Xu Hướng 2/2023 # Chín Mé Do Virus Herpes # Top 9 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Chín Mé Do Virus Herpes # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Chín Mé Do Virus Herpes được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Triệu chứng lâm sàng      Chín mé do herpes có thời gian ủ bệnh khoảng 2-20 ngày. Các triệu chứng toàn thân như sốt và mệt mỏi có thể xuất hiện như là biểu hiện đầu tiên của bệnh, nhưng ít gặp. Các dấu hiệu hay gặp hơn là cảm giác đau, rát bỏng, châm chích ở đốt ngón tay có nhiễm virus herpes. Sau đó, đốt ngón tay trở nên đỏ, phù nề, xuất hiện các đám mụn nước có đường kính 1-3 mm trên nền da đỏ, tồn tại trong 7-10 ngày. Các mụn nước có thể bị loét, vỡ ra, thường chứa dịch trong suốt, hoặc có màu đục hoặc có máu. Hạch vùng nách ít khi to. Sau 10-14 ngày, các triệu chứng cải thiện, thương tổn đóng vảy tiết và lành. Sau đợt nhiễm trùng đầu tiên, virus herpes từ ngón tay xâm nhập vào đầu mút của các dây thần kinh cảm giác ở da, di chuyển vào các hạch thần kinh ngoại vi và tế bào Schwann, sống tiềm ẩn ở đó trong thời gian rất lâu. Khi gặp điều kiện thuận lợi như suy giảm miễn dịch, sang chấn tâm lý, tiếp xúc với tia xạ, tia cực tím, laser, virus tái hoạt động, di chuyển ra da, tạo nên hình ảnh lâm sàng của nhiễm herpes thứ phát. Thông thường, các triệu chứng lâm sàng của nhiễm herpes tiên phát rầm rộ nhất, còn nhiễm thứ phát thì nhẹ hơn với thời gian ngắn hơn. Chẩn đoán      Chẩn đoán chín mé do herpes chủ yếu dựa vào các đặc điểm lâm sàng như đã mô tả ở trên, tiền sử nghi ngờ phơi nhiễm hoặc ở trẻ em có thói quen mút ngón tay. Ngoài ra có thể thực hiện các xét nghiệm chứng minh sự có mặt của virus herpes như chẩn đoán tế bào học, phản ứng khuếch đại chuỗi polymerase (PCR) với HSV-1 và HSV-2, nuôi cấy virus. Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, chúng tôi thực hiện hai xét nghiệm đầu tiên. Đặc biệt, chẩn đoán tế bào học là một xét nghiệm đơn giản, dễ thực hiện, cho kết quả nhanh, độ nhạy cao. Bệnh phẩm được lấy từ nền của mụn nước, dàn lên lam kính, sau đó thực hiện các bước của kỹ thuật nhuộm Giemsa. Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, có thể thấy các đặc điểm của tế bào viêm, tế bào biểu mô. Hình ảnh đặc trưng của nhiễm herpes là các tế bào biểu mô có nhiều nhân.

  

.

Ảnh 1.    Trẻ gái 6 tuổi có thói quen mút ngón tay, xuất hiện nhiều mụn nước thành đám trên nền da sưng đỏ đầu ngón tay, mụn nước chứa dịch máu. Trẻ đau nhiều, không sốt.    

(Nguồn: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội)

.

Ảnh 2.  Trẻ được xét nghiệm tế bào học. Hình ảnh quan sát dưới kính hiển vi ở độ phóng đại x10 cho thấy các tế bào biểu mô nhiều nhân đứng thành đám.  

(Nguồn: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội)

Ảnh 3. Hình ảnh tế bào biểu mô nhiều nhân ở độ phóng đại x40.  (Nguồn: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội)

Điều trị và phòng bệnh      Với các nhân viên y tế: đi găng tay khi chăm sóc người bệnh, khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh. Với trẻ em, tránh thói quen mút tay. Thuốc điều trị: Nhiễm trùng tiên phát – Người lớn: acyclovir 200 mg uống 5 lần/ngày; acyclovir 400 mg uống 3 lần/ngày; valacyclovir 1000 mg uống 2 lần/ngày; famciclovir 250 mg uống 03 lần/ngày. – Trẻ em: acyclovir 15 mg/kg uống 5 lần/ngày. – Thời gian điều trị : 5-7 ngày. Nhiễm trùng tái phát – Ở người lớn: có thể dùng thuốc bôi acyclovir, cidofovir; uống acyclovir 400 mg 5 lần/ngày trong 4-5 ngày; famciclovir 500 mg 2-3 lần/ngày trong 01 ngày; valacyclovir 2000 mg 2 lần/ngày trong 01 ngày. – Ở trẻ em: acyclovir 20-30 mg/kg uống 5 lần/ngày trong 4-5 ngày. Dự phòng tái phát: người lớn uống acyclovir 400 mg 2 lần/ngày.

Bài và ảnh: BS. Trần Thị Huyền, Khoa D2-Bệnh viện Da liễu Trung ương; Bộ môn Da liễu-Đại học Y Hà Nội. Đăng bài: Phòng CNTT&GDYT

Cách Chữa Chín Mé Đơn Giản, Hiệu Quả

Nhiều người rất xem nhẹ những tác hại của bệnh chín mé vì nghĩ rằng nó chỉ là bệnh thường gặp hay những vết thương, viêm nhiễm nhẹ trên chân, tay. Trên thực tế nó hoàn toàn không như bạn nghĩ, bệnh chín mé nếu không điều trị kịp thời và đúng cách có thể gây những biến chứng như viêm xương, viêm bao hoạt dịch, viêm khớp hoặc nhiễm khuẩn huyết do nhiễm khuẩn lan toả, có thể gây ra tàn tật, nghiêm trọng hơn là có thể dẫn đến tử vong.

Có cách nào chữa bệnh chín mé đơn giản, hiệu quả?

Khi phát hiên ra bạn hoặc người nhà có triệu chứng của bệnh trước tiên bạn phải giữ vệ sinh chân – tay đặc biệt là vùng da bị thương tổn thật sạch và thoáng trách bị nhiễm trùng thêm.

Có nhiều cách để chữa khỏi hoàn toàn bệnh này nhờ vào phương pháp điều trị tây y, phương thuốc đông y hay trị bệnh bằng mẹo. Bạn có thể lựa chọn cho mình một cách điều trị bệnh tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ và triển biến của bệnh và kết hợp các yếu tốt khác nữa để hiệu quả trị liệu được nhanh và tốt nhất.

Chữa và điều trị chín mé bằng tây y

Với lựa chọn chữa chín mé bằng điều trị tây y bạn cần ghi nhớ và làm theo sự chỉ dẫn chính xác của bác sỹ. Lúc này bạn sẽ được các bác sỹ, y tá tiến hành kiểm tra chẩn đoán và xét nghiệm máu để xác định tình trạng của bệnh và mức độ nhiễm khuẩn. Nếu tình trạng bệnh đã khá nặng và nghiêm trọng thì các bác sỹ có thể tiến hành mổ (tiểu phẫu) và dẫn lưu mủ. Nếu nhẹ bạn chỉ cần uống thuốc theo đơn và kết hợp bôi một số thuốc hỗ trợ điều trị. Thường thì chỉ điều trị trong vòng 1 tuần là triệu chứng bệnh đã thuyên giảm rất nhiều.

Lời khuyên:

Không được tự ý điều chỉnh toa thuốc điều trị, không tự ý uống bất kỳ một loại thuốc kháng sinh nào hay bôi thuốc bôi nào khi chưa có sự chỉ dẫn của bác sỹ, đặc biệt là thuốc giảm đau.

Chữa chín mé theo bài thuốc dân gian

Pha 2 muỗng canh muối Epsom cho 1 lít nước.

Ngâm khoảng 20 – 25 phút, lau khô bằng khăn sạch và lặp lại 2 – 4 lần một ngày.

Axit trong chanh có tác dụng kháng khuẩn tốt và chống viêm. Cắt một lát chanh, đặt lên trên phần móng mọc ngược và quấn băng quanh lát chanh để giữ qua đêm. Các móng tay, chân sẽ không đâm sâu vào da bạn và mầm bệnh cũng không thể tấn công bạn. Đây là một cách làm khá khả thi.

Ngâm chân trong nước ấm giúp da chân mềm hơn. Sau khi ngâm khoảng 20 – 30 phút, giữ chân sạch và đệm một miếng gạc cotton nhỏ dưới góc của phần móng mọc ngược để từ từ nâng nó lên. Hoặc có thể dùng móng tay sạch từ từ trượt dưới cạnh móng chân và nâng lên.

Sau 3 – 4 ngày ngâm chân với nước ấm, hoặc xử trí theo những cách trên giúp giảm viêm, có thể dùng chiếc kéo nhỏ đã sát trùng cắt đi phần móng chân bị mọc vào trong một cách nhẹ nhàng và thận trọng. Giữ sạch sẽ và băng bó lại để ngăn ngừa cho móng không bị nhiễm trùng và tổn thương lần nữa, có thể lấy ít bông thấm nước đặt ngay dưới móng để khỏi cắt vào thịt. Tiếp tục ngâm chân vài ngày đến khi móng mọc lại bình thường.

Hoặc: Dùng thân khoai sọ giã nát đắp vào chỗ bị bệnh. Dùng củ khoai sọ trộn muối giã đắp lên những chỗ sưng đau trên cơ thể, đối với các loại đinh nhọt khác cũng có tác dụng tốt. Chú ý: Dùng khoai sọ xát lên da có thể gây dị ứng viêm tấy, nhưng giã gừng sống lấy nước bôi vào sẽ đỡ.

Lá táo non, rửa sạch 2 – 3 lần. Sau đó cho lá táo vào ngâm nước muối nhạt khoảng 15 phút . Sau đó vẩy khô. Tiếp tục cho thêm 1 ít muối trắng cùng lá táo non vào cối giã nát. Lấy bã vừa giã được đắp lên chỗ mé, rồi buộc lại bằng băng vải xô. Ngày thay băng 2 lần, lá táo sẽ hút sạch mủ và giúp nhanh lành, vết chín mé sẽ hết đau nhức.

Lá trầu không là một loại lá thuốc nam mang lại rất nhiều công dụng, lá trầu không có tính kháng khuẩn cao nên được rất nhiều người sử dụng để chữa viêm ngứa phụ khoa, viêm phế quản, chữa các bệnh về phổi, các bệnh lở loét, mụn nhọt… trong đó nhiều người bị bệnh chín mé cũng sử dụng lá trầu không để chữa trị.

Cách chữa chín mé bằng lá trầu không, người bệnh thường dùng 2-3 lá trầu không rửa sạch đun lấy nước dùng để rửa vùng tổn thương hàng ngày hoặc dùng lá trầu không hơ nóng và đắp vào vùng tổn thương. Làm như vậy ngày 2-3 lần sẽ thấy bệnh có chuyển biến tốt.

Tuy nhiên, dùng bằng phương pháp nào thì người bệnh cũng cần tham khảo ý kiến của bác sỹ và thực hiện chữa trị cẩn thận, kiên trì… để không bị tái đi tái lại nhiều lần. Ngoài ra, khoảng 40% viêm kẽ móng là do cắt móng sai, không cắt móng theo hình vòm cung và quá sát với phần thịt, nên cắt thẳng và làm nhẵn các góc bằng giũa, đồng thời giữ vệ sinh cho móng để tránh bị tái lại.

Nhiễm Herpes Simplex Virus Sinh Dục

Năm 1896, Fournier đã đưa ra chẩn đoán và điều trị bệnh này. Năm 1939, Burnet và Williams đã dùng thuật ngữ “Herpes simplex infections” và cho rằng bệnh tồn tại trong cơ thể suốt đời mà chủ yếu ở thể tiềm ẩn không biểu hiện triệu chứng bệnh, do sự tác động của một số yếu tố làm cho vi rút trở nên hoạt tính và bệnh có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Nhờ những tiến bộ khoa học, năm 1952-1956 đã nuôi cấy và phân lập được Herpes Simplex Virus – HSV. Vào những năm 1960, người ta đã biết được có hai týp HSV gây bệnh ở người: HSV-1 thường gây bệnh ở niêm mạc miệng và HSV-2 gây bệnh chủ yếu ở sinh dục-hậu môn.

Giữa cuối thập kỷ 70, các thày thuốc lâm sàng đã biết rõ herpes sinh dục là một bệnh lây truyền qua đường tình dục quan trọng. Đối với phụ nữ có thai khi mắc bệnh này có thể lây truyền vi rút cho thai nhi và gây những biến chứng nghiêm trọng đe dọa tính mạng của trẻ sơ sinh như viêm màng não, viêm phổi… Lần đầu tiên công chúng được biết đến tầm quan trọng của bệnh qua tạp chí Time xuất bản năm 1982. Tiến bộ điều trị đầu tiên là sử dụng vidarabine điều trị viêm màng não do HSV đã làm giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, thuốc này gây độc và khó sử dụng. Chỉ đến năm 1977, bác sĩ Gertrude Elion và cộng sự phát minh ra acyclovir thì điều trị Herpes sinh dục mới thực sự có bước tiến bộ rõ rệt. Sau đó một số thuốc khác ra đời như valacyclovir và famciclovir nhưng cũng không có ưu việt đáng kể so với acyclovir. Cho đến nay, không có thuốc nào diệt được vi rút, chữa khỏi bệnh mà chỉ có thể cải thiện được triệu chứng lâm sàng và vấn đề vi rút tiềm ẩn trong cơ thể vẫn chưa được giải quyết.

Từ năm 1924, các nhà khoa học đã quan tâm đến việc nghiên cứu vắc xin phòng nhiễm HSV. Cho đến nay, có hơn 60 công trình nghiên cứu về dự phòng và điều trị. Tuy nhiên, hầu hết các công trình này đều không được kiểm chứng. Hiện có hai loại vắc xin đã được nghiên cứu đánh giá: vắc xin kết hợp giữa glycoprotein (g)D và gB với MF-59 và vắc xin kết hợp giữa gD và cơ chất, những thật không may là cả hai loại vắc xin này đều không có tác dụng phòng bệnh.

Nhờ vào tét huyết thanh chẩn đoán nên đã có thể đánh giá được tỷ lệ hiện nhiễm HSV. Những nghiên cứu cho thấy, ở những nhóm dân cư có mức độ kinh tế- xã hội thấp thì tỷ lệ nhiễm rất cao (có thể đến 80-100%), nhưng nhóm dân cư có trình độ kinh tế- xã hội cao thì tỷ lệ này chỉ là < 50%. Nữ có tỷ lệ nhiễm cao hơn nam. Châu Phi có tỷ lệ nhiễm khá cao, một số nghiên cứu cho thấy ở phụ nữ trẻ có 80% nhiễm HSV so với thanh niên nam là 40%. Những người nhiễm HIV có tỷ lệ nhiễm HSV cao hơn người không nhiễm. Trên những bệnh nhân STD, tỷ lệ nhiễm HSV cũng cao hơn.

Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá tỷ lệ hiện nhiễm HSV.2. NGUYÊN NHÂN

Bệnh Herpes đơn dạng do vi rút Herpes simplex virus (HSV), là vi rút DNA lớn (100-200nm). Vi rút nhân lên trong tế bào và tạo nên các thể vùi có thể phát hiện được bằng nhuộm soi kính hiển vi quang học. Có nhiều chủng herpes được phân theo genome loại a, b và g. Trong đó có 8 chủng HSV ở người, đó là HSV 1 và 2 (a), herpesvirus varicellae (varicella zoster virus, b), human cytomegalovirus (b), Epstein-Barr virus (g), human herpesvirus 6 (b), human herpesvirus 7 (b), human herpesvirus 8 (g).

Có hai chủng HSV chủ yếu là HSV-1, gây bệnh vùng mặt và HSV-2, gây nhiễm trùng sinh dục. Cả hai chủng này đều tồn lưu trong hạch thần kinh cảm giác sau khi nhiễm trùng tiên phát. Trong giai đoạn này, vi rút không sinh ra protein của nó nên vật chủ không phát hiện ra sự tồn tại của nó trong cơ thể. Do đó, nó có thể di chuyển trong sợi thần kinh và khi nhân lên ở da-niêm mạc sẽ gây nên tái phát triệu chứng. Vi rút có thể được đào thải qua nước bọt và dịch sinh dục ở những người bệnh không triệu chứng, đặc biệt trong tháng đầu tiên sau khi nhiễm bệnh. Nghiên cứu cho thấy những người có triệu chứng thì lượng vi rút đào thải ra lớn hơn 100-1000 lần người không có triệu chứng. Vi rút lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua dịch chứa vi rút. HSV-1 gây nhiễm chủ yếu ở trẻ em, triệu chứng thường nhẹ hoặc tiềm ẩn. Ở các nước nghèo, tỷ lệ trẻ nhiễm HSV có thể gần 100%, trái lại các nước phát triển thì tỷ lệ thấp hơn, có thể chỉ bằng một nửa số trên. HSV-2 chủ yếu gây nhiễm ở những người trưởng thành thông qua hoạt động tình dục. Theo một số nghiên cứu thì có khoảng 1/3 người trẻ tuổi có huyết thanh dương tính với HSV-2 và tỷ lệ này cao hơn ở những người lớn tuổi hơn, có thể đến trên 50%. Nhiễm HSV-2 tiên phát thường có triệu chứng và biểu hiện lâm sàng nặng hơn tái phát. Lây truyền bệnh thường xảy ra khi người bệnh không có triệu chứng. Gần đây, tỷ lệ HSV-1 ở sinh dục tăng lên do quan hệ tình dục miệng-sinh dục.

Các sang chấn nhỏ trên da/niêm mạc tạo điều kiện cho vi rút xâm nhập vào các tế bào biểu mô. HSV có thể lây nhiễm do tiếp xúc với người bệnh như khi chơi thể thao gây va chạm, tiếp xúc tình dục, hôn, tiếp xúc của nhân viên y tế bị nhiễm vi rút, … hoặc HSV trong cơ thể người bệnh lây nhiễm sang vùng da khác như tật cắn móng tay, mút tay làm lây nhiễm vi rút từ miệng. Sau khi nhiễm vi rút, miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào chống lại sự xâm nhập của vi rút nhưng không may là hiệu quả của kháng thể không tiêu diệt được vi rút, không tránh được tái nhiễm và tái phát bệnh. Ở những bệnh nhân đã nhiễm HSV miệng thì khi nhiễm HSV ở sinh dục thường không nặng. Những người khỏe mạnh, có miễn dịch bình thường thì bệnh tái phát khi miễn dịch trung gian tế bào suy giảm tạm thời. Một số yếu tố làm bệnh tái phát là sang chấn tại chỗ, bỏng nắng, kinh nguyệt, căng thẳng thần kinh… Trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải, có tỷ lệ nhiễm HSV cao hơn, biểu hiện lâm sàng nặng hơn và không điển hình. Phụ nữ có thai khi nhiễm HSV sơ phát khi sinh đẻ có nguy cơ lây nhiễm tới 50% cho trẻ và gây nhiễm nặng, có thể tử vong. Nếu mẹ bị nhiễm vào 3 tháng cuối của thai kỳ, có thể gây thai chết lưu và đẻ non. Những người phụ nữ có thai bị nhiễm HSV từ trước thì nguy cơ đối với thai nhi thấp hơn nhiều do thai nhi được kháng thể của mẹ bảo vệ.

Khi vi rút xâm nhập vào cơ thể, chúng tồn lưu trong một số tế bào đặc hiệu và trở thành thể bệnh tiềm ẩn. Dưới một số điều kiện ảnh hưởng, khi miễn dịch suy giảm thì vi rút trở nên tái hoạt tính hủy hoại tế bào và gây triệu chứng nhiễm trùng cấp tính.3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG3.1. Nhiễm HSV sơ phát (tiên phát)

Nhiễm HSV sơ phát xảy ra trên những người có huyết thanh âm tính và đa số là không triệu chứng. Những người có biểu hiện triệu chứng lâm sàng thì thường có biểu hiện nặng hơn tái nhiễm. Nhiễm HSV sinh dục thường hay có triệu chứng hơn nhiễm ở miệng.

– Thời gian ủ bệnh khoảng 3-5 ngày. Trước khi có biểu hiện tổn thương da và niêm mạc, bệnh nhân có cảm giác ngứa, dấm dứt tại chỗ, sau đó xuất hiện một dát đỏ phù nề, trên có nhiều mụn nước. Các mụn nước thường đứng thành từng cụm, từ 2-10 mụn nước. Mụn nước thường căng tròn kích thước bằng đầu đinh ghim hoặc to hơn, bên trong chứa dịch vàng chanh hoặc trong suốt. Có khi các mụn nước liên kết với nhau thành bọng nước nhỏ, các mụn nước, bọng nước sắp xếp thành hình vòng cung. Khi các bọng nước xuất hiện thì cũng là lúc triệu chứng cơ năng bớt dần. Các mụn nước, bọng nước này có thể bội nhiễm thành dịch vàng, tồn tại một vài ngày rồi vỡ tạo thành các vết chợt hình đa cung, sau đó đóng vảy tiết màu vàng nâu. Vảy tiết sau vài ngày bong ra để lại các vết sẫm màu, dần dần da trở lại bình thường, không có sẹo.

– Tiến triển: trong vòng 1-2 tuần, nhưng hay tái phát.

– Triệu chứng toàn thân: có thể sốt, mệt mỏi, chán ăn, hạch lân cận sưng to, đau. + Nhiễm HSV sinh dục. Nhiễm HSV sinh dục chủ yếu lây qua quan hệ tình dục và đa số bệnh nhân bị bệnh do HSV-2 gây nên. Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ bệnh do HSV-1 tăng lên do quan hệ miệng-sinh dục. Trong các loét sinh dục hoa liễu hiện nay thì nhiễm herpes là hay gặp nhất. Biểu hiện lâm sàng bệnh nhân thường có tiền triệu là mệt mỏi. Trên bệnh nhân nam, thương tổn hay gặp ở dương vật, quy đầu và bao quy đầu. Thương tổn thường đau, kéo dài khoảng 2-3 tuần nếu không điều trị. Các bệnh nhân nam đồng tính có thể thấy thương tổn ở hậu môn và quanh hậu môn. Ở bệnh nhân nữ, các thương tổn ở sinh dục ngoài như âm hộ, môi lớn, môi nhỏ, cổ tử cung. Các vết loét làm cho người bệnh đau, đi tiểu buốt, ở cổ tử cung làm cho viêm cổ tử cung loét nặng.

Trên những người nhiễm HIV, loét thường kéo dài và trở nên mạn tính, tái phát nhiều.

Khả năng tái phát khoảng 95% với HSV-2 và 50% với HSV-1, có 2/3 trường hợp tái phát từ 2 đến 6 lần/năm. Những người đã nhiễm HSV-1 thì khi nhiễm HSV-2 sinh dục sơ phát thường có triệu chứng nhẹ hơn, triệu chứng lâm sàng tiến triển ngắn hơn và triệu chứng toàn thân nhẹ. Nhiễm HSV tái phát

Triệu chứng lâm sàng thường nhẹ hơn, các thương tổn da có mụn nước nhỏ hơn, nhanh khỏi hơn, hầu như không có triệu chứng toàn thân. Bệnh nhân có thể có tiền triệu như ngứa, cảm giác bỏng rát, đau dây thần kinh trước khi nổi mụn nước vài giờ hoặc ngày hôm trước. Thông thường mụn nước nhỏ, thành đám trên nền da viêm đỏ. Các mụn nước nhanh chóng thành mụn mủ và đóng vẩy tiết rồi lành không để lại sẹo, diễn biến bệnh ngắn hơn sơ phát, thường trong khoảng 7-10 ngày. Bệnh nhân có thể đau khi xuất hiện thương tổn và đau kéo dài trong vài ngày. Vị trí thương tổn thường ở vị trí sơ phát, nhưng có thể ở bất kỳ vùng da-niêm mạc nào trên cơ thể. Tiến triển nhẹ hơn và thời gian bệnh ngắn hơn sơ phát.4. XÉT NGHIỆM

Các xét nghiệm xác định HSV gồm nuôi cấy vi rút, xét nghiệm huyết thanh ELISA tìm kháng thể kháng HSV, miễn dịch huỳnh quang, PCR, kính hiển vi điện tử phát hiện vi rút. Chẩn đoán tế bào học theo phương pháp Tzanck thấy tế bào khổng lồ. Trong các xét nghiệm thì PCR là tét có độ nhạy và đặc hiệu cao nhất.5. CHẨN ĐOÁN5.1. Chẩn đoán xác định

– Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng vì thông thường bệnh có triệu chứng rõ. Tuy nhiên, việc xác định bệnh ở những người không triệu chứng phải dựa vào xét nghiệm.

– Các xét nghiệm xác định HSV thường làm: ELISA, miễn dịch huỳnh quang, PCR. Một xét nghiệm có thể làm ở nhiều cơ sở là chẩn đoán tế bào học Tzanck thấy tế bào khổng lồ là hình ảnh hỗ trợ cho chẩn đoán bệnh này.5.2. Chẩn đoán phân biệt

– Zona, chốc bọng nước nhỏ, eczema thể đồng tiền, bệnh Duhring-Brocq, áp tơ miệng.

– Các loét ở sinh dục khác như: Hạ cam, giang mai, vết loét do sang chấn vùng sinh dục, săng ghẻ, pemphigus, Behçet, Crohn’ disease…

– Chẩn đoán phân biệt với các bệnh: nhiễm liên cầu, bệnh bạch hầu, tưa miệng, áp tơ, viêm họng mụn nước do coxsackievirus, hội chứng Stevens- Johnson, hồng ban cố định nhiễm sắc.6. ĐIỀU TRỊ6.1. Nguyên tắc chung

– Điều trị bao gồm chống bội nhiễm tại thương tổn, chống vi rút và cần tư vấn cho người bệnh về khả năng bệnh tái phát, đề phòng biến chứng trong đó có eczema herpeticum, đề phòng lây nhiễm cho người khác.

– Điều trị cần được tiến hành càng sớm càng tốt đối với nhiễm HSV sơ phát mà không cần chờ kết quả xét nghiệm. Thuốc chống vi rút sẽ làm giảm triệu chứng toàn thân, hạn chế sự lan rộng của HSV tại chỗ. Liệu trình điều trị đối với nhiễm sơ phát ít nhất 10 ngày.

– Nhiễm HSV sinh dục cần được tư vấn điều trị cho bạn tình và phòng tránh nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, trong đó có nhiễm HIV.

– Nếu có bội nhiễm dùng kháng sinh phổ rộng.

– Tăng cường sức khoẻ bằng chế độ dinh dưỡng nhiều đạm, vitamin và chế độ nghỉ ngơi thích hợp.7. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

Vắc xin mới trong giai đoạn thử nghiệm.

Cần tuyên truyền giáo dục y tế về sức khoẻ sinh sản và an toàn tình dục.

3 Cách Chữa Chín Mé Tại Nhà Hiệu Quả Nhanh Nhất, Bạn Nên Biết

1. Bệnh chín mé là gì?

Bệnh chín mé là hiện tượng đầu ngón tay, ngón chân bị xước nhưng không được vệ sinh sạch sẽ dẫn tới nhiễm khuẩn. Chủ yếu do nhiễm tụ cầu khuẩn vàng liên cầu gây mủ. Bệnh sẽ thường diễn ra dai dẳng, dễ tái phát nếu không chữa kịp thời, triệt để. Nguy cơ bị tử vong khá cao nên không thể coi nhẹ căn bệnh “tưởng” là lành tính này.

Bệnh chín mé gồm 3 dạng: chín mé nông, chín mé dưới da và chín mé sâu

2. Cách chữa chín mé tại nhà với 3 phương pháp sau

Nếu phát hiện mắc bệnh chín mé, bạn cần bình tĩnh và có thể lựa chọn một trong bốn cách chữa chín mé tại nhà hiệu quả:

2.1 Cách chữa chín mé tại nhà đơn giản: Ngâm nước giấm

Đây là cách chữa chín mé tại nhà đơn giản mà vô cùng hiệu quả. Với cách này bạn có thể dùng giấm hoặc giấm táo pha với nước theo tỷ lệ 1 giấm : 4 nước. Ngâm chân hoặc tay từ 15-20 phút sau đó lau khô. Một ngày nên thực hiện cách này khoảng 2-3 lần để đạt hiệu quả tốt nhất.

2.2 Cách chữa chín mé tại nhà hiệu quả: Ngâm muối Epsom

Muối Epsom là tên gọi khác của muối vô cơ Magie sulphat. Đây là loại muối được sử dụng nhiều trong việc làm đẹp và chăm sóc sức khỏe. Hãy ngâm muối Epsom nếu mắc bệnh chín mé bởi loại muối này có tác dụng tốt để giảm đau và nhiễm trùng.

Cách làm :

– Pha 2 muỗng canh muối Epsom cho một lít nước.

– Dùng 1-2 lít nước ấm.

– Ngâm từ 20-25 phút, sau đó lau khô bằng khăn sạch và nên lặp lại 2-4 lần/ngày.

2.3 Ngâm nước ấm

Ngâm chân trong nước ấm giúp da chân mềm mại hơn. Sau khi ngâm từ 20-30 phút, giữ chân sạch, đệm một miếng gạc cotton nhỏ dưới góc của phần móng chín mé sau đó từ từ nâng nó lên. Hoặc có thể dùng móng tay sạch từ từ trượt dưới cạnh móng chân và nâng lên.

Sau 3-4 ngày ngâm chân với nước ấm, hoặc xử trí theo những cách trên sẽ giúp giảm tình trạng viêm nhiễm, có thể dùng chiếc kéo nhỏ đã sát trùng nhẹ nhàng cắt phần móng chân bị mọc vào trong Giữ sạch sẽ và băng bó lại nhằm ngăn không cho móng bị nhiễm trùng và tổn thương lần nữa, có thể lấy ít bông thấm nước đặt ngay dưới móng để khỏi cắt vào thịt. Bạn có thể tiếp tục ngâm chân vài ngày đến khi mong mọc lại bình thường.

3. Lưu ý để không bị tái đi tái lại nhiều lần

Để đạt được hiệu quả tốt nhất cũng như tránh tái đi tái lại nhiều lần, bạn cần lưu ý một vài điều sau trong quá trình áp dụng các cách chữa chín mé tại nhà:

– Không ngâm chân, tay quá lâu trong nước

– Hàng ngày vệ sinh sạch sẽ chân, tay. Đảm bảo chân, tay không bị nhiễm khuẩn lần nữa

– Không đi chân trần, đặc biệt ở những nơi đất cát

– Không cắt móng chân, móng tay quá sát da, nhất là vùng sâu phía bên trong cạnh của móng.

Chín mé là tình trạng nhiễm trùng tạo mủ hoặc áp xe ở đầu múp các ngón tay,…

Chín mé là một bệnh rất hay gặp trong các nhiễm khuẩn ở đầu ngón tay, bệnh rất dễ…

Cập nhật thông tin chi tiết về Chín Mé Do Virus Herpes trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!