:2227. 39. Molin L, Ruhnek-Forsbeck M, Svennerholm B. One year acyclovir suppression of frequently recurring genital herpes: a study of efficacy, safety, virus sensitivity and antibody response. Scand J Infect Dis Suppl 1991; 80:33. 40. Douglas JM, Critchlow C, Benedetti J, et al. A double-blind study of oral acyclovir for suppression of recurrences of genital herpes simplex virus infection. N Engl J Med 1984; 310:1551. 41. Mertz GJ. Management of genital herpes. Adv Exp Med Biol 1996; 394:1. 42. Mertz GJ, Loveless MO, Levin MJ, et al. Oral famciclovir for suppression of recurrent genital herpes simplex virus infection in women. A multicenter, double-blind, placebo-controlled trial. Collaborative Famciclovir Genital Herpes Research Group. Arch Intern Med 1997; 157:343. 43. Sacks SL. Famciclovir suppression of asymptomatic and symptomatic recurrent anogenital herpes simplex virus shedding in women: a randomized, double-blind, double-dummy, placebo-controlled, parallel-group, single-center trial. J Infect Dis 2004; 189:1341. 44. Patel R, Bodsworth NJ, Woolley P, et al. Valaciclovir for the suppression of recurrent genital HSV infection: a placebo controlled study of once daily therapy. International Valaciclovir HSV Study Group. Genitourin Med 1997; 73:105. 45. Wald A, Selke S, Warren T, et al. Comparative efficacy of famciclovir and valacyclovir for suppression of recurrent genital herpes and viral shedding. Sex Transm Dis 2006; 33:529. 46. Gupta R, Wald A, Krantz E, et al. Valacyclovir and acyclovir for suppression of shedding of herpes simplex virus in the genital tract. J Infect Dis 2004; 190:1374. 47. Whitley RJ, Kimberlin DW, Roizman B. Herpes simplex viruses. Clin Infect Dis 1998; 26:541. 48. Balfour HH Jr. Resistance of herpes simplex to acyclovir. Ann Intern Med 1983; 98:404. 49. Parker AC, Craig JI, Collins P, et al. Acyclovir-resistant herpes simplex virus infection due to altered DNA polymerase. Lancet 1987; 2:1461. 50. Reyes M, Shaik NS, Graber JM, et al. Acyclovir-resistant genital herpes among persons attending sexually transmitted disease and human immunodeficiency virus clinics. Arch Intern Med 2003; 163:76. 51. Danve-Szatanek C, Aymard M, Thouvenot D, et al. Surveillance network for herpes simplex virus resistance to antiviral drugs: 3-year follow-up. J Clin Microbiol 2004; 42:242.  52. Englund JA, Zimmerman ME, Swierkosz EM, et al. Herpes simplex virus resistant to acyclovir. A study in a tertiary care center. Ann Intern Med 1990; 112:416. 53. Mertz GJ, Jones CC, Mills J, et al. Long-term acyclovir suppression of frequently recurring genital herpes simplex virus infection. A multicenter double-blind trial. JAMA 1988; 260:201. 54. Wald A, Corey L, Timmler B, et al. Helicase-primase inhibitor pritelivir for HSV-2 infection. N Engl J Med 2014; 370:201.  

Nhiễm Nấm Candida Toàn Thân Chị Em Đừng Bỏ Qua Những Thông Tin Quan Trọng Này

Bài nên đọc:

Nguyên nhân bị nấm candida toàn thân

Nấm Candida thường xuất hiện ở miệng và bộ phận sinh dục, nhưng không gây nhiều nguy hiểm do có sự khống chế của những vi khuẩn có lợi khác. Khi môi trường vi khuẩn này bị xáo trộn do sức đề kháng của cơ thể bị suy yếu sẽ tạo điều kiện cho nấm Candida phát triển nhanh và gây bệnh ra toàn cơ thể.

Phụ nữ mang thai hoặc uống thuốc tránh thai có estrogen, làm thay đổi nồng độ hormon trong máu cũng là đối tượng dễ bị mắc bệnh nấm candida.

Việc sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nấm và vi khuẩn phát triển. Các bệnh tiểu đường và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác bao gồm cả nhiễm HIV.

Nhiều phụ nữ bị nhiễm nấm nhưng không đi điều trị kịp thời, nên nấm phát triển nhanh và lan rộng thành nấm candida toàn thân.

Nấm candida có thể xuất hiện ở móng chân và móng tay

Triệu chứng nhiễm nấm candida toàn thân

Nấm candida toàn thân là tình trạng nhiễm nấm ở nhiều bộ phận của cơ thể. Chị em có thể gặp phải những triệu chứng của bệnh nấm toàn thân này tùy theo những bộ phận bị nhiễm nấm. Cụ thể là:

– Xuất hiện ở miệng: Khi bị nấm candida ở miệng, người bệnh sẽ có cảm giác vô cùng khó chịu, khó nuốt thức ăn, niêm mạc miệng khô có màu đỏ sẫm, trên lưỡi có nhiều lớp vảy màu trắng, quanh miệng xuất hiện các nốt lở loét.

– Xuất hiện ở cơ quan sinh dục: Ở phụ nữ, bệnh có biểu hiện là viêm âm hộ, âm đạo ngứa ngáy khó chịu, khí hư ra nhiều, có mùi hôi. Ở nam giới, thường có triệu chứng ngứa, mẩn đỏ, có vết nứt ở bao quy đầu.

– Xuất hiện trên da: Nấm thường thấy ở vùng nách, dưới vú, mông, những nếp của hậu môn, và ở giữa các ngón tay và ngón chân. Bệnh có biểu hiện đó là xuất hiện những mảng ban đỏ có kích cỡ khác nhau, trên đó có thể có rải rác những mụn nước hoặc những mụn mủ. Móng tay, móng chân cũng bị ảnh hưởng của nấm Candida. Nấm ở những bộ phận này nếu không sớm chữa trị sẽ lây lan thành nấm da toàn thân.

– Biểu hiện khác của nấm candida toàn thân khi nấm xuất hiện ở cơ quan tiêu hóa là viêm thực quản, viêm dạ dày, viêm tiểu đại tràng, viêm trực tràng, viêm hậu môn (có các triệu chứng như rát bỏng ở sau xương ức, buồn nôn, khó nuốt, ợ nóng, tiêu chảy, đau bụng, ngứa hậu môn), gây bệnh nấm đường ruột.

– Xuất hiện ở cơ quan hô hấp: Candida có thể gây ra bệnh viêm phế quản, ho dai dẳng, hen phế quản, khạc đờm thấy có rất nhiều nấm men. Chụp X quang lồng ngực thấy các giải phế quản, mạch máu xuất hiện.

– Xuất hiện ở màng não: Trường hợp này khá hiếm thấy nhưng nếu xảy ra thì sẽ có mầm bệnh ở trong dịch não tủy.

– Xuất hiện ở tim: Mầm bệnh mọc trên bề mặt của các van tim, thường xảy ra ở những người đã dùng thủ thuật thông tim, thay van tim nhân tạo, người nghiện ma túy.

Các loại thuốc bôi điều trị nấm candida trên da

Cách điều trị nấm candida toàn thân

Tùy theo tình hình của bệnh mà bác sĩ sẽ có những phương pháp điều trị phù hợp cho bạn.

– Điều trị nấm miệng: sử dụng nước súc miệng hoặc rửa bằng dung dịch kiềm gentian

– Điều trị nấm trong thực quản: uống nystatin, fluconazol hoặc itraconazol, uống trong vòng 1-3 tuần.

– Điều trị âm đạo: Sử dụng Nystatin uống và đặt thuốc âm đạo. Uống thêm Ketoconazol đối với những trường hợp nặng.

– Điều trị nấm ở bộ phận sinh dục nam: rửa bằng nước sạch kết hợp bôi thuốc dạng gel nystatin.

– Điều trị trên da: Rửa chỗ bị nấm bằng dung dịch tím gentian. Các loại kem bôi như Castelanie, Nystatin, Clotrimazole, Miconazole, Ketoconazole, econazole, Sertaconazole, Oxiconazole bôi mỗi ngày 2 lần và thực hiện liên lục trong 10 ngày.

Không nên sử dụng các dạng kem bôi có thành phần phối hợp kháng nấm/corticosteroid bởi chúng sẽ làm bệnh nặng hơn.

– Đối với điều trị nấm candida toàn thân, bạn có thể sử dụng các loại thuốc:

+ Nystatin có tác dụng tiêu diệt Candida đường ruột, uống 4 lần/ngày

+ Itraconazole uống 2lần/ngày liên tục trong 2 tuần, kết hợp với Fluconazole dạng viên uống 150 mg/ngày.

+ Ketoconazole dạng viên nén, uống hai lần/ngày trong khoảng 2 tuần

+ Amphotericine B dùng cho các trường hợp bị bệnh nghiêm trọng.

Lưu ý khi điều trị nấm candida toàn thân

Bị nấm candida toàn cơ thể cần tuyệt đối tuân thủ những chỉ dẫn chữa trị của bác sĩ vì bệnh này nếu chữa không đúng cách có thể gây ra nhiều nguy hiểm. Sử dụng thuốc nào khi điều trị cần phải thông qua quá trình thăm khám, xác định mức độ bệnh. Chị em không được tự ý mua thuốc về chữa để hạn chế những biến chứng nguy hiểm do dùng thuốc không đúng mang lại.

Bổ sung chế độ ăn uống: Chế độ ăn giàu acidophilus hay bifidus giúp khôi phục lại sự cân bằng bình thường của hệ thực vật trong ruột và âm đạo.

Hạt bưởi, lá ôliu, lô hội, tỏi đều là những loại thực phẩm gây ức chế sự viêm nhiễm, giúp kháng nấm và tiêu diệt các sinh vật candida.

Ăn nhiều trái cây: Trái cây có tác dụng rất tốt với sức khỏe, tăng sức đề kháng và giúp hỗ trợ điều trị bệnh hiệu quả.

Tránh sử dụng các loại pho mát, rượu, bánh, sô cô la, trái cây khô, thực phẩm lên men, ngũ cốc có chứa gluten, giăm bông, mật ong, hạt bơ, dưa chua, khoai tây, nấm, nước tương, giá đỗ và giấm.

Loại bỏ đường khỏi thực đơn hàng ngày khi bị nấm candida toàn thân

Loại bỏ trái cây có nhiều đường, men và chua trong chế độ ăn uống của bạn cho đến khi chữa khỏi bệnh. Bởi những loại trái cây chữa đường và men này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nấm candida phát triển.

Nên ăn mỗi ngày 1 hộp sữa chua không đường. Bạn cũng có thể bôi trực tiếp sữa chua không đường vào các chỗ bị nấm kể cả ở âm đạo vì nó hoàn toàn vô hại.

Khi bị nấm candida toàn thân chị em cần ngưng sử dụng các loại thuốc tránh thai, thuốc kháng sinh, và các thuốc có chứa corticosteroid. Tránh tiếp xúc với các loại hóa chất trong gia đình và chất tẩy rửa như nước khử trùng có clo, băng phiến, quần áo bằng vải dệt tổng hợp.

Uống nhiều nước: Nước cũng có tác dụng điều trị nấm candida rất tốt, vì vậy bạn nên uống nhiều hơn 2 lít nước mỗi ngày.

Ăn nhiều rau xanh, cá, trứng, đậu lăng, các loại hạt, thịt gia cầm và thịt bò. Không nên ăn lạc, hạt điều và những loại rau chứa nhiều tinh bột.

Phương Hoa (tổng hợp)

chúng tôi

Thạc sĩ – Bác sĩ Đỗ Thanh Hà

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhiễm Herpes Lan Tỏa Toàn Thân – Eczema Herpesticum trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!