Xu Hướng 1/2023 # Khoa Quản Lý Thai Nghén Và Chẩn Đoán Trước Sinhkhoa Qltn&Amp;Cđtsphụ Sản Hải Phòng # Top 1 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Khoa Quản Lý Thai Nghén Và Chẩn Đoán Trước Sinhkhoa Qltn&Amp;Cđtsphụ Sản Hải Phòng # Top 1 View

Bạn đang xem bài viết Khoa Quản Lý Thai Nghén Và Chẩn Đoán Trước Sinhkhoa Qltn&Amp;Cđtsphụ Sản Hải Phòng được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Khoa Quản lý thai nghén – Chẩn đoán trước sinh nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Bệnh Viện Phụ Sản Hải Phòng ( 1978-2018) BSCKII. Vương Thị Thu Thủy Q.Trưởng khoa

1. BsCKII. Vương Thị Thu Thủy

* Chức vụ: Q, Trưởng khoa * Trình độ chuyên môn:

– 2018: Bác sỹ chuyên khoa II, Đại học Y dược Hải Phòng

– 2007: Giấy chứng nhận siêu âm 4 chiều trong sản phụ khoa, Bệnh viện Phụ sản trung ương2. BsCKII. Trương Thị Thanh Thủy * Trình độ chuyên môn:

– 2000: Bác sỹ đa khoa, Đại học Y Hải Phòng

– 2007: Bác sỹ chuyên khoa I, Đại học Y hải Phòng

– 2017: Bác sỹ chuyên khoa II, Đại học Y Dược Hải Phòng

– 2011: Giấy chứng nhận siêu âm trong sản phụ khoa, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương

– 2011: Thạc sỹ sản phụ khoa, Đại học Y Hà Nội

– 2014: Chứng chỉ nội soi và điều trị các tổn thương tiền ung thư tại cổ tử cung bằng áp lạnh và loop điện, Đại học Y Hải Phòng

Cơ sở vật chất được xây mới khang trang, rộng rãi, mặt đường Đinh Tiên Hoàng nên thuận tiện cho bệnh nhân đến khám: hệ thống điều hòa tổng ở hành lang, đèn điện, ti vi hiện đại cho người nhà ngồi chờ có thể thấy hình ảnh siêu âm của thai nhi, đảm bảo vệ sinh, mát về mùa hè và ấm về mùa đông.

Hìnhảnhtạiphòngkhámthai Khoa được trang bị hệ thống máy móc thế hệ mới hiện đại phục vụ tốt nhất cho việc khám quản lý thai và sàng lọc trước sinh:

– 01 máy điện tâm đồ Đến quý 3 năm 2019, khoa sẽ chuyển sang khu nhà mới 09 tầng với cơ sỏ hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế.

IV. Quá trình xây dựng và phát triển:

BsCKII. Vũ Đức Thăng

– Ngày đầu mới thành lập, Khoa được sự quản lý, điều hành trực tiếp của PGS.Ts.Vũ Văn Tâm – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc bệnh viện, người có hiểu biết sâu rộng, trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực di truyền, sàng lọc trước sinh… chúng tôi Vũ Văn Tâm đã trực tiếp điều hành hoạt động Khoa, đào tạo, hướng dẫn không chỉ về chuyên môn cho đội ngũ bác sĩ, điều dưỡngcủa Khoa mà cả về tác phong làm việc, tinh thần thái độ giao tiếp ứng xử với người bệnh. Chỉ sau thời gian ngắn,với tác phong làm việc chuyên nghiệp, trình độ, chất lượng chẩn đoán cao,Sau thời gian trực tiếp quản lý, điều hành và đào tạo cho đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng của Khoa, nhận thấy đội ngũ cán bộ của Khoa đã tự đảm nhiệm được công việc, chúng tôi Vũ Văn Tâm đã chủ động rút khỏi công tác quản lý, điều hành Khoa, bổ nhiệm BsCKII. Vũ Đức Thăng, Phó trưởng khoa Sản 3 về Phụ trách Khoa; Ths.Vương Thị Thu Thủy làm Phó trưởng khoa. Tháng 7/2017, Bs Vũ Đức Thăng chính thức được Giám đốc bệnh viện bổ nhiệm là Trưởng khoa Quản lý thai nghén và Chẩn đoán trước sinh. Đến tháng 01/2018, do yêu cầu nhiệm vụ, Bs Vũ Đức Thăng được Giám đốc bệnh viện điều động về khoa Sản 1, giữ chức vụ trưởng khoa Sản 1 thay Bs Phạm Thị Tuyết Mai – Trưởng khoa (nghỉ hưởng chế độ hưu trí); Ths. Vương Thị Thu Thủy, Phó trưởng khoa được giao nhiệm vụ Phụ trách khoa. BsCKI. Trương Thị Thanh Thủy (từ tháng 01/2018) và Ths. Nguyễn Thị Hoàng Trang (từ tháng 02/2019) được Bệnh viện bổ nhiệm chức vụ Phó trưởng khoa.

1. Khám quản lý thai nghén2. Sàng lọc trước sinh các dị tật bẩm sinh thai nhi và bất thường nhiễm sắc thể3. Tiên phong trong phát triển kỹ thuật cao của chẩn đoán trước sinh như chọc ối, làm Karyotype, chẩn đoán tiền phôi, NIPT … kết hợp với các đơn vị bạn sàng lọc những bệnh lýthường gặp trong thai kỳ như: đái tháo đường thai kỳ, Thalassemia…4. Tổ chức lớp tiền sản cung cấp các thông tin hữu ích cho thai phụ và gia đình thai phụ5. Đào tạo và chỉ đạo tuyến về lĩnh vực sàng lọc và chẩn đoán trước sinh V. Chức năng, nhiệm vụ:

6. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sàng lọc và chẩn đoán trước sinh

VI. Các thành tích đã đạt được tính đến tháng 3/2019:

– Chẩn đoán chính xác nhiều trường hợp bất thường thai nhi và phần phụ khó, hiếm gặp như dây rau thắt nút, rau cài răng lược…, dẫn đến xử trí kịp thời, mang lại hạnh phúc trọn vẹn cho bệnh nhân và gia đình.

Một số hình ảnh được chụp từ dàn máy siêu âm 5D tại khoa :

Ghi nhận những thành tích của Khoa, trong ba năm liên tiếp từ khi thành lập Khoa đều được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố tặng giấy khen “tập thể lao động xuất sắc” và Sở y tế tặng giấy khen “Khoa phòng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.Nhiều CBVC của Khoa được Bệnh viện khen tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua, đoàn viên công đoàn xuất sắc.

Ung Thư Tử Cung, Cổ Tử Cung Và Thai Nghén: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Chẩn Đoán Điều Trị Sản Phụ Khoa

Ung thư thân tử cung bắt nguồn từ lốp cơ của tử cung nhưng cũng tác động đến môi trường buồng tử cung cũng như khi khối u phát triển sẽ chèn ép

Ung thư tử cung

Ung thư tử cung bao gồm hai loại:

Ung thư nội mạc tử cung: thường gặp.

Ung thư thân tử cung: ít hơn.

Ung thư nội mạc do tổ chức ung thư phát triển từ niêm mạc của tử cung đã làm biến loạn cấu trúc vi thể của nội mạc tử cung, thay đổi môi trường của buồng tử cung, vì vậy thai không thể làm tổ và phát triển được.

Ung thư thân bắt nguồn từ lốp cơ của nhưng cũng tác động đến môi trường buồng cũng như khi khối u phát triển sẽ chèn ép, lấn chiếm buồng nên không có thai được.

Ung thư tử cung thường gặp ở người sau mãn kinh, vì vậy tỉ lệ gặp trong thai nghén là rất hiếm.

Ung thư cổ tử cung

Ung thư là loại ung thư thường gặp, đứng thứ hai sau ung thư vú. Ung thư được chia làm 5 giai đoạn:

Giai đoạn 0: tổ chức ung thư còn nằm trong tế bào (CIN III hoặc CIS).

Giai đoạn 1: ung thư khu trú ở cổ tử cung.

Giai đoạn 2: ung thư xâm lấn quá cổ tử cung nhưng chưa đến thành xương chậu hay chưa tới 1/3 âm đạo.

Giai đoạn 3: ung thư đã lan thành xương chậu hoặc một phần dưới âm đạo.

Giai đoạn 4: ung thư xâm lấn đến bàng quang hay trực tràng.

Ung thư cổ tử cung ảnh hưởng đến thai nghén

Ở giai đoạn 0, do ung thư chỉ nằm trong tế bào, vì vậy không ảnh hưởng đến sự có thai. Nếu có thai vẫn có thể phát triển cho đến đủ tháng. Tuy nhiên, do phải cắt cụt hoặc khoét chóp cổ tử cung để điều trị nên có tác động đến thai nghén.

Cắt cụt hoặc khoét chóp cổ tử cung sẽ gây nên hở eo tử cung, dẫn đến sảy thai liên tiếp.

Khi khâu vòng để điều trị hở eo ở những trường hợp như vậy sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với những trường hợp không phải cắt cụt hoặc khoét chóp cỗ tử cung do ung thư cỗ tử cung.

Khi thai lớn, nguy cơ đẻ non cao hơn.

Ung thư giai đoạn 1 vẫn có thể có thai được, nhưng do yêu cầu điều trị phải đình chỉ thai nghén.

Do ra máu kéo dài làm cho thai phụ thiếu máu, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, làm thai nhi nhẹ cân, thiếu máu, gây đẻ non.

Ở những giai đoạn muộn hơn, do tổn thương rộng lớn ở cổ tử cung nên thường không thê có thai được. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp phát hiện ra ung thư khi thai đã lớn, nhưng vẫn phải đình chỉ thai nghén để điều trị ung thư cho nên gây sấy thai hay mo lấy thai làm trẻ sơ sinh nằm trong tình trạng non yếu và tỉ lệ tử vong cao.

Do tổn thương ở cổ tử cung ngăn cản sự tiến triển của ngôi thai và không thể đẻ qua đường âm đạo được hoặc gây chảy máu, vì vậy phải mổ lấy thai.

Thai nghén ảnh hưởng đến ung thư cổ tử cung

Khi có thai, thai phụ giảm miễn dịch làm cho bệnh phát triển nhanh hơn và nặng hơn.

Vì những lý do muốn giữ thai cho đến đủ tháng, vì vậy đã trì hoãn thời gian điều trị tích cực bằng phẫu thuật cũng như bổ sung bằng hoá chất hoặc xạ trị đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều trị.

Trong giai đoạn 1, phải phá thai trước khi phẫu thuật hay tia xạ, sự nong nạo đã làm tổn thương cổ tử cung, làm cho tổ chức ưng thư có điều kiện lan đi xa hơn.

Sau khi sinh, phải chờ hết thời kỳ hậu sản để tử cung trở về giải phẫu bình thường cũng như hồi phục sức khoẻ sau đẻ mới tiến hành điều trị ung thư đã làm chậm thời gian điều trị.

Điều trị

Giai đoạn 0: nếu bệnh nhân còn trẻ, có nguyện vọng muốn có con, chỉ định khoét chóp hoặc cắt cụt cố tử cung. Người ta nghiêng về khoét chóp nhiều hơn là cắt cụt co tử cung, vì hậu quả sản khoa ít nặng nề hơn. Nhưng thực hiện chỉ định này phải đảm bảo hai điều kiện bắt buộc:

Kết quả giải phẫu bệnh phải khẳng định đã lấy hết được tổ chức bệnh.

Bệnh nhân phải được xét nghiệm tế bào học cổ tử cung 6 tháng một lần để phát hiện sớm những tế bào bất thường.

Giai đoạn 1: đình chỉ thai nghén tiến hành điều trị ung thư sớm. Một số trường phải điều trị bằng tia xạ để khu trú tổn thương tại cổ tử cung, thai nhi sẽ chết, nạo hút thai xong tiến hành phẫu thuật và tia xạ.

Những giai đoạn muộn hơn, nếu muốn giữ thai, chờ đủ tháng, mổ lấy thai, cắt tử cung hoàn toàn, chờ ổn định, sau mổ sẽ xạ trị.

Nguồn: Internet.

Nguồn: Điều trị (https://www.dieutri.vn/bgsanphukhoa/bai-giang-ung-thu-tu-cung-co-tu-cung-va-thai-nghen/)

U Nang Buồng Trứng Và Thai Nghén

Khối u buồng trứng trong thai kỳ là những khối u thực thể của buồng trứng được phát hiện trước khi có thai nhưng tiếp tục tồn tại trong khi có thai hoặc phát hiện trong thời gian mang thai, trong chuyển dạ hoặc ngay sau đẻ (trong vòng 24 giờ). Hoặc u nang này có thể phát triển từ nang hoàng thể khi mang thai, nang này làm nhiệm vị sản sinh nội tiết giúp thai bám chắc vào tử cung và phát triển trong 3 tháng đầu. Nhưng vì nguyên nhân nào đó sau 3 tháng đầu nang này không mất đi mà phát triển thành u nang thực thể.

Ảnh hưởng của u nang buồng trứng với phụ nữ mang thai

– Gây sảy thai: U nang buồng trứng có thể gây sảy thai trong 3 tháng đầu do nội tiết kém (hoàng thể phát triển không đầy đủ trong 3 tháng đầu). Khi thai bắt đầu to lên thì khối u nang buồng trứng dễ chèn ép vào tử cung, kích thích tử cung, làm cho tử cung co bóp nên thai bị đẩy ra ngoài.

– Gây đẻ non: Thai nhi vẫn phát triển bình thường trong hai quý đầu, nhưng sang quý ba, tử cung phát triến nhanh, khôi u to chèn tử cung, kích thích tử cung co bóp gây đẻ non.

– Cản trở sự bình chỉnh ngôi thai: do khối u của buồng trứng chèn ép vào tử cung làm cho thai khó bình chỉnh trong tử cung (đầu thai nhi khó quay xuống dưới khi người mẹ gần ngày sinh), vì vậy thường gặp ngôi bât thường như ngôi ngang, ngôi ngược hoặc ngôi đầu, cao lỏng.

– Chuyển dạ sinh khó khăn: Khi chuyển dạ, nếu khối u bé, kẹt trong tiêu khung tạo thành khôi u tiên đạo, ngăn cản cho ngôi thai không thể tiến vào lòng tiêu khung được, cản trở sự tiên triển cuộc chuyến dạ, nên phải mổ lấy thai.

Khi bị xoắn, triệu chứng như xoắn cuống nang của khối u buồng trứng ỏ ngoài thời kỳ thai nghén, gây nên hội chứng cấp cứu bụng ngoại khoa và phải xử trí cấp cứu. Tuy nhiên việc chẩn đoán khó khăn hơn, vì khi có thai tử cung cũng mềm nên dễ nhầm lẫn với triệu chứng của doạ sảy thai.

Nếu khối u không bị xoắn thì có thể mổ vào quý II, vì lúc này thai đã lớn và phát triển, khả năng bị sảy ít hơn.

Trước khi mổ sản phụ sẽ phải sử dụng một số thuốc như: thuốc giảm co papaverin và progesteron để tránh tử cung bị kích thích, tăng co bóp gây sảy thai. Sau mổ sản phụ vẫn phải sử dụng thuốc giảm co như trên ít nhất từ 7-10 ngày để tử cung thật ổn định sau mổ.

Sau đẻ, tử cung co nhỏ, ổ bụng trở nên rộng rãi, khối u di động dễ hơn nên hay bị xoắn. Tuy nhiên cũng phải chú ý để tránh nhầm lẫn tử cung to ở thời kỳ hậu sản với u nang buồng trứng.

Chẩn Đoán Ung Thư Thực Quản

Thứ sáu, 18/04/2014 00:39

Ung thư thực quản được chẩn đoán và phát hiện sớm sẽ tốt cho việc điều trị bệnh. Đối với chẩn đoán ung thư thực quản, bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt, ngoài việc cung cấp thiết bị kỹ thuật tiên tiến, còn có các chuyên gia có kinh nghiệm, giúp nâng cao tỷ lệ chẩn đoán và hiệu quả điều trị bệnh. Nếu bạn có những triệu chứng của ung thư thực quản xuất hiện đáng ngờ, hoặc nếu bạn thuộc nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư thực quản cao, hãy nói cho bác sĩ khám cho bạn. Các bác sĩ sẽ dựa vào các triệu chứng, thói quen sống của bạn, và lịch sử gia đình để có thể đưa ra một quy trình kiểm tra hợp lý, giúp phát hiện sớm bệnh. Phương pháp chẩn đoán ung thư thực quản chủ yếu như sau:

Các phương pháp chẩn đoán ung thư thực quản:– Xét nghiệm máu: xét nghiệm máu là một phương pháp tầm soát ung thư thực quản đơn giản nhất, kết quả của phương pháp này tương đối nhạy bén và chuẩn xác. Nếu xuất hiện các triệu chứng nhẹ của việc nuốt khó, cảm giác nghẹn, vướng trong cổ họng, thì xét nghiệm máu là lựa chọn đầu tiên cho việc chẩn đoán.

– Xét nghiệm tế bào thực quản: phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, không đau, tỷ lệ chẩn đoán dương tính cao. Nhóm người có nguy cơ ung thư cao thông qua phương pháp kiểm tra này phát hiện bệnh ung thư thực quản sớm, cung cấp đầu mối quan trọng cho việc điều trị bệnh sớm. Do đó, kiểm tra một khi phát hiện thấy bất thường cần tiếp tục kiểm tra kỹ càng hơn hoặc làm theo chỉ định của bác sỹ.

– Nội soi thực quản: Có thể sử dụng để xác định vị trí khối u, kích thước, phân loại và sinh thiết. Có những bệnh nhân ung thư triệu chứng giai đoạn muộn sau khi kiểm tra nội soi, dựa vào phân loại và kết quả chẩn đoán có thể đưa ra phương án điều trị.

– Chụp CT: Có thể dùng để kiểm tra xâm lấn của tế bào ung thư đến các vùng khác. Hiện đây là phương pháp chủ yếu để chia giai đoạn và đưa phương án điều trị cho bệnh nhân ung thư thực quản.

– Chụp PET-CT: PET-CT là loại chẩn đoán hình ảnh cắt ngang nhiều lớp và chức năng hình ảnh tổng hợp chính xác cho chẩn đoán ung thư thực quản, có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, phân giai đoạn, và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp cho bệnh nhân ung thư thực quản.

– Sinh thiết: Nếu phát hiện ra vùng không bình thường, bác sĩ có thể lấy một mẫu mô qua ống nội soi để xem dưới kính hiển vi. Quá trình này được gọi là sinh thiết. Sinh thiết có thể chi ra ung thư, những thay đổi ở mô có thể dẫn đến ung thư hoặc những tình trạng bệnh khác.

Phân giai đoạn bệnhNếu chẩn đoán là ung thư thực quản thì bác sĩ cần biết giai đoạn (hoặc phạm vi) của bệnh. Phân giai đoạn là một quá trình tỷ mi và cẩn thận để tìm hiểu xem ung thư đã lan hay chưa và nếu đã lan thì tớibộ phận nào của cơ thể. Biết được giai đoạn của bệnh giúp bác sĩ lập kế hoạch điều trị. Có bốn giai đoạn ung thư thực quản:

Một số xét nghiệm được sử dụng để xác định ung thư đã lan hay chưa bao gồm:– Chụp cắt lớp vi tính. Một máy vi tính được nối với một máy chụp X quang sẽ cho hàng loạt ảnh chi tiết các bộ phận bên trong cơ thể.

– Xạ hình xương. Kỹ thuật này làm hiện hình ảnh xương trên màn hình vi tính hoặc trên phim, có thể cho biết ung thư đã lan tới xương hay chưa. Một lượng chất phóng xạ nhỏ được tiêm vào tĩnh mạch; nó di chuyển qua mạch máu và tụ lại ở trong xương, đặc biệt là ở những vùng xương phát triển không bình thường. Một dụng cụ được gọi là máy xạ hình đo mức độ phóng xạ trong những vùng này.

– Nội soi phế quản. Bác sĩ đặt ống nội soi phế quản (một Ống nhỏ có nguồn sáng) qua mồm hoặc mũi và luồn xuống khí quản để quan sát đường hô hấp.

Chuyên gia ung thư của Hưng Việt lưu ý rằng, một khi kiểm tra phát hiện bệnh ung thư thực quản cũng không nên hoang mang lo sợ, điều trị tích cực là điều quan trọng nhất để giúp hồi phục sức khỏe. Hiện nay, điều trị ung thư thực quản đã đạt được những phát triển mới thành công hơn. Ngoài phương pháp phẫu thuật, hóa xạ trị truyền thống còn có thể lựa chọn các phương pháp vết thương nhỏ tiên tiến như miễn dịch tế bào, can thiệp cục bộ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Khoa Quản Lý Thai Nghén Và Chẩn Đoán Trước Sinhkhoa Qltn&Amp;Cđtsphụ Sản Hải Phòng trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!