Xu Hướng 2/2023 # Đổi Tên, Sắp Xếp Các Trường Y Ra Sao? # Top 2 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đổi Tên, Sắp Xếp Các Trường Y Ra Sao? # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Đổi Tên, Sắp Xếp Các Trường Y Ra Sao? được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bức tranh trường y

 

 

 

 

Sinh viên ngành Y khoa, Trường ĐH Y dược chúng tôi trong lễ khai giảng

Có một số trường y khá có tiếng trong cả nước và là điểm nóng mỗi mùa tuyển sinh như ở khu vực phía Bắc có Trường ĐH Y Hà Nội, Trường ĐH Dược Hà Nội, Trường ĐH Y Thái Bình, Trường ĐH Y dược Hải Phòng…Ở miền Trung có Trường ĐH Y dược Huế và Trường ĐH Kỹ thuật Y dược Đà Nẵng. Khu vực miền Nam có 3 trường là Trường ĐH Y dược chúng tôi Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, Trường ĐH Y dược Cần Thơ.

Về cơ quan chủ quản, theo Quyết định 246 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ các trường gồm Trường ĐH Y Hà Nội, Trường ĐH Dược Hà Nội, Trường ĐH Y – dược chúng tôi Trường ĐH Y Thái Bình; Trường ĐH Y Hải Phòng, Trường ĐH Y tế công cộng, Trường ĐH Y – Dược Cần Thơ, Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định, Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam, Trường ĐH Kỹ thuật y tế Hải Dương, Trường ĐH kỹ thuật y dược Đà Nẵng là các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế.

Riêng Trường CĐ Dược Trung ương Hải Dương thuộc thẩm quyền quyết định của các Bộ trưởng Bộ GD-ĐT. Trường CĐ nghề Kỹ thuật Thiết bị Y tế thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và xã hội. Một số trường thuộc cơ quan chủ quan là địa phương như Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch trực thuộc UBND chúng tôi Trường ĐH Y khoa Vinh thuộc UBND tỉnh Nghệ An…

Trường, khoa trực thuộc ĐH vùng như Trường ĐH Y dược Huế trực thuộc ĐH Huế, Khoa Y dược trực thuộc ĐH Thái Nguyên, Khoa Y dược trực thuộc ĐH Đà Nẵng.

Hai khoa trực thuộc ĐH quốc gia như Khoa Y – trực thuộc ĐH Quốc gia chúng tôi Khoa Y dược trực thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội. Riêng Học viện Quân y trực thuộc Bộ Quốc phòng…

Về đào tạo, các mã ngành đào tạo, đào tạo đại học và hệ thạc sĩ, tiến sĩ là do Bộ GD-ĐT cấp. Bộ Y tế cũng cấp nhiều mã ngành như BS nội trú, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2.

Hệ thống trường y Việt Nam không giống thế giới

GS Nguyễn Văn Tuấn, viện Garvan, Úc nhìn nhận hệ thống trường y ở Việt Nam chẳng giống hệ thống nào trên thế giới.

“Càng chẳng giống ai khi có đại học trong đại học. Chuyện phân biệt “đại học” và “trường đại học” là rất buồn cười và có lẽ chỉ là văn hóa đặc thù giáo dục ở Việt Nam”- ông Tuấn nói.

Ông Tuấn cho hay, ở Úc hiện không có đại học y khoa riêng lẻ. Tất cả các khoa y đều nằm trong đại học. Ở Mĩ chỉ có một trường y khoa duy nhất giống như Trường ĐH Y Dược chúng tôi là University of California at San Francisco (UCSF) nhưng chỉ có 3.000 sinh viên. Tuy nhiên UCSF chỉ có 4 schools (trường) là y, dược, nha, điều dưỡng. Tuy nhiên University of California at San Francisco là trường top trên thế giới với nhiều giải thưởng Nobel, số giáo sư nhiều hơn số sinh viên và chuyên về nghiên cứu khoa học.

“Vấn đề “trường” (school) hay “phân khoa” (faculty) không quan trọng, vì tùy theo văn hóa học thuật địa phương. Ở phương Tây, một đại học có nhiều phân khoa. Phân khoa được dịch là “Faculty” hoặc khi gọi là “College”. Một phân khoa có nhiều trường, gọi là “school”, và mỗi trường có thể có một số “department” (bộ môn).

Cụ thể như Đại học New South Wales của Úc có một khoa y, và dưới khoa y có nhiều trường như hàng loạt Medical/Clinical School, School of Public Health and Community Medicine, School of Medical Sciences…”- ông Tuấn nói.

Ông Tuấn khẳng định việc tái tổ chức hệ thống đào tạo y khoa và “health sciences” (khoa học sức khỏe ) ở Việt Nam hiện nay là rất khó. Lý do là hệ thống trường y của Việt Nam hiện nay là “di sản” từ thời Pháp, rồi hỗn hợp với Mĩ (trong Nam) và Nga (ngoài Bắc).

Quy hoạch trường y theo hướng nào?

Ông Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT), cho rằng muốn quy hoạch, trước hết phải căn cứ vào chính sách phát triển kinh tế xã hội, xác định nhu cầu nhân lực chăm sóc sức khỏe nhân dân của ngành y ở các trình độ và ngành đào tạo, để có chiến lược và qui hoạch phát triển nhân lực ngành y.

“Hiện nhu cầu bác sĩ ở tuyến xã rất thiếu do đào tạo không đủ và cả do điều kiện làm việc không hấp dẫn. Trong khi chất lượng tuyển sinh vào ngành y với các trường công lập rất cao, chỉ tiêu không nhiều vì đảm bảo chất lượng người tốt nghiệp”- ông Vinh phân tích.

Đăng ký tuyển sinh ngành y (Ảnh: Tuổi trẻ y dược)

Theo ông Vinh đề xuất, với ĐH nên quy hoạch trường ĐH y theo vùng. Các trường trung cấp, cao đẳng thì quy hoạch theo địa phương cùng các trường trung cấp, cao đẳng khác để hình thành các trường cao đẳng cộng đồng ở đó có khoa y và nhiều khoa khác như một số quốc gia. “Tuy nhiên, việc quy hoạch phải tính đến cả các trường ĐH, CĐ, TC ngoài công lập có đào tạo ngành y để việc mở ngành, đầu tư tránh chồng chéo, thúc đẩy xã hội hóa trong đào tạo. Với các trường ĐH Y mở rộng các ngành đào tạo, một số ĐH quốc gia và ĐH vùng có trường Y là dấu hiệu tích cực và dễ có điều kiện phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, lĩnh vực nghiên cứu đào tạo khác đáp ứng nhu cầu nhân lực trước đòi hỏi của tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhất là ứng dụng IOT, AI, Điện tử sinh y,…”- ông Vinh nói.

Trong khi đó, ông Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường ĐH FPT, cho rằng việc sắp xếp hệ thống trường y nên theo cơ chế thị trường và để thị trường điều phối.

“Chúng ta đang chuyển dịch theo định hướng thị trường chứ không phải “kế hoạch hóa” do vậy nếu quy hoạch thì sẽ cản trở sự phát triển”- ông Tùng nhấn mạnh.

Theo ông Tùng đối với những ngành như y chất lượng là số 1, do vậy chỉ cần đảm bảo 3 yếu tố là đầu vào đặc biệt, đào tạo đặc biệt, đãi ngộ đặc biệt thì sẽ định hướng sự phát triển của hệ thống.

“Hệ thống các trường y hiện nay không có gì phải sắp xếp. Tại chúng tôi và Hà Nội chỉ có một vài trường khá có tiếng. Ngay cả địa phương rộng lớn như chúng tôi và các tỉnh phía Nam chỉ có hai Trường ĐH Phạm Ngọc Thạch và Trường Y dược (có thể xem xét tới Trường ĐH Y dược Cần Thơ), trong đó 1 trường đã thuộc UBND chúng tôi còn một trường của bộ chủ quản. Ngoài các trường khá nổi tiếng thì chỉ còn một số khoa y thuộc trường đại học công và tư. Nếu tính cả nước vẫn đang rất ít trường đào tạo ngành y. Do vậy vấn đề quan trọng nhất là nâng cao chất lượng đầu vào, liên kết với địa phương, liên kết đào tạo với bệnh viện… chứ không phải là sắp xếp trường”- ông Tùng nói.

“Trừ trường hợp tinh giản biên chế, những trường nhỏ, manh mún thì có thể sắp xếp gộp lại thành một trường lớn. Còn nếu tách ra sẽ phải thêm bộ máy lãnh đạo rất phức tạp. Hiện số lượng bác sĩ/10.000 dân – chỉ tiêu để đánh giá chất lượng hệ thống y tế con thấp, dẫn tới các bệnh viện quá tải do vậy số lượng chưa đáp ứng được con số bình thường”- ông Tùng cho hay.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường ĐH FPT, cho rằng hiện các trường y ở địa phương được đầu tư ít, hệ thống y tế bệnh viện chưa tốt, do vậy nếu gom các trường lại một đại học sẽ không giải quyết được vấn đề gì.

“Nên chăng để những trường yếu, những trường địa phương thành cơ sở đào tạo từ xa hoặc phân hiệu của trường lớn. Như vậy những trường lớn sẽ có trách nhiệm nâng chất lượng cơ sở hoặc phân hiệu lên”- ông Tùng đề xuất.

Lãnh đạo một trường y nổi tiếng lại cho rằng, để quy hoạch lại hệ thống trường y cần sự đồng thuận giữa Bộ GD-ĐT, Bộ Y tế và cơ quan chủ quản trực tiếp vì các mã ngành đào tạo đại học và hệ thạc sĩ, tiến sĩ là do Bộ GD-ĐT cấp, Bộ Y tế cũng cấp nhiều mã ngành như BS nội trú, CK1, CK2.

“Mục tiêu chung của các trường y dược là đào tạo nhân lực khối ngành sức khỏe cho xã hội, đáp ứng cả về số lượng và chất lượng ngày càng cao. Hiện nay mô hình ĐH Khoa học sức khỏe khá phổ biến ở các nước trên thế giới, trong đó có nhiều trường đào tạo nhiều chuyên ngành về khoa học sức khỏe nằm trong ĐH vùng hay đại học quốc gia”- ông cho hay.

Theo ông, ở Việt Nam hiện nay thì vẫn quen mô hình như ĐH Y dược, ĐH Y, ĐH Dược do vậy việc sắp xếp thành ĐH sức khỏe để hội nhập quốc tế cũng là một hướng tốt. Tuy nhiên việc sắp xếp như thế nào để đạt được mục tiêu quan trọng nhất là đào tạo đạt chất lượng cho nhu cầu xã hội để ngành y tế ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu chăm sóc và khám chữa bệnh cho nhân dân.

“Nếu một trường ĐH thành một ĐH thì phải có nhiều trường đại học ở trong đó. Trường ĐH lại phải có nhiều khoa khác nhau. Đối với những trường cao đẳng, trung cấp có thương hiệu sẽ muốn để riêng, còn những trường khó khăn về cơ sơ vật chất, nhân lực, có thể sẽ chọn làm vệ tinh của trường ĐH lớn để có cơ hội phát triển tốt hơn”- ông nói.

Lê Huyền

Tp. Thanh Hóa: Phòng Khám Việt Đức Xả Rác Thải Y Tế Ra Môi Trường

Theo biên bản, lúc 17h48p ngày 28/10/2018, Đội kiểm tra môi trường đô thị của Công ty cổ phần Môi trường và công trình đô thị Thanh Hóa đã phát hiện nhân viên của phòng khám Việt Đức (địa chỉ lô 78 đường Trần Hưng Đạo, phường Nam Ngạn, TP. Thanh Hóa) mang rác thải y tế vứt ra môi trường. Khi đó, Đội kiểm tra môi trường đã lập biên bản sự việc.

Rác thải y tế của Phòng khám Việt Đức vứt ra môi trường.

Đội đã yêu cầu mở túi kiểm tra thì phát hiện có rác thải y tế gồm: Ống truyền, ống đựng thuốc, vỏ thuốc thủy tinh, găng tay cao su, băng gạc, bông cùng các túi bóng, giấy lau các loại…

Ông Nguyễn Hữu Trung, Công ty CP Môi trường và đô thị cho hay: “Phòng khám Việt Đức đã nhiều lần vứt rác thải y tế lẫn rác thải sinh hoạt. Phía công ty môi trường đã nhắc nhở nhưng đơn vị vẫn tái phạm và không thừa nhận hành vi của mình. Nhân viên môi trường đã quay được clip, hình ảnh người của phòng khám Việt Đức mang rác thải y tế bỏ ra đường. Chúng tôi chỉ có nhiệm vụ thu gom rác thải sinh hoạt, việc Phòng khám Việt Đức xả rác thải y tế ra môi trường là không đúng. Đơn vị sẽ báo cáo vụ việc đến các cơ quan chức năng để kiểm tra, xử lý”.

Phòng khám Việt Đức bị bắt quả tang xả rác thải y tế nguy hại ra môi trường.

Theo quy định rác thải y tế phải được phân loại để có quy trình xử lý đúng cách và hạn chế tối thiểu những tác động đến môi trường. Tuy nhiên, hành vi vứt rác thải trái quy định của Phòng khám Việt Đức tiềm ẩn nguy cơ các mầm bệnh phát tán gây hại đến sức khỏe người dân, đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến những người lao công quét rọn.

Về nguyên tắc chung, việc phân loại, thu gom rác thải y tế phải được thực hiện phân loại tại chỗ và phải đưa đến nơi xử lý chất thải y tế như hợp đồng đã ký kết là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Các chất thải y tế độc hại không được để lẫn với các chất thải thông thường. Các túi và vật chứa để thu gom chất thải y tế được quy định màu vàng cho các nhóm thuộc chất thải y tế, màu xanh cho chất thải thông thường và màu đen cho chất thải hóa chất, các chất phóng xạ và trị xạ. Chất thải rắn y tế nếu không được phân loại, thu gom, quản lý và xử lý tốt sẽ là nguồn lây lan bệnh tật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người.

Trước đó, ngày 21/9 báo có bài: “Phát hiện Phòng khám Đa khoa 360 Lê Hoàn “xả trộm” rác thải y tế ra môi trường”, phản ánh việc Đội kiểm tra môi trường của Công ty Môi trường Thanh Hóa, phát hiện nhân viên của phòng khám đem rác thải y tế ra bãi thu gom rác thải trước cổng công ty.

Sau khi báo phản ánh, đoàn kiểm tra liên ngành của UBND Thành phố Thanh Hóa gồm: Phòng y tế, phòng tài nguyên, đội Cảnh sát môi trường công an Thành phố và UBND phường Ba Đình đã có buổi làm việc và kiểm tra, xác minh thông tin phòng khám 360 Lê Hoàn đóng trên địa bàn phường Ba Đình, TP.Thanh Hóa xả chất thải y tế ra môi trường.

Tại buổi làm việc với đoàn kiểm tra của UBND Thành phố Thanh Hóa, ông Lê Lệnh Lương, người đại diện của phòng khám 360 Lê Hoàn đã thừa nhận việc nhân viên của phòng khám mang chất thải y tế vứt ra môi trường trưa ngày 18/9 là có thật. Tuy nhiên, ông Lương cho rằng đấy chỉ là do lỗi sơ suất của hộ lý mới vào làm việc của phòng khám.

Theo báo cáo của đoàn kiểm tra về thực trạng quy trình xử lý chất thải y tế của phòng khám 360 Lê Hoàn, hàng năm, phòng khám 360 Lê Hoàn có hợp đồng với bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa để thu gom rác thải y tế với tần suất 2 lần/tuần. Tuy nhiên, qua kiểm tra sổ sách thì quy trình này vẫn chưa thực hiện đúng, có thời điểm 9-10 ngày mới thu gom/1 lần. Phòng khám có khu tập kết rác thải y tế nhưng vẫn chưa đúng quy cách, không có biển báo. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản và báo cáo với Chủ tịch UBND Thành phố xem xét, quyết định.

Tuy nhiên đến nay, cơ quan chức năng chưa ban hành quyết định xử phạt hành chính theo quy định khiến dư luận đặt hấu hỏi về sự bao che, phớt lờ cho sai phạm của đơn vị này.

Trường Đại Học Y Tế Công Cộng

1. Giới thiệu chung về khoa

1.1. Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ Quản lý Ngành Y tế

1.1.1. Thông tin chung

– Tên tiếng Việt: Viện Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành Y tế

thuộc Trường Đại học Y tế công cộng

– Tên tiếng Anh: Health Management Training Institute

– Tên giao dịch: HMTI

– Email: vienqlyt@huph.edu.vn,

– Trụ sở: Số 1A đường Đức Thắng, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ

Liêm, TP. Hà Nội

1.1.2. Tóm tắt lịch sử

Viện Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành Y tế được thành lập theo Quyết định số 3796/QĐ-BYT ngày 24 tháng 09 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc thành lập Viện Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành y tế, trên cơ sở sáp nhập Khoa Quản lý y tế (2001) và Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành y tế (2013) thuộc Trường Đại học YTCC. 2. Chức năng nhiệm vụ Tổ chức thực hiện các khóa đào tạo chính quy Đại học, Sau đại học chuyên ngành Quản lý y tế, đào tạo bồi dưỡng về quản lý cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành y tế và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế theo tiêu chuẩn ngạch và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ; đồng thời tổ chức hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học quản lý trong ngành y tế và tư vấn, chuyển giao các công nghệ quản lý cho các đơn vị trong ngành y tế theo quy định của pháp luật.

1.1.3. Nhân sự

Hiện tại Viện có 21 cán bộ, giảng viên, trong đó: 01 giáo sư, 03 Phó Giáo sư, 08 tiến sĩ, 13 Thạc sĩ. Ngoài đội ngũ giảng viên cơ hữu, Viện còn có đội ngũ giảng viên thỉnh giảng với gần 100 chuyên gia, là các nhà quản lý, lãnh đạo của Bộ Y tế và các đơn vị khác trong và ngoài ngành y tế như các Bệnh viện, Trung tâm Y tế các tuyến, các Trường đại học y dược, các Trường đại học kinh tế… trong cả nước. Viện đã và đang kế thừa, phát huy truyền thống và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển nhân lực của ngành, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

1.1.4. Liên kết khu vực (Hợp tác Quốc tế):

Cùng với công tác đào tạo chính quy, đào tạo theo nhiệm vụ Bộ Y tế giao, Viện cũng có nhiều dự án hợp tác đào tạo và nghiên cứu với các đối tác trong và ngoài nước. Các chương trình nghiên cứu giúp cung cấp thông tin nền tảng để triển khai các khóa đào tạo phù hợp với tình hình thực tiễn với những đòi hỏi cấp bách trong quá trình phát triển của hệ thống y tế. Cho đến nay, Viện đã hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế, như:

• Ngân hàng Thế giới (WB): Tổ chức các khóa ngắn hạn về quản lý y tế cho các lãnh đạo đơn vị sự nghiệp y tế tuyến Trung ương, tỉnh và huyện;

• Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): Đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ hệ thống HIV/AIDS tại 15 tỉnh trọng điểm;

• Tổ chức hợp tác, phát triển Đức (GIZ): Tổ chức đào tạo quản lý cho lãnh đạo bệnh viện, đào tạo và tổ chức can thiệp về quản lý chất lượng bệnh viện;

• Hội đồng Y tế Trung Hoa tại NewYork (CMB) và Tổ chức Atlantic Philantropie (AP): Phát triển chương trình đào tạo Thạc sỹ Quản lý bệnh viện.

1.2. Khoa các Khoa học cơ bản

1.2.1. Thông tin chung

Khoa Khoa học cơ bản là một khoa thuộc trường Đại học Y tế công cộng. Khoa bao gồm 3 bộ môn: Dịch tễ học, Thống kê và Tin học Y tế. Nhiệm vụ chính của Khoa là tham gia giảng dạy các môn học thuộc Khoa học cơ bản (tại trường và địa phương) cho các đối tượng Đại học và Sau Đại học. Hiện nay, ngoài việc đào tạo cử nhân Y tế công cộng nói chung, Khoa KHCB tập trung đào tạo hai định hướng Cử nhân chuyên ngành Dịch tễ-Thống kê và Cử nhân chuyên ngành Quản lý thông tin y tế. Song song với hoạt động giảng dạy, tập thể Khoa KHCB còn rất năng động và nhiệt tình trong các công tác nghiên cứu khoa học. Đội ngũ giảng viên của Khoa đã chủ trì và tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và tư vấn thuộc lĩnh vực mà Khoa phụ trách ở cấp Bộ, cấp thành phố, cấp cơ sở cũng như có nhiều hoạt động hợp tác với các tổ chức, các trường đại học trong nước và quốc tế, tích cực đóng góp trong sự phát triển chung của nhà trường.

1.2.2. Chức năng nhiệm vụ

– Điều phối và/hoặc tham gia giảng dạy các môn học thuộc Khoa (tại trường và địa phương) cho Cử nhân YTCC, Chuyên khoa, Thạc sĩ và Tiến sĩ YTCC và Quản lý bệnh viện.

– Hướng dẫn thực tập, thực địa, nghiên cứu, luận văn cho các học viên

– Giảng dạy các lớp đào tạo lại và các khóa học ngắn hạn (Phương pháp nghiên cứu định lượng, Phân tích số liệu)

– Chủ trì hoặc tham gia các nghiên cứu khoa học trong và ngoài trường (cấp Bộ, cấp thành phố, cấp cơ sở), tham gia các hội nghị khoa học, viết bài báo khoa học.

– Tham gia tư vấn cho các tổ chức: Bộ Y tế, các tổ chức quốc tế và trong nước

1.2.3. Nhân sự

Khoa có 16 giảng viên trong đó có 04 phó giáo sư, 04 tiến sỹ, 08 thạc sỹ.

1.3. Khoa các Khoa học xã hội – Hành vi & Giáo dục sức khỏe

1.3.1. Thông tin chung

Khoa các Khoa học xã hội – Hành vi & Giáo dục sức khỏe thuộc trường đại học Y tế công cộng được thành lập từ năm 2001. Khoa bao gồm 4 bộ môn. Mục tiêu cơ bản là đào tạo những học viên có năng lực cơ bản về lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi để ứng dụng hiệu quả trong lĩnh vực Y tế công cộng. Ngoài ra, khoa còn đào tạo sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội có kỹ năng thực hành nghề công tác xã hội; có khả năng nghiên cứu, phát hiện và giúp cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Bên cạnh việc đào tạo, nghiên cứu và tư vấn cũng là những nhiệm vụ quan trọng của khoa. Khoa Khoa học xã hội – Hành vi & Giáo dục sức khỏe đã có nhiều nghiên cứu cấp cơ sở, cấp bộ và hợp tác với nhiều tổ chức và các trường đại học trong nước cũng như quốc tế.

1.3.2. Nhiệm vụ

– Đào tạo cử nhân Y tế công cộng nói chung và cử nhân Y tế công cộng chuyên ngành Truyền thông Giáo dục sức khỏe

– Đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Y tế công cộng và Quản lý bệnh viện

– Đào tạo Chuyên khoa 1 và chuyên khoa 2 tổ chức quản lý y tế

– Giảng dạy các lớp đào tạo lại và ngắn hạn cho các đối tượng khác nhau đang làm việc trong lĩnh vực y tế.

– Nghiên cứu khoa học và tư vấn, góp phần phục vụ cho công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

1.3.3. Nhân sự

Khoa gồm có 14 viên chức, người lao động, trong đó có 02 tiến sĩ, 12 Thạc sĩ.

1.4. Khoa Sức khỏe Môi trƣờng nghề nghiệp

1.4.1. Thông tin chung

Khoa Sức khỏe Môi trường – Nghề Nghiệp (SKMT-NN), Trường Đại học Y tế công cộng được thành lập theo Quyết định số 2175/2001/QĐ-BYT ngày 11/6/2001 với tên gọi ban đầu là Khoa Sức khỏe môi trường – Vệ sinh lao động và Bệnh Nghề nghiệp. Năm 2012 tại Khoa được đổi tên là Khoa SKMT-NN theo Quyết định số 3756/QĐ-BYT ngày 03/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Cấu trúc của Khoa gồm 5 bộ môn: Sức khỏe môi trường; Sức khỏe an toàn nghề nghiệp; Dinh dưỡng; An toàn thực phẩm; Phòng chống thảm họa. Nhiệm vụ chính của Khoa là giảng dạy các vấn đề chuyên môn của Khoa cho các nhóm đối tượng, thiết kế và triển khai các nghiên cứu khoa học cũng như thực hiện các nhiệm vụ tư vấn thuộc lĩnh vực Sức khỏe môi trường, Sức khỏe và an toàn nghề nghiệp, Dinh dưỡng, An toàn thực phẩm, Phòng chống thảm họa, Sinh thái và sức khỏe môi trường cũng như các nghiên cứu khác trong lĩnh vực y tế công cộng. Khoa SKMT – NN cũng là đơn vị xây dựng và chịu trách nhiệm giảng dạy chính cho Chương trình đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng tại trường Đại học Y tế công cộng. Chương trình đào tạo Cử nhân Dinh dưỡng sẽ bắt đầu được triển khai từ năm học 2017 – 2018. Ngoài ra, Khoa SKMT – NN đang xây dựng chương trình đào tạo Thạc sĩ Y tế công cộng định hướng Sức khỏe môi trường. Cùng với chiến lược phát triển chung của nhà trường, Khoa SKMT-NN tập trung chú trọng nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Các cán bộ, giảng viên của các bộ môn trong Khoa liên tục được tham gia các khóa học đào tạo và nghiên cứu trong các lĩnh vực mà khoa phụ trách.

1.4.2. Nhiệm vụ

Khoa SKMT-NN có chức năng thực hiện công tác giảng dạy, nghiên cứu và tư vấn về lĩnh vực SKMT-NN. Khoa thực hiện nhiệm vụ: Giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành SKMT-NN cho các đối tượng học viên Thạc sỹ, Chuyên khoa I, Cử nhân chính quy và Cử nhân vừa làm vừa học chuyên ngành YTCC, cử nhân xét nghiệm y học dự phòng, quản lý bệnh viện. Chủ động phối hợp với các khoa, trung tâm trong trường, các đơn vị, viện nghiên cứu ngoài trường để xây dựng đề cương và thực hiện các nghiên cứu về lĩnh vực SKMT-NN. Thực hiện các dịch vụ tư vấn về SKMT-NN cho các đơn vị, cá nhân quan tâm.

1.4.3. Nhân sự

Khoa SKMT-NN gồm 11 viên chức, người lao động, trong đó có 02 PGS, Tiến sĩ, 03 Tiến sĩ, 01 Bác sĩ và 05 Thạc sĩ.

1.5. Khoa Y học cơ sở

1.5.1. Thông tin chung

Khoa Y học cơ sở được thành lập theo Quyết định số 2175/QĐ-BYT ngày 11/6/2001 về việc ban hành Quy chế tạm thời về Tổ chức và hoạt động của Trường Đại học YTCC. Qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, Khoa Y học cơ sở đã không ngừng vươn lên thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà trường giao phó trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Khoa Y học cơ sở là một trong những khoa nòng cốt của Trường Đại học YTCC, có sứ mạng tham gia đào tạo nguồn nhân lực y tế có trình độ đại học, sau đại học phục vụ cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng.

1.5.2. Nhiệm vụ

– Tham gia đào tạo đại học, sau đại học.

– Hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

– Tham gia nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, cung cấp các bằng chứng khoa học trong đào tạo.

1.5.3. Nhân sự

Khoa có 04 viên chức, người lao động, trong đó có 01 chúng tôi 03 Thạc sĩ và 01 bác sĩ đa khoa.

1.6. Khoa Y học lâm sàng

1.6.1. Thông tin chung

Khoa Y học lâm sàng là được thành lập theo quyết định số 3756/QĐ-BYT ngày 03/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trường đại học YTCC, trên cơ sở bộ môn phục hồi chức năng trực thuộc Khoa Sức khỏe cộng đồng trước đây. Là một trong 5 khoa chuyên môn của Trường Đại học Y tế công cộng, có sứ mạng tham gia đào tạo nguồn nhân lực y tế công cộng, xét nghiệm y học dự phòng, dinh dưỡng, công tác xã hội, điều dưỡng và phục hồi chức năng; thực hiện khám chữa bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng.

1.6.2. Nhiệm vụ

– Đào tạo: ở trình độ đại học, sau đại học; các khóa đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ

• Khoa Y học lâm sàng gồm có đội ngũ các bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên tham gia hoạt động giảng dạy các môn lâm sàng cho các đối tượng cử nhân, cao học như: nội – nhi, ngoại – sản, sơ cấp cứu, bệnh truyền nhiễm, bệnh không truyền nhiễm, bệnh thông thường, triệu chứng và điều trị học cơ bản nội khoa, nhi khoa; triệu chứng học và điều trị học cơ bản ngoại khoa – sản khoa, phục hồi chức năng cơ bản, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, điều dưỡng cơ bản, điều dưỡng cộng đồng…

• Bên cạnh đó, các giảng viên của khoa YHLS đã và đang giảng dạy các môn học của các khoa khác như:

• Phối hợp với khoa Khoa học xã hội – hành vi và giáo dục sức khỏe, Khoa khoa học cơ bản giảng dạy các môn cho các đối tượng khác nhau như: Phương pháp nghiên cứu định tính, Phương pháp nghiên cứu định tính nâng cao, Phương pháp nghiên cứu kết hợp, Phương pháp nghiên cứu khoa học…

• Phối hợp với Khoa Y học cơ sở – Khoa giảng dạy các môn y học cơ sở bao gồm giải phẫu, sinh lý bệnh – miễn dịch, hóa sinh, vi sinh và ký sinh trùng.

• Các giảng viên của khoa có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy, hướng dẫn sinh viên thực hành tại các bệnh viện: Hướng dẫn cho sinh viên các kiến thức lâm sàng, hướng dẫn thực tập tại các khoa về phòng và điều trị tại bệnh viện một số bệnh thông thường thuộc các chuyên ngành nội, nhi, ngoại, sản tại các bệnh viện (bệnh viện đa khoa Hà Đông, bệnh viện đa khoa Nông nghiệp, bệnh viện đa khoa Hoài Đức, Bệnh viện đa khoa Đức Giang…) nhằm giúp cho sinh viên có kiến thức và kĩ năng lâm sàng.

• Ngoài ra các giảng viên còn hướng dẫn sinh viên các bài tập cộng đồng tại thực địa, hướng dẫn luận văn cao học, nghiên cứu sinh, chuyên khoa I, chuyên khoa II…

– Nghiên cứu khoa học

• Thực hiện và tư vấn các nghiên cứu y sinh trong đó bao gồm nhiều nghiên cứu về hành vi nguy cơ với sức khỏe, định hướng tăng cường nghiên cứu tại các cơ sở y tế, bệnh viện, các nghiên cứu lâm sàng.

• Tham gia các nghiên cứu y tế công cộng như đánh giá các chương trình, dịch vụ y tế, xây dựng các can thiệp nâng cao sức khoẻ sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau (định lượng, định tính, kết hợp).

– Cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh

Các cán bộ của khoa liên tục tham gia cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh theo chứng chỉ hành nghề y được cấp. Khoa YHLS gắn kết chặt chẽ với phòng khám đa khoa của trường Đại học y tế công cộng, khoa Y học cơ sở, Trung tâm xét nghiệm của trường Đại học Y tế công cộng trong thực hành khám chữa bệnh, đào tạo kiến thức và thực hành kĩ năng thực hành lâm sàng.

– Tư vấn

• Tư vấn về phương pháp nghiên cứu khoa học cho các đề tài của sinh viên, học viên cũng như cán bộ trong và ngoài trường.

• Tham gia tư vấn cho các tổ chức: Bộ y tế, các tổ chức trong nước và quốc tế.

1.6.3. Nhân sự

Khoa gồm 08 viên chức, người lao động trong đó 01 chúng tôi và 01 Tiến sĩ, 01 Thạc sĩ, 03 Bác sĩ đa khoa, 02 cử nhân.

2. Thông tin về từng ngành

2.1. Ngành Y tế công cộng

2.1.1. Thời lượng đào tạo

– Thời gian: 4 năm

– Khối lượng kiến thức tối thiểu: 131 tín chỉ (TC), chưa kể hai môn Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng – An ninh.

2.1.2. Mục tiêu chung

Đào tạo Cử nhân Y tế công cộng có y đức, sức khoẻ, có kiến thức về khoa học cơ bản, khoa học xã hội, y học cơ sở, y tế công cộng để tham gia phát hiện và tổ chức giải quyết các vấn đề sức khoẻ ưu tiên trong cộng đồng; có khả năng tự học, đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

2.1.3. Mục tiêu cụ thể

2.1.3.1. Về thái độ

– Nhận thức được tầm quan trọng của các nguyên lý Y tế công cộng;

– Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của cộng đồng về các nhu cầu sức khoẻ và các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ cộng đồng;

– Cầu thị và hợp tác làm việc theo nhóm và phối hợp liên ngành;

– Trung thực và khách quan, có tinh thần ham học, vượt khó khăn, tự học vươn lên để nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân.

2.1.3.2. Về kiến thức

– Có kiến thức khoa học cơ bản, y học cơ sở làm nền tảng cho Y tế công cộng;

– Trình bày được các nguyên lý và khái niệm cơ bản về y tế công cộng;

– Trình bày được cách phát hiện và xử trí các vấn đề sức khoẻ phổ biến ở cộng đồng

– Trình bày được các yếu tố quyết định sức khỏe;

– Nắm vững phương pháp luận khoa học trong công tác phòng bệnh, nâng cao sức khỏe;

– Nắm vững kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học;

– Nắm vững chính sách về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân.

2.1.3.3. Về kỹ năng

– Xác định các yếu tố môi trường, xã hội ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng;

– Xác định được các vấn đề sức khoẻ ưu tiên của cộng đồng và đưa ra những chiến lược và biện pháp giải quyết thích hợp;

– Lập kế hoạch, đề xuất những giải pháp và tổ chức các hoạt động bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng;

– Theo dõi và tham gia đánh giá được việc thực hiện các chương trình sức khoẻ tại cộng đồng;

– Giám sát, phát hiện sớm bệnh dịch và tổ chức phòng chống dịch tại cộng đồng;

– Giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng nhằm xây dựng lối sống và hành vi có lợi cho sức khoẻ.

2.1.4. Vị trí việc làm sau tốt nghiệp

– Cơ quan trong hệ thống y tế (Các Vụ/Cục Bộ Y tế, Sở Y tế, trung tâm y tế, bệnh viện…)

– Các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo các chuyên ngành về khoa học sức khỏe; Trung tâm nghiên cứu

– Trung tâm phục hồi chức năng

2.2. Ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học

2.2.1. Thời lượng đào tạo

– Thời gian: 4 năm

– Khối lượng kiến thức tối thiểu: 132 tín chỉ, chưa kể phần nội dung Giáo dục thể chất (6 tín chỉ) và Giáo dục Quốc phòng – An ninh (11 tín chỉ).

2.2.2. Mục tiêu chung

Đào tạo Cử nhân Xét nghiệm Y học dự phòng có y đức, có kiến thức khoa học cơ bản, y học cơ sở, kiến thức và kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ ngành học ở trình độ đại học; có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo, tự học và nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu xét nghiệm Y học dự phòng góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

2.2.3. Mục tiêu cụ thể

2.2.3.1. Về thái độ

– Nhận thức được tầm quan trọng của các nguyên lý Y tế công cộng;

– Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của cộng đồng về các nhu cầu sức khoẻ và các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ cộng đồng;

– Cầu thị và hợp tác làm việc theo nhóm và phối hợp liên ngành;

– Trung thực và khách quan, có tinh thần ham học, vượt khó khăn, tự học vươn lên để nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân.

2.1.3.2. Về kiến thức

– Có kiến thức khoa học cơ bản, y học cơ sở làm nền tảng cho Y tế công cộng;

– Trình bày được các nguyên lý và khái niệm cơ bản về y tế công cộng;

– Trình bày được cách phát hiện và xử trí các vấn đề sức khoẻ phổ biến ở cộng đồng

– Trình bày được các yếu tố quyết định sức khỏe;

– Nắm vững phương pháp luận khoa học trong công tác phòng bệnh, nâng cao sức khỏe;

– Nắm vững kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học;

– Nắm vững chính sách về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân.

2.2.3.3. Về kỹ năng

– Xác định các yếu tố môi trường, xã hội ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng;

– Xác định được các vấn đề sức khoẻ ưu tiên của cộng đồng và đưa ra những chiến lược và biện pháp giải quyết thích hợp;

– Lập kế hoạch, đề xuất những giải pháp và tổ chức các hoạt động bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng;

– Theo dõi và tham gia đánh giá được việc thực hiện các chương trình sức khoẻ tại cộng đồng;

– Giám sát, phát hiện sớm bệnh dịch và tổ chức phòng chống dịch tại cộng đồng;

– Giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng nhằm xây dựng lối sống và hành vi có lợi cho sức khoẻ.

2.2.4. Vị trí việc làm sau tốt nghiệp

– Kỹ thuật viên y tại các bệnh viện trung ương và địa phương.

– Kỹ thuật viên y tại các phòng khám, trung tâm xét nghiệm, cơ sở y tế, viện nghiên cứu/ kiểm nghiệm.

– Các viện nghiên cứu/ kiểm nghiệm tuyến Trung ương

– Các phòng xét nghiệm tại Trung tâm y tế cấp tỉnh/ huyện.

– Giảng viên của các trường Đại học, cao đẳng có đào tạo các chuyên ngành về khoa học sức khỏe.

– Các cơ quan/tổ chức khác có hoạt động xét nghiệm…

2.3. Ngành Dinh dưỡng

2.3.1. Thời lượng đào tạo:

– Thời gian: 4 năm

– Khối lượng kiến thức tối thiểu: 135, chưa kể phần nội dung Giáo dục thể chất (4 tín chỉ) và Giáo dục Quốc phòng – An ninh (8 tín chỉ)

2.3.2. Mục tiêu đào tạo

Đào tạo cán bộ chuyên ngành làm việc trong hệ thống dinh dưỡng và an toàn thực phẩm có khả năng lập kế hoạch, thực hiện và giám sát triển khai các hoạt động dinh dưỡng điều trị trong bệnh viện, dinh dưỡng cộng đồng, an toàn thực phẩm, tham gia các nghiên cứu và đào tạo dinh dưỡng ở mức độ cơ bản, góp phần thực hiện các chiến lược quốc gia về dinh dưỡng.

2.3.3. Mục tiêu cụ thể

2.3.3.1. Về kiến thức

– Có hệ thống kiến thức cơ bản về dinh dưỡng người, khoa học thực phẩm và an toàn thực phẩm

• Hiểu biết về giá trị dinh dưỡng của thực phẩm

• Hiểu biết về vai trò, nhu cầu, nguồn cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng.

• Giải thích được cơ chế hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong cơ thể.

• Nhận biết đặc điểm vệ sinh của các nhóm thực phẩm, ô nhiễm thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm

– Phân tích các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, dinh dưỡng

2.3.3.2. Về kỹ năng

– Thu thập, theo dõi, đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tại bệnh viện và tại cộng đồng và lập kế hoạch can thiệp phù hợp .

• Thu thập thông tin về vấn đề về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm

• Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cộng đồng/người bệnh và vấn đề an toàn thực phẩm

• Lập kế hoạch thực hiện công tác dinh dưỡng cộng đồng, an toàn thực phẩm để dự phòng và điều trị.

• Theo dõi và đánh giá các vấn đề dinh dưỡng tại cộng đồng và ATTP

– Truyền thông, giáo dục dinh dưỡng, hướng dẫn cộng đồng lựa chọn thực phẩm, xây dựng chế độ ăn phù hợp, an toàn để phòng ngừa bệnh tật.

• Thu thập và phân tích thông tin về nhu cầu hiểu biết của cộng đồng/người bệnh về dinh dưỡng, tiết chế và ATTP.

• Xác định nhu cầu và những nội dung giáo dục dinh dưỡng, tiết chế và ATTP cho cá nhân, gia đình và cộng đồng.

• Xây dựng kế hoạch giáo dục dinh dưỡng, ATTP phù hợp với cộng đồng, người bệnh.

• Thực hiện tư vấn, truyền thông giáo dục dinh dưỡng, ATTP phù hợp và hiệu quả để dự phòng và điều trị.

– Xây dựng qui trình chăm sóc dinh dưỡng và tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh tại bệnh viện.

• Phối hợp với cán bộ chuyên môn (Bác sĩ, điều dưỡng) để phân tích vấn đề sức khỏe, chẩn đoán dinh dưỡng cho người bệnh

• Xây dựng qui trình chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh tại bệnh viện

• Tư vấn cho người bệnh về dinh dưỡng và chế độ ăn điều trị

• Theo dõi sự tiến triển của các can thiệp dinh dưỡng đã thực hiện.

– Tham gia tổ chức, thực hiện và giám sát hoạt động dinh dưỡng, tiết chế tại bệnh viện, nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể.

– Giám sát quy trình bảo quản, chế biến, lưu mẫu, vận chuyển và phân phối thực phẩm/ khẩu phần dinh dưỡng tại các cơ sở chế biến thức ăn đảm bảo an toàn

– Chứng tỏ khả năng tự học cũng như khuyến khích, tạo ảnh hưởng tới đồng nghiệp trong học tập và phát triển chuyên môn liên tục

• Xác định mục tiêu, nguyện vọng phát triển nghề nghiệp, nhu cầu học tập, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân.

• Học tập liên tục để cập nhật kiến thức, kỹ năng và ứng dụng kiến thức đã học để nâng cao chất lượng công việc.

• Thể hiện thái độ tích cực với những đổi mới và những quan điểm trái chiều, thể hiện sự lắng nghe các kiến nghị và đề xuất nhằm thích nghi với những thay đổi.

• Đóng góp vào việc đào tạo nâng cao trình độ và phát triển nghề nghiệp cho đồng nghiệp.

2.3.3.3. Về thái độ

– Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của người bệnh, của cộng đồng về các nhu cầu dinh dưỡng, an toàn thực phẩm nhằm nâng cao sức khoẻ

• Tìm hiểu và lắng nghe nhu cầu chăm sóc dinh dưỡng của người bệnh/cộng đồng

• Tạo dựng niềm tin đối với người bệnh/cộng đồng

• Giao tiếp phù hợp với người bệnh/cộng đồng.

2.3.4. Vị trí việc làm sau tốt nghiệp

– Khoa dinh dưỡng các bệnh viện;

– Các trường Đại học, Cao đẳng; các Viện nghiên cứu Dinh dưỡng và thực phẩm, các Viện nghiên cứu chăm sóc sức khỏe;

– Các công ty sản xuất chế biến thực phẩm, sản phẩm dinh dưỡng; các cơ sở, dịch vụ ăn uống

– Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực Y tế công cộng, Y học dự phòng và Dinh dưỡng – thực phẩm.

2.4. Ngành Công tác xã hội

2.4.1. Thời lượng đào tạo:

– Thời gian: 4 năm

– Khối lượng kiến thức tối thiểu: 135, chưa kể phần nội dung Giáo dục thể chất (4 tín chỉ) và Giáo dục Quốc phòng – An ninh (8 tín chỉ)

2.4.2. Mục tiêu đào tạo

Đào tạo cử nhân công tác xã hội có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe; nắm vững hệ thống kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề công tác xã hội; có khả năng nghiên cứu, phát hiện và giúp cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề xã hội trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở cả 03 cấp độ bệnh viện, cộng đồng, và hoạch định chính sách, mục tiêu cụ thể

2.4.3. Mục tiêu cụ thể

2.4.3.1. Về kiến thức

– Có hệ thống kiến thức nền tảng về thế giới quan, phương pháp luận khoa học

– Có hệ thống kiến thức về Pháp luật Việt Nam về các vấn đề xã hội

– Có hệ thống kiến thức về y học cơ bản phục vụ thực hành nghề công tác xã hội

– Có hệ thống kiến thức về phục hồi chức năng

– Có hệ thống kiến thức về phương pháp nghiên cứu khoa học

– Có hệ thống kiến thức về lý thuyết tâm lý, xã hội và hành vi của con người

– Có hệ thống kiến thức về ngành CTXH

– Có kiến thức dinh dưỡng cơ bản phục vụ công tác tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng.

2.4.3.2. Về kỹ năng

– Áp dụng các chính sách pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích cho đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội

– Áp dụng kiến thức về y học lâm sàng cơ bản phục vụ thực hành nghề công tác xã hội

– Áp dụng kiến thức về phục hồi chức năng trong việc hỗ trợ cho người khuyết tật

– Áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để xây dựng đề cương, thực hiện các nghiên cứu trong công việc

– Áp dụng kiến thức về lý thuyết tâm lý, xã hội và hành vi con người trong việc hỗ trợ thân chủ

– Áp dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ CTXH vào quá trình hỗ trợ các hệ thống thân chủ khác nhau như: cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng

2.4.3.3. Về thái độ

– Tôn trọng đề cao triết lý và sứ mệnh nghề nghiệp CTXH; Nhận thức rõ về vai trò, chức năng của nghề CTXH

– Có ý thức trách nhiệm cao với nghề nghiệp, yêu nghề, có phẩm chất đạo đức và đạo đức nghề nghiệp tốt, có lối sống và tác phong mẫu mực của người cán bộ, nhân viên công tác xã hội.

– Tôn trọng, đề cao tầm quan trọng của các mối quan hệ của con người

– Áp dụng những hiểu biết của mình về công bằng xã hội để biện hộ cho quyền con người và tham gia vào thực hành thúc đẩy công bằng xã hội.

– Thể hiện hành vi đạo đức và chuyên nghiệp trong mọi tình huống,bối cảnh và lĩnh vực thực hành nghề nghiệp.

– Không ngừng học hỏi, phấn đấu, trau dồi về phẩm chất đạo đức, kiến thức, năng lực nghề nghiệp, tính cách trong sáng, trọn vẹn, sự tận tâm trong các mối quan hệ với thân chủ và công việc để đảm nhiệm và hoàn thành tốt vai trò, trách nhiệm nghề nghiệp.

2.4.4. 2.4.4. Vị trí việc làm sau tốt nghiệp

– Phòng/Tổ công tác xã hội tại các bệnh viện

– Các tổ chức phi chính phủ (hoạt động trong các lĩnh vực y tế, trợ giúp xã hội, an sinh xã hội, phát triển cộng đồng…)

– Các trung tâm trợ giúp đối tượng yếu thế của nhà nước (Trung tâm CTXH, Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, Mái ấm, Nhà mở, Nhà tình thương…)

– Các trung tâm, cơ sở tư vấn/ tham vấn tâm lý thuộc nhà nước hoặc tư nhân

– Các trung tâm nghiên cứu, trường Đại học, cao đẳng có đào tạo về CTXH

Tìm Ra Bí Mật Vì Sao Các Tế Bào Ung Thư Lại Kháng Thuốc

Ung thư sở dĩ khó điều trị là vì đó là những tế bào bất tử, liên tục sinh sôi nảy nở, tạo thành các khối u xâm lấn toàn bộ cơ thể chúng ta.

Để phát triển, những khối u này sẽ tự sản sinh ra các mạch máu mới nhằm cướp lấy nguồn cung máu của cơ thể – thứ cung cấp oxi và dinh dưỡng cho nó, để rồi di căn qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu.

Thường là vài tuần, các tế bào ung thư bắt đầu kháng thuốc và tiếp tục phát triển.

Chính vì thế, một trong những phương pháp để điều trị ung thư là sử dụng thuốc (hóa trị) ngăn cho khối u tạo thêm mạch máu. Khi không còn nguồn cung máu nữa, các tế bào ung thư sẽ chết dần chết mòn, và cuối cùng bị tiêu diệt.

Nhưng đó chỉ là lý thuyết! Còn trên thực tế thì sau một thời gian điều trị – thường là vài tuần – các tế bào ung thư bắt đầu kháng thuốc và tiếp tục phát triển. Đó chính là lý do vì sao bệnh nhân ung thư thường chỉ có thể kéo dài sự sống chứ không thể điều trị dứt điểm.

Và nay, các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Ung thư tại London (Anh) đã tìm ra lý do vì sao ung thư lại có thể kháng thuốc. Nguyên do là vì: ung thư có khả năng bám, “cướp” lấy các mạch máu sẵn có của cơ thể để tiếp tục phát triển.

Cụ thể hơn, tiến sĩ Andrew Reynolds – chủ nhiệm nghiên cứu cho rằng các khối u khi không được cung cấp dưỡng chất sẽ tự động dịch chuyển, rồi bao vây các mạch máu xung quanh bằng tế bào ung thư.

Ông cho biết: “Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy chi tiết khả năng thích ứng của ung thư với các loại thuốc hiện nay. Nhưng cũng nhờ vậy mà trong tương lai, chúng tôi tin rằng có thể phát triển loại thuốc ngăn chặn hiện tượng này xảy ra”.

Các nhà khoa học đã tìm ra lý do vì sao ung thư lại có thể kháng thuốc.

Để có được thành quả này, đội nghiên cứu của Reynolds đã hợp tác với ĐH Toronto (Canada) thực hiện thí nghiệm trên chuột bị ung thư gan. Họ nhận thấy các khối u lúc đầu có xu hướng dừng phát triển khi được điều trị bằng thuốc. Nhưng sau đó, các tế bào ung thư bắt đầu… giở thói cướp bóc, bao vây và lợi dụng các tế bào có sẵn trên gan của chuột.

Theo tiến sĩ Reynolds, hiện đã có một số loại thuốc có khả năng chặn đứng hiện tượng này, nhưng vẫn cần thêm các xét nghiệm trong tương lai để đảm bảo độ hiệu quả và tính an toàn của thuốc.

Đồng thời, các chuyên gia tin rằng, nghiên cứu này không chỉ giới hạn trong điều trị ung thư gan, mà còn ứng dụng được trên nhiều loại ung thư phổ biến khác như ung thư vú, đại tràng, đại trực tràng, thận và phổi.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí National Cancer Institute.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đổi Tên, Sắp Xếp Các Trường Y Ra Sao? trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!