Xu Hướng 5/2023 # Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Ung Thư Tế Bào Hắc Tố (Malignant Melanoma) # Top 5 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 5/2023 # Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Ung Thư Tế Bào Hắc Tố (Malignant Melanoma) # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Ung Thư Tế Bào Hắc Tố (Malignant Melanoma) được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

. Vị trí ở bất kỳ trên cơ thể, thường gặp hơn ở thân mình. Bệnh tiến triển nhanh nên thường được chẩn đoán muộn hơn so với thể nông bề mặt và có tiên lượng xấu. . Chẩn đoán phân biệt với u máu, ung thư tế bào đáy thể tăng sắc tố, histiocytoma hay u máu xơ hóa. + Ung thư tế bào hắc tố nông . Thể này thường gặp ở người da trắng (chiếm 70% ung thư tế bào hắc tố ở người da trắng), lứa tuổi từ 40 đến 50. . Tổn thương xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào của cơ thể. Phụ nữ thường bị ở cẳng chân và nam giới lại gặp nhiều ở lưng. . Lúc đầu tổn thương có màu nâu xen kẽ màu xanh, bờ không đều, kích thước nhỏ và phẳng sau tiến triển lan rộng ra xung quanh, để lại sẹo teo hoặc nhạt màu ở giữa. Sau một thời gian tổn thương trở nên dày, xuất hiện các nốt, cục, loét, chảy máu. Điểm nổi bật là hiện tượng màu sắc không đồng nhất với sự xen kẽ giữa màu nâu và màu đen hay màu xám ở tổn thương. . Cần chẩn đoán phân biệt với nốt ruồi không điển hình. Nốt ruồi không điển hình thường xuất hiện từ bé hay trong quá trình phát triển của cơ thể, kích thước nhỏ, giới hạn không rõ với da lành, có thể hư biến thành ung thư tế bào hắc tố. Có thể xác định mức độ lành tính hay đã hư biến của tổn thương bằng dermatoscope (một dụng cụ có độ phóng đại trên 10 lần, giúp cho chúng ta có thể phát hiện ung thư tế bào hắc tố giai đoạn sớm). Trường hợp nghi ngờ, nên phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tổn thương và làm xét nghiệm mô bệnh học để xác định. + Ung thư tế bào hắc tố của Dubreuilh . Loại ung thư này thường gặp ở người nhiều tuổi. . Tổn thương là các dát màu nâu hay đen hình dạng không đều, thường xuất hiện ở vùng da hở như má, thái dương và trán. Tổn thương tiến triển nhiều tháng, nhiều năm có xu hướng lan rộng ra xung quanh, đôi khi lành ở giữa, sau đó xuất hiện u ở trên tổn thương và xâm lấn sâu xuống tổ chức phía dưới. + Thể đầu chi . Chiếm khoảng 10% ung thư tế bào hắc tố ở người da trắng và chiếm trên 20% các trường hợp ung thư tế bào hắc tố ở châu Á. . Thường gặp ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đặc biệt là ở gót chân (chiếm 50% ung thư tế bào hắc tố ở bàn chân). Khởi đầu là một vùng da tăng sắc tố màu sắc không đồng nhất, màu nâu xen kẽ màu đen xám, giới hạn không rõ ràng, không đau, không ngứa. Tổn thương lan rộng ra xung quanh, có thể loét hay xuất hiện các khối u nổi cao. 234

. Chẩn đoán phân biệt loại ung thư này với xuất huyết do sang chấn nhất là ở gót chân, cần dựa vào tiền sử sang chấn và tiến triển của tổn thương. Đối với xuất huyết, tổn thương lúc đầu thường thẫm màu sau đó chuyển sang màu xanh và vàng rồi khỏi trong thời gian ngắn khoảng 1 tuần đến 10 ngày. . Ung thư tế bào hắc tố dưới móng thường được chẩn đoán muộn vì dễ nhầm với nốt ruồi dưới móng, xuất huyết do sang chấn, viêm quanh móng, nhiễm nấm, hạt cơm dưới móng. Do vậy, với bất kỳ một tổn thương tăng sắc tố dưới móng phải được khám kỹ nhất là với những tổn thương lan hết chiều dài của móng. + Thể niêm mạc . Ung thư tế bào hắc tố có thể thấy ở niêm mạc miệng, sinh dục, quanh hậu môn nhưng hiếm gặp. Tổn thương thường là mảng da tăng sắc tố, tiến triển nhanh chóng lan ra xung quanh, nhưng cũng có thể phát triển rất chậm nhiều năm trước khi nổi cao trên mặt da. . Đối với tất cả những tổn thương tăng sắc tố ở niêm mạc, cần làm sinh thiết mặc dù về mặt lâm sàng chưa có biểu hiện ác tính. – Thể không nhiễm sắc tố + Hiếm gặp. + Tổn thương u sùi, màu đỏ, loét, dễ chảy máu. Đôi khi rất giống với u hạt nhiễm khuẩn. + Cần làm xét nghiệm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch để chẩn đoán xác định. * Ung thư tế bào hắc tố thứ phát + Khoảng 5% ung thư tế bào hắc tố không thấy tổn thương nguyên phát. + Tổn thương thường là một khối u đơn độc, không tăng sắc tố (achromic), khu trú dưới da hoặc trong da hay niêm mạc. + Tổn thương này có thể di căn từ u hắc tố ở các cơ quan phủ tạng hoặc ở da đã thoái triển. – Cận lâm sàng + Mô bệnh học Hình ảnh tăng sinh, thâm nhập của các tế bào hắc tố ở thượng bì và trung bì. Các tế bào chưa biệt hóa, nhân to, bắt màu đậm, có hiện tượng rối loạn phân bào, thâm nhiễm bạch cầu, tăng sinh mạch máu, có thể có loét. Xét nghiệm hóa mô miễn dịch sử dụng các kháng thể kháng S100 và HMB45 giúp chẩn đoán xác định bệnh. 235

Chỉ số Clark đánh giá mức độ xâm lấn của tổ chức u ở các mức độ khác nhau, cụ thể: 1 Xâm lấn ở thượng bì hay ung thư tại chỗ. 2 Xâm lấn trung bì nông: chỉ có một vài tế bào ở nhú bì. 3 Xâm lấn toàn bộ nhú bì. 4 Xâm lấn trung bì sâu. Hiện nay chỉ số Breslow về độ dày của tổn thương được đo từ lớp hạt của thượng bì đến phần sâu nhất của tổn thương nguyên phát, được coi là yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ xâm lấn của tổ chức u, giúp cho việc quyết định mức độ cắt bỏ khối u và tiên lượng bệnh Một số yếu tố khác như loét, thậm chí chỉ phát hiện trên mô bệnh học, tỉ lệ phân bào hay tỉ lệ thoái triển trong tổ chức u và sự có mặt của tế bào ung thư trong lòng mạch là những yếu tố có tiên lượng xấu. Chẩn đoán xác định ung thư tế bào hắc tố cần dựa vào lâm sàng và mô bệnh học. Về lâm sàng, khi người bệnh có một tổn thương tăng sắc tố trên da, chúng ta có thể dựa vào hệ thống triệu chứng ABCDE của Hoa kỳ để xem xét tổn thương này đã bị ung thư chưa, cụ thể : . Tổn thương không đối xứng (A-asymetry) . Bờ không đồng đều (B-irregular border) . Màu không đều (C-irregular color) . Kích thước trên 1 cm (D-diameter) . Tiến triển nhanh trong thời gian 6 tháng trở lại (E-evolution) Khi có tổn thương nghi ngờ nên cắt bỏ toàn bộ tổn thương để làm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch với các kháng nguyên đặc hiệu. 4. ĐIỀU TRỊ Mặc dù ung thư tế bào hắc tố được coi là một trong những ung thư rất ác tính nhưng nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời thì khả năng sống trên 5 năm sau điều trị là trên 80%. a) Nguyên tắc điều trị – Loại bỏ rộng và triệt để tổ chức ung thư. – Điều trị phủ tổn khuyết, đảm bảo chức năng và thẩm mỹ. – Kết hợp phẫu thuật với điều trị hoá chất trong trường hợp cần thiết. b) Điều trị cụ thể 236

vào các ngày 1, 8, 15, 50 sau đó 3 tuần tiêm 1 lần. – Điều trị miễn dịch Interferon alpha 2a đã được sử dụng với liều 3 triệu đơn vị tiêm dưới da 3 lần một tuần, trong thời gian 18 tháng. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm được điều trị bằng interferon và nhóm chứng. 5. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG – Tiên lượng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó chỉ số Breslow đánh giá độ dày có ý nghĩa quan trọng.

Độ dày (mm) của tổn thương Tỉ lệ % sống trên 5 năm 237

238

U Tế Bào Hắc Tố (Ung Thư Tế Bào Hắc Tố)

Để hiểu biết về u hắc tố cần phải tìm hiểu về da và các tế bào hắc tố. Chúng có chức năng gì, chúng phát triển như thế nào và điều gì xảy ra khi chúng trở thành tế bào ung thư da. Da là bộ phận lớn nhất của cơ thể. Nó bảo vệ cơ thể chống lại hơi nóng,

U tế bào hắc tố (ung thư tế bào hắc tố) là bệnh gì?

Da là bộ phận lớn nhất của cơ thể. Nó bảo vệ cơ thể chống lại hơi nóng, ánh nắng mặt trời, tổn thương và nhiễm khuẩn. Da giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể, dự trữ nước, mỡ và sản xuất vitamin D. Da có hai lớp chính: lớp biểu bì ngoài và lớp chân bì trong.

Lớp biểu bì chủ yếu được cấu tạo từ những tế bào dẹt giống vẩy, được gọi là tế bào vẩy. Các tế bào hình tròn được gọi là tế bào đáy nầm ở dưới các tế bào vẩy trong lớp biểu bì. Phần dưới của lớp biểu bì còn có tế bào hắc tố.

Chân bì có chứa các mạch máu, mạch bạch huyết, nang lông và các tuyến. Một số trong các tuyến này tiết mồ hôi giúp điều hòa thân nhiệt và một số tuyến tiết ra chất nhờn – là một chất dầu làm cho da không bị khô. Mồ hôi và chất nhờn được đưa lên bề mặt da qua những lỗ nhỏ, gọi là lỗ chân lông.

Tế bào hắc tố và nốt ruồi

Tế bào hắc tố có mặt ở toàn bộ phận dưới của lớp biểu bì. Chúng tiết ra melanin, một loại sác tố làm cho da có màu tự nhiên. Khi da tiếp xúc với ánh náng mặt trời, tế bào hắc tố tiết ra nhiều sắc tố hơn làm cho da bị rám nắng hoặc đen đi.

Đôi khi, các đám tế bào hắc tố và mô lân cận hình thành nên các mụn lành tính (không phải ung thư) được gọi là nốt ruồi (bác sĩ còn gọi là nevus). Nốt ruồi rất phổ biến. Hầu hết mọi người có từ khoảng 10 - 40 mụn có màu tươi, hồng, rám nắng hoặc màu nâu trên da. Nốt ruồi có thể phẳng hoặc lồi.

Chúng thường có hình tròn hoặc oval và thường nhỏ hơn đầu tẩy bút chì. Chúng có thể xuất hiện từ lúc mới sinh ra hoặc về sau này – thường là trước tuổi 40. Thông thường các nốt ruồi phát triển và thay đổi rất ít theo thời gian. Chúng có xu hướng mờ đi ở người già. Khi được cắt bỏ, nốt ruồi thường không xuất hiện trở lại.

U hắc tố

U hắc tố xuất hiện khi tế bào hắc tố trở thành ác tính. Hầu hết tế bào hắc tố nằm trong da, khi u hắc tố xuất hiện ở da thì loại ung thư này được gọi là u hắc tố da. U hắc tố có thể xuất hiện ở nhãn cầu và được gọi là u hắc tố nhãn cầu. Hiếm khi u hắc tố xuất hiện ở màng não, ống tiêu hóa, hạch hoặc các vùng khác nơi có tế bào hắc tố. 

U hắc tố có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên bề mặt da. Ở nam giới, nó thường xuất hiện ở phần thân (giữa vai và hông) hoặc là vùng đầu và cổ. Ở nữ giới, u hắc tố thường xuất hiện ở phần dưới chân, u hắc tố hiếm khi xuất hiện ở những người da đen và những người có da sẫm màu.

Khi nó xuất hiện ở những người da sẫm màu thì thường ở dưới móng tay hoặc móng chân hoặc ở lòng bàn tay hoặc là gan bàn chân. Nguy cơ phát triển u hắc tố tăng lên theo độ tuổi, nhưng loại ung thư này có thể gặp ở mọi lứa tuổi, u hắc tố là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở thanh niên.

Khi u hắc tố di căn, tế bào ung thư xuất hiện ở hạch. Nếu ung thư di căn vào hạch thì có nghĩa là ung thư đã di căn tới các bộ phận khác của cơ thể như gan, phổi hoặc não. Trong những trường hợp như vậy, tế bào ung thư trong khối u mới vẫn là tế bào u hắc tố và bệnh này được gọi là u hắc tố di căn chứ không phải là ung thư gan, ung thư phổi hay ung thư não.

Triệu chứng u tế bào hắc tố

Triệu chứng của u tế bào hắc tố bao gồm:

Hình dạng của hai nửa không đối xứng.

Ranh giới: Mép nốt ruồi thường lởm chởm, có vết khía, không rõ hoặc đường bao quanh mụn không đồng đều; sắc tố có thể lan tới vùng da xung quanh.

Màu sắc: Màu sắc không đồng đều. Có thể có nét màu đen, nâu và rám nắng. Cũng có thể nhìn thấy những vùng có màu trắng, xám, đỏ, hồng hoặc xanh lơ.

Đường kính: Có sự thay đổi về kích thước, thường là tăng lên. U hắc tố thường lớn hơn đầu tẩy bút chì (5mm).

Hình dạng: có thể rất khác nhau. Nhiều u hắc tố biểu hiện tất cả các đặc tính mô tả ở trên. Tuy nhiên, một số u hắc tố biểu hiện sự thay đổi hoặc bất thường chỉ ở một hoặc hai đặc tính đó.

Khi nào cần đi khám bác sĩ?

Đi khám bác sĩ hoặc Gọi thoại – Gọi video với bác sĩ chuyên khoa Ung bướu trên hệ thống khám từ xa Wellcare khi xuất hiện các triệu chứng như nốt ruồi đã có từ trước đó thay đổi kích thước, màu sắc, nốt ruồi cứng lại, nổi cục, ngứa, chảy mủ, chảy máu… để được tư vấn, chẩn đoán và hướng dẫn điều trị.

Nguyên nhân gây u tế bào hắc tố

Bình thường các tế bào da phát triển theo một trình tự tổ chức rất chặt chẽ trong biểu bì. Những tế bào mới còn non đẩy những tế bào trưởng thành lên bề mặt da. Khi các tế bào lên đến lớp trên cùng, chúng chết đi và bị tróc ra.

Ung thư da là kết quả của sự phát triển bất thường của các tế bào da. Nguyên nhân chính là do da bị tổn thương bởi tia cực tím. Đây là một loại sóng ánh sáng phát ra từ ánh sáng mặt trời và thường được sử dụng trong các kỹ thuật làm sạm da (giường tắm nắng nhân tạo…). Tia cực tím có thể xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào, chịu trách nhiệm cho phần lớn các trường hợp ung thư da cũng như các vết nhăn và nốt tàn nhang do tuổi.

Có 2 loại tia cực tím là A (UVA) và B (UVB). Tia UVA xuyên qua da sâu hơn tia UVB, do vậy sau một thời gian phơi nhiễm tia này, khả năng chống ung thư của bạn sẽ bị suy yếu. Tia UVB, do xuyên qua da kém hơn, nên thường gây bỏng nắng và chịu trách nhiệm cho các ung thư lớp nông, ung thư tế bào sừng hoặc tế bào đáy.

Yếu tố nguy cơ gây u tế bào hắc tố

Bằng cách nghiên cứu các dạng ung thư trong cộng đồng, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số yếu tố nguy cơ nhất định thường gặp ở những bệnh nhân u hắc tố hơn so với những người không mắc bệnh.

Tiền sử bản thân và gia đình

Tiền sử bản thân u hắc tố: Những bệnh nhân đã được điều trị u hắc tố có nguy cơ phát triển u hắc tố lần thứ hai cao hơn.

Tiền sử gia đình: Có hai hay nhiều người thân ruột thịt bị bệnh là một yếu tố nguy cơ vì u hắc tố đôi khi di truyền trong gia đình. Khoảng 10% số bệnh nhân u hắc tố có người thân trong gia đình cũng bị loại ung thư này. Khi u hắc tố di truyền trong gia đình, các thành viên gia đình nên đến bác sĩ khám định kỳ.

Nevi loạn sản

Nevi loạn sản có khả năng phát triển thành ung thư cao hơn nốt ruồi thông thường. Nhiều người chỉ có một vài nốt ruồi bất thường này; càng có nhiều nevi loạn sản thì nguy cơ phát triển u hắc tố càng cao. Nguy cơ này đặc biệt cao đối với những người có cả tiền sử gia đình bị u hắc tố và cả nevi loạn sản.

Hệ miễn dịch suy yếu

Những người có hệ miễn dịch bị suy yếu do một số loại ung thư nhất định, bởi các loại thuốc điều trị sau khi ghép tạng hoặc do bệnh AIDS có nguy cơ phát triển u hắc tố cao hơn.

Nhiều nốt ruồi thông thường

Nhiều nốt ruồi thông thường (hơn 50), bởi vì u hắc tố thường xuất phát từ tế bào hắc tố của một nốt ruồi đã có, việc có nhiều nốt ruồi làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Tia cực tím

Tia cực tím từ mặt trời có thể gây ra hiện tượng lão hóa sớm ở da và sự huỷ hoại da từ đó có thể dẫn đến u hắc tố.

Các vết bỏng nắng nghiêm trọng

Những người có một hoặc nhiều vết bỏng nắng bị phồng rộp nghiêm trọng khi còn nhỏ tuổi có nguy cơ phát triển u hắc tố cao hơn. Do vậy, bác sĩ khuyên nên bảo vệ da trẻ em tránh tia nắng mặt trời, họ hi vọng rằng việc này sẽ giúp phòng chống hoặc ít ra là làm giảm nguy cơ phát triển u hắc tố của trẻ em sau này. Bỏng nắng ở người lớn cũng là một yếu tố nguy cơ của u hắc tố.

Da trắng

U hắc tố xuất hiện nhiều ở những người có nước da trắng có thể dễ bị cháy nắng hoặc tàn nhang (những người này thường có tóc màu vàng hoặc màu đỏ và mắt màu xanh) hơn là những người có nước da sẫm màu. Người da trắng thường bị u hắc tố nhiều hơn nhiều so với người da đen, có lẽ bởi vì da sáng màu dễ bị ánh mặt trời huỷ hoại hơn.

Chẩn đoán u tế bào hắc tố

U hắc tố có thể được chữa khỏi nếu được chẩn đoán và điều trị khi khối u còn nông và vẫn chưa xâm lấn sâu vào da. Tuy nhiên, nếu u hắc tố không được cắt bỏ ở giai đoạn sớm, tế bào ung thư có thể phát triển từ bề mặt da sâu xuống dưới, xâm lấn vào mô lành. Khi u hắc tố trở nên dày và sâu, bệnh thường lan sang các bộ phận khác của cơ thể và khó kiểm soát.

Nếu bác sĩ nghi nốt trên da là u hắc tố thì bệnh nhân sẽ cần được tiến hành sinh thiết. Sinh thiết là cách duy nhất để đưa ra chẩn đoán chắc chắn. Trong khi thực hiện sinh thiết bác sĩ cố gắng cắt bỏ toàn bộ nốt nghi ngờ này.

Đôi khi, cần phải lấy hạch lân cận để quan sát dưới kính hiển vi (phẫu thuật này cũng được coi là một phần của điều trị vì có thể giúp kiểm soát được bệnh). Bác sĩ cũng phải thăm khám kỹ lưỡng và tuỳ thuộc vào độ dày của khối u có thể yêu cầu chụp X-quang lồng ngực; xét nghiệm máu; chụp cắt lớp vi tính gan, xương và não.

Phương pháp điều trị u tế bào hắc tố

Phẫu thuật

Phẫu thuật để cắt bỏ u hắc tố là phương pháp điều trị chuẩn cho loại ung thư này. Cần phải cắt bỏ không chỉ có khối u mà còn phải cắt cả một phần mô lành xung quanh nó để giảm khả năng tế bào ung thư còn sót lại trong vùng đó xuống mức thấp nhất.

Độ rộng và chiều sâu của lớp da xung quanh cần phải cắt bỏ phụ thuộc vào độ dày của u hắc tố và độ sâu u xâm nhập vào da. Trong những trường hợp u rất nhỏ và có thể cắt bỏ tất cả mô ung thư trong quá trình sinh thiết, thì không cần tiến hành phẫu thuật nữa. Nếu không thể cắt bỏ toàn bộ u hắc tố trong quá trình tiến hành sinh thiết thì bác sĩ sẽ cắt bỏ mô ung thư còn sót lại khi tiến hành phẫu thuật.

Nếu cắt bỏ một mảng mô lớn thì có thể phải tiến hành ghép da đồng thời. Trong quá trình này bác sĩ lấy da ở bộ phận khác của cơ thể để thay thế cho lớp da đã được cắt bỏ, hạch bạch huyết ở gần khối u cũng có thể được cắt bỏ trong khi phẫu thuật bởi vì ung thư có thể lan vào hệ bạch huyết. Nếu bác sĩ giải phẫu bệnh tìm thấy tế bào ung thư trong hạch điều đó có nghĩa là bệnh đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Hóa trị liệu

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Nói chung, đây là phương pháp điều trị toàn thân, có nghĩa là nó có thể ảnh hưởng tới các tế bào ung thư trên toàn bộ cơ thể. Trong hóa trị liệu, một hoặc nhiều thuốc điều trị ung thư được đưa vào cơ thể bằng cách uống hoặc tiêm vào mạch máu. Cho dù thuốc được đưa vào cơ thể bằng con đường nào thì nó cũng đi vào mạch máu và tuần hoàn trên toàn cơ thể.

Hóa trị liệu thường được điều trị theo đợt: một đợt điều trị sau đó là một thời gian nghỉ hồi sức, sau đó là một đợt điều trị khác và cứ tiếp tục như vậy. Bệnh nhân được điều trị bằng hóa chất thường là bệnh nhân ngoại trú. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại thuốc điều trị và tình trạng sức khỏe chung bệnh nhân có thể phải nằm viện trong một thời gian ngắn.

Một cách đưa thuốc vào cơ thể hiện đang được nghiên cứu được gọi là truyền thuốc vào chi. Nó đang được thử nghiệm đối với u hắc tố chỉ xuất hiện ở một tay hoặc một chân. Khi tiến hành truyền thuốc vào chi, người ta dùng garô để ngăn dòng máu tới chi và rời khỏi chi trong một khoảng thời gian.

Sau đó thuốc điều trị ung thư được truyền vào mạch máu ở chi. Bệnh nhân tiếp nhận liều thuốc cao trực tiếp vào vùng có u hắc tố. Vì hầu hết các loại thuốc điều trị ung thư chỉ lưu hành ở một chi nên phương pháp này không hẳn là một phương pháp điều trị toàn thân.

Liệu pháp sinh học

Cơ thể thường sản xuất ra một lượng nhỏ những chất này khi có nhiễm khuẩn và bệnh tật. Nhờ vào các kỹ thuật trong phòng thí nghiệm hiện đại, các nhà khoa học có thể sản xuất ra một lượng lớn các chất điều biến đáp ứng sinh học để sử dụng trong điều trị ung thư.

Trong một số trường hợp, liệu pháp sinh học có thể được sử dụng sau khi phẫu thuật để ngăn ngừa u hắc tố tái phát. Đối với bệnh nhân có u hắc tố đã di căn hoặc có nguy cơ tái phát bệnh cao bác sĩ có thể chỉ định interferon-alfa và interleukin-2 (còn được gọi là aldesleukin) sau phẫu thuật. Các loại thuốc kích thích dòng tế bào (CSF) và các loại vaccin chống ung thư là những ví dụ của các chất điều biến đáp ứng sinh học hiện đang được nghiên cứu.

Tia xạ

Trong một số trường hợp, tia phóng xạ được sử dụng để làm giảm triệu chứng của u hắc tố. Xạ trị là phương pháp sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.

Đây là phương pháp điều trị tại chỗ; nó chỉ ảnh hưởng tới tế bào trong vùng chiếu xạ. Xạ trị là phương pháp được sử dụng nhiều nhất để kiểm soát ung thư đã di căn vào não, xương và các bộ phận khác của cơ thể.

Phòng ngừa u tế bào hắc tố

Một nguyên tắc đơn giản khác là bảo vệ cơ thể của bạn tránh những tia nắng mặt trời khi bóng của bạn ngắn hơn người. Cũng có thể đội mũ và mặc áo dài tay để bảo vệ cho bạn.

Hơn nữa, thuốc mỡ, kem dưỡng da hoặc gel có chứa kem chống nắng có thể giúp bảo vệ da. Nhiều bác sĩ cho rằng kem chống nắng có thể giúp phòng chống u hắc tố, đặc biệt là những loại kem phản chiếu, hấp thụ hoặc phân tán cả hai loại tia cực tím.

Kem chống nắng được đánh giá mức độ mạnh theo yếu tố chống mặt trời (SPF). SPF càng cao thì khả năng chống lại tia nắng mặt trời càng lớn. Kem chống nắng có mức độ SPF từ 2 – 11 có khả năng chống lại ánh mặt trời thấp nhất. Kem chống nắng có mức độ SPF từ 12 đến 29 có khả năng chống lại ánh mặt trời ở mức trung bình. Những loại kem có SPF từ 30 trở lên có khả năng chống lại ánh nắng mặt trời cao.

Nên đeo kính râm có mắt kính có thể hấp thụ tia cực tím. Nhãn hiệu trên kính nên ghi rõ mắt kính có thể ngăn lại ít nhất 99% tia cực tím UVA và UVB.

Chế độ chăm sóc bệnh nhân u tế bào hắc tố

Khám định kỳ và theo dõi sau điều trị.

Điều đặc biệt quan trọng đối với các bệnh nhân có nevi loạn sản và có tiền sử gia đình bị u hắc sắc tố là phải đi khám định kỳ. Bệnh nhân nên khám da hàng tháng và làm theo lời khuyên của bác sĩ về cách làm giảm nguy cơ phát triển u hắc tố mới.

Nguy cơ tái phát bệnh ở những bệnh nhân có u hắc tố xuyên sâu hoặc đã lan tới mô lân cận lớn hơn so với các bệnh nhân có u nhỏ. Các xét nghiệm theo dõi những bệnh nhân có nguy cơ bệnh tái phát cao có thể bao gồm chụp X-quang; xét nghiệm máu; chụp cắt lớp vi tính lồng ngực, gan, xương và não.

Ung Thư Tế Bào Hắc Tố Và Những Triệu Chứng Ung Thư Tế Bào Hắc Tố

Ung thư tế bào hắc tố là do sự loạn sản của tế bào hắc tố. Đây là loại ung thư da cực kỳ nguy hiểm vì nó sẽ xâm lấn sâu sau đó di căn sang các bộ phận khác của có thể và hoàn toàn có thể gây tử vong như các loại ung thư khác.

Một số thông tin cần biết về ung thư tế bào hắc tố

ung thư tế bào hắc tố có biểu hiện ban đầu rất đa dạng và đơn giản thường dễ bị bỏ qua mặc dù tổn thương ở ngay trên da đến khi phát hiện thì đã ở giai đoạn muộn tế bào ung thư đã di căn xa, khó chữa trị.

Một số thông tin cần biết về ung thư tế bào hắc tố

Bệnh có thể tiến triển từ một số tổn thương lành tính trên da như nốt ruồi, bớt hắc tố, u hắc tố (đồi mồi ở người cao tuổi), nên cần có sự can thiệp và sự quan tâm đúng đắn với những tổn thương lành tính này.

Nếu phát hiện bệnh sớm có thể điều trị khỏi hoàn toàn, cho nên vấn đề chẩn đoán sớm ung thư da càng trở lên cần thiết và quan trọng.

Những triệu chứng ung thư tế bào hắc tố

Bệnh tiến triển từ những tổn thương lành tính trên da:

+ Nốt ruồi

Nốt ruồi có thể là triệu chứng ung thư tế bào hắc tố ung thư tế bào hắc tố phát có thế triển trên một nốt ruồi sẵn có thường hay bị đụng chạm sờ mó, hoặc bị ánh nắng tác động nhiều lần, nhưng không phải nốt ruồi nào cũng biến thành ung thư, tỷ lệ chỉ chiếm một phần rất nhỏ.

Ung thư tế bào hắc tố phát có thể triển trên một nốt ruồi sẵn có thường

Từ một nốt ruồi bình thường đột nhiên hình dạng, kích thước thay đổi, hay chảy máu lớn nhanh, ngứa ngáy. Nốt ruồi biến màu sẫm dần và đặc biệt nếu có dấu hiệu loét, sùi hoặc đang từ màu nâu đồng nhất trở nên đa sắc. Đường viền bình thường rõ và đối xứng, trở nên không đều, nham nhở, bất đối xứng. Bề mặt nốt ruồi mất các vân da bình thường…

+ Từ các bớt hắc tố trên da

Trên một vùng da sẫm màu (bớt) đột nhiên nổi sần lên, loét, ngứa, chảy máu hoặc thay đổi màu sắc…

+ Từ u hắc tố

U hắc tố là một tổn thương lành tính, thường gặp ở người cao tuổi, nhưng cũng có những biểu hiện bất thường và trở thành ung thư

U hắc tính cũng có thể phát triển thành ung thư

+ Trên da xuất hiện thêm các nốt ruồi mới, nhất là ở tuổi trên 30, nốt ruồi có hình ảnh không cân đối, bờ không đều hoặc hình răng cưa, chỗ lồi chỗ lõm, màu sắc không đều, đường kính lớn bất thường (trên 6 mm).

+ Vết lở loét có bờ cứng khó lành có u nhú hạt và gây chảy máu nhiều…

+ Trên da xuất hiện một vùng da nhỏ nhám ráp, to nhanh dần trong một thời gian ngắn cũng là triệu chứng ung thư tế bào hắc tố.

+ Vết bầm tím trên da không lành, mảng màu nâu xám ở đầu ngón hoặc vết tím trên móng đột ngột đổi màu và chuyển thành cục hoặc chảy máu.

Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Ung Thư Tế Bào Gan Nguyên Phát

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT

1.2 Nguyên nhân:

* Ba nguyên nhân thường gặp nhất: virus viêm gan B; virus viêm gan C; Rượu

* Ngoài ra còn có thể do các nguyên nhân hiếm gặp khác: Aflatoxin, Dioxin, Các steroid đồng hoá, nhiễm sắc tố sắt (haemochromatosis), xơ hóa đường mật nguyên phát,…

2.1. Bênh sử: tìm các yếu tố nguy cơ:

– Đã từng nhiễm virus viêm gan B, C, hay cả hai

– Nghiện rượu

– Tiếp xúc yếu tố độc chất, hóa chất,..

Các dấu hiêu gợi ý

– Tình trạng tiến triển nặng nhanh chóng của BN xơ gan

– Đau âm ỉ, khối u dưới sườn phải

– Mệt mỏi, sụt cân, sốt nhẹ

– Vàng da xuất hiện trong giai đoạn muộn

– Hội chứng bụng cấp trên BN xơ gan, do khối u gan vỡ

– Chảy máu đường mật

– Xuất huyết tiêu hoá do vỡ dãn tĩnh mạch thực quản

2.3.1 CLS thường qui

* Công thức máu:.

* Chức năng đông máu: prothrombin time, INR.

* Chức năng gan: Bilirubin; AST, ALT; GGT; ALP; Albumin máu giảm; Globulin: có khuynh hướng tăng trong ung thư gan trên nền xơ gan;

* Chức năng thận

* Xq phổi

2.3.2 CLS đặc hiệu

* AFP: tăng trong 70-90% các trường hợp HCC. Nồng độ AFP trên 400 ng/mL có giá trị chẩn đoán HCC với độ đặc hiệu 95%. BN xơ gan, có khối u hạ sườn phải, không viêm gan cấp, AFP trên 400 ng/mL có thể chẩn đoán HCC. Nồng độ AFP càng cao, tiên lượng HCC càng xấu

* Xét nghiệm dịch cổ trướng: tế bào, sinh hóa, vi trùng, cell-block,..

* Siêu âm bụng: là phương thức chẩn đoán hình ảnh tầm soát HCC ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh gan mạn tính (viêm gan B,C hoặc nghiện rượu,..) với u <3cm SA là một khối giảm âm, với u lớn hơn hình ảnh SA có thể thay đổi và phụ thuộc vào sự hiện diện của chất béo, canxi, và sự hoại tử khối u gan; Gan to hay teo, cấu trúc thô, bờ không đều, lách to, tĩnh mạch cửa dãn, báng bụng, dấu hiệu nghẽn tĩnh mạch cửa,…

* Sinh thiết gan: có thể chỉ định trong những trường hợp lâm sàng và cận lâm sàng khác chưa rỏ

* CT bụng có cản quang; MRI bụng: hình ảnh điển hình là khối u tăng quang trên thì động mạch gan & thoát thuốc trên thì tĩnh mạch cửa; Hoặc khối u giảm quang trên thì chưa tiêm cản quang & tăng quang trên thì động mạch gan

* Các xét nghiệm tìm nguyên nhân khác: HbsAg; Anti-HCV;.

3.1. Chẩn đoán xác định: khi có một trong ba tiêu chuẩn sau:

3.1.3 Khi có AFP tăng cao hơn bình thường nhưng < 400ng/ml

& hình ảnh ung thư tế bào gan nguyên phát điển hình trên CT bụng có cản quang hoặc MRI bụng có cản từ

& trên người nhiễm virus viêm gan B, C

Các trường hợp không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán như trên phải sinh thiết gan để chẩn

đoán xác định

3.2.1 U mạch máu ở gan: khối u tăng quang dần từ thì động mạch gan đến thì tĩnh mạch cửa, AFP bình thường,..

3.2.2 Các u lành ở gan (adenoma, tăng sinh dạng nốt, abcesse gan, nốt vôi hóa ở gan,..): hình ảnh học không điển hình, AFP bình thường, sinh thiết gan,..

3.2.3 Ung thư đường mật trong gan: tăng quang không đồng đều, không có hiện tượng thoát thuốc ở thì tĩnh mạch cửa, CA 19-9 tăng cao,..

3.2.4 Ung thư cơ quan khác di căn gan (ung thư dạ dày; ung thư đại trực tràng; ung thư phổi; ung thư vú,..): hình ảnh tăng quang viền; có tổn thương nguyên phát; dấu ấn ung thư tương ứng tăng cao,..

3.3 Chẩn đoán đô năng- giai đoan: phân giai đoạn dựa vào 3 tiêu chí:

3.3.1 . Đặc điểm khối u (kích thước, số lượng, xâm lấn xung quanh)

3.3.2. Chức năng gan (Child-Pugh); Thang điểm Child-Pugh

+ Child A: 5-6 điểm

+ Child B: 7-9 điểm

+ Child C: 10-15 điểm Thang điểm OKUDA

3.3.3. Thể trạng chung PTS (performance status):

Thang điểm toàn trạng (PTS)

0 : Hoạt động bình thường, không hạn chế

1: Hạn chế hoạt động thể lực. Chỉ có thể làm được việc nhẹ

2: Không làm việc được nhưng vẫn có thể tự chăm sóc bản thân toàn phần

4: Hạn chế hoàn toàn, không thể tự chăm sóc bản thân. Phải nằm hoặc ngồi nghỉ tại giường, ghế trong toàn bộ thời gian thức.

Bảng phân loại giai đoạn 4. ĐIỀU TRỊ

4.1 Mục tiêu: Nhằm hai mục tiêu:

Điều trị (các) khối ung thư gan đã phát hiện

Điều trị nguyên nhân, yếu tố nguy cơ: viêm gan siêu vi B hoặc C, xơ gan…

4.2 Các phương pháp chính để điều trị ung thư gan:

1. phẫu thuật cắt bỏ u gan hoặc ghép gan

2. Phá hủy khối u tại chỗ bằng: sóng cao tần (RFA) hay vi sóng (microwave) hoặc tiêm chất đông lạnh (cryotherapy), tiêm cồn (PEI) hay chất phóng xạ vào khối u

3. Cắt nguồn máu nuôi khối u phối hợp với diệt tế bào ung thư bằng hóa chất hay chất phóng xạ (TACE hay TOCE).

4. Liệu pháp nhắm trúng đích (SORAFENIB)

5. Điều trị đa mô thức

6. Điều trị triệu chứng, hổ trợ & các điều trị khác

Tùy từng trường hợp cụ thể mà bác sĩ sẽ đề nghị phương pháp điều trị triệt để và phù hợp với từng bệnh nhân.

Trong một số trường hợp cụ thể, bác sĩ có thể phối hợp các phương pháp trên với nhau.

4.3 PHẪU THUẬT: chỉ định khi

Sau phẫu thuật thể tích gan còn lại ≥ 50% thể tích gan ban đầu Tình trạng toàn thân cho phép chịu đựng cuộc mổ, chưa di căn xa.

Gan chỉ có 1 khối u, kích thước khối u không quá 5cm Gan có không quá 3 khối u, kích thước mỗi u không quá 3cm.

4.4 HỦY U TẠI CHỖ: chỉ định khi

Số lượng khối u không quá 3, kích thước u không quá 4cm và khối u dễ tiếp cận bằng siêu âm

Tình trạng toàn thân cho phép, không có di căn xa hoặc bệnh lý đi kèm.

Sau thủ thuật bệnh nhân kiểm tra lại bằng CT scan để xác định đã phá hủy hoàn toàn các khối u trong gan hay chưa, nếu cần thì có thể làm củng cố.

Hổ trợ chức năng gan

Nâng cao thể trạng

4.4.1 Phẫu thuật đông lạnh (Cryosurgery)

Kỹ thuật này dựa trên việc phá hủy u gan bằng cách sử dụng nitrogen lỏng ở nhiệt độ dưới 0 độ. Kỹ thuật này thực hiện bằng cách đặt một hoặc nhiều que thăm dò (cryoprobe) vào khối u dưới hướng dẫn của siêu âm. Nitrogen lỏng, ở nhiệt độ âm 190°C, chuyển dịch trong một hệ thống kín ở phần cuối que thăm dò sẽ tạo ra một quả cầu băng ở đầu que thăm dò . Quả cầu băng này sẽ bao trùm khối u và vượt ra khỏi khối u khoảng 1,5 cm. Khối u được đóng băng và làm tan chảy 2 lần trong thời gian trung bình khoảng 30 phút. Sau khi hoàn tất thủ thuật, bệnh nhân sẽ được theo dõi từ 3-5 ngày.

4.4.2 RFA

RFA (Radiofrequency Ablation) là phương pháp hủy khối u bằng nhiệt gây ra do bởi sự ma sát của các ion trong mô dưới tác động của dòng điện xoay chiều có tần số nằm trong khoảng sóng âm thanh (200-1200 MHz).

Đặt một điện cực ở trung tâm khối u và duy trì nhiệt độ phá hủy từ 60 -100°C. Dòng điện từ máy được truyền vào khối u qua một điện cực dạng kim (needle electrode), dòng sóng radio được truyền vào đầu kim và sinh nhiệt. Nhiệt do ma sát làm khô mô xung quanh dẫn đến làm mất nước trong tế bào và hoại tử đông khối u.

RFA có hiệu quả tốt với các khối u nhỏ hơn 3cm. Với các khối u lớn hơn, phải dùng hai kim một điện cực hoặc kim có chùm 3 điện cực.

Kết quả rất khả quan, tuy nhiên phải theo dõi và làm nhiều lần. Hiện nay có xu hướng kết hợp với nút hoá chất động mạch gan (TOCE)

Có ≤ 4 tổn thương nhỏ (<5 cm) cung thư gan nguyên phát hoặc u di căn gan quá chỉ định phẫu thuật do:

* Tổng trạng kém

* Xơ gan hoặc suy gan

* Vị trí u hoặc phân bố u làm cản trở việc cắt u

* Ung thư gan tái phát (tương đối)

* Bệnh nhân từ chối phẫu thuật

* Hủy u hỗ trợ trong lúc cắt gan không có khả năng cắt hết hoàn toàn u.

* Có ung thư gan nhỏ (<5 cm) đang chờ ghép gan

Chống chỉ định

* Bệnh nhân không đồng ý

* Rối loạn tâm thần, không hợp tác

* Rối loạn đông máu nặng, suy gan nặng

* Suy tim, suy hô hấp chưa kiểm soát được

* Nhiễm trùng nặng

* Bệnh ngoài da vùng thực hiện thủ thuật

* Dưới 18 tuổi

* Đang mang thai

* U nằm cạnh mạch máu lớn, màng ngoài tim, cơ hoành, hoặc tạng khác (tương đối)

4.4.3 Tiêm ethanol vào khối u xuyên qua da (PEI: Percutaneous Ethanol Injection)

Tiêm ethanol xuyên qua da vào khối u gan dưới hướng dẫn của siêu âm (ultrasound-guided percutaneous ethanol injection): đưa một kim nhỏ vào mặt sau khối u, bơm chậm ethanol 100% vào tổn thương, một hoặc 2 lần mỗi tuần cho đến khi khối u hoại tử hoàn toàn.

Thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh bao gồm Siêu âm bụng, CT scan 1- 2 tháng sau thủ thuật để kiểm tra diễn biến của khối u.

4.5 TOCE

Là kỹ thuật làm tắc các nhánh mạch máu nuôi khối u kết hợp với bơm hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư vào khối u để hủy diệt khối u.

Phương pháp này được áp dụng khi:

– Khối u không phẫu thuật được, hoặc có nhiều u ở cả hai thùy

– Tình trạng toàn thân của bệnh nhân không cho phép

– Không có di căn xa.

Chuẩn bị trước TOCE: xét nghiệm để đánh giá tiền phẫu như công thức máu, chức năng đông máu, men gan, bilirubin, AFP, siêu vi B, & C…; nhịn ăn 6 giờ trước TOCE

Thủ thuật TOCE được thực hiện dưới sự hướng dẫn của máy chụp mạch máu xóa nền DSA.

Thuốc sử dụng kết hợp sau TOCE:

– Kháng sinh

– Thymosine alpha 1: 1,6mg 1lọ / ngày tiêm dưới da trong 10 ngày; sau đó 2lọ/ tuần tiêm dưới da trong 6 tháng

– Hổ trợ chức năng gan

– Nâng cao thể trạng

Đánh giá lại xem xét TOCE củng cố sau 4-8 tuần

4.6 Liệu pháp nhắm trúng đích (SORAFENIB)

Liệu pháp nhắm trúng đích là phương pháp nhằm vào vị trí đã được xác định của khối ung thư (vị trí này có thể là 1 phân tử protein bên trong tế bào ung thư, cũng có thể là 1 đoạn gen) nhằm phối hợp với thuốc điều trị, sau khi thâm nhập vào bên trong cơ thể thuốc sẽ chú ý lựa chọn vị trí khối u để kết hợp phát huy tác dụng, khiến cho tế bào ung thư bị tiêu diệt một cách có mục đích, không lây lan sang các tổ chức tế bào khỏe mạnh xung quanh tế bào ung thư.

Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF), là thành phần then chốt trong sự phát triển ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, VEGF làm tăng khả năng di căn của HCC. Liệu pháp nhắm trúng đích (Sorafenib) là chất ức chế multityrosine kinase, nhắm đích là các VEGFR-1, VEGFR-2, và VEGFR-3, PDGFR-P và các thụ thể RET sinh khối u. Các độc tính Sorafenib: mệt mỏi, tiêu chảy, phản ứng da ở bàn tay-bàn chân,…

Chỉ định khi:

– Khối u mọi kích thước quá khả năng điều trị

– PS 1-2, Child- Pugh A, B Liều: 400 mg x 2 lần/ngày

4.7 Điều trị đa mô thức

Điều trị đa mô thức: kết hợp phẫu thuật cắt khối u, huỷ khối u bằng nhiệt lạnh, huỷ khối u bằng sóng cao tần, TOCE với hoá trị, xạ trị.

Chỉ định khi khối u ở cả hai thuỳ hay đã có di căn xa, không có phương pháp điều trị chuẩn thích hợp

Điều trị bệnh lý cơ bản Hổ trợ chức năng gan Nâng cao thể trạng Giảm đau

Tài liệu tham khảo

1. Bộ y tế: hướng dẫn và điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát

2. Phác đồ điều trị Bệnh viện Bạch Mai

3. Phác đồ điều trị Bệnh viện Chợ Rẫy

4. AASLD practice guidelines (2012), Diagnosis, Management and Treatment of HepatocellularCarcinoma, Hepatology 2012

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Ung Thư Tế Bào Hắc Tố (Malignant Melanoma) trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!