Xu Hướng 2/2023 # Cắt U Buồng Trứng To Như Người Mang Bầu 7 Tháng # Top 3 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Cắt U Buồng Trứng To Như Người Mang Bầu 7 Tháng # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Cắt U Buồng Trứng To Như Người Mang Bầu 7 Tháng được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(CAO) Người phụ nữ 52 tuổi, ngụ TPHCM bị đau vùng hạ vị. Vì nghĩ chỉ bị chột bụng nên bà không thăm khám. Tuy nhiên, bụng ngày càng có dấu hiệu đau nhiều và ngày càng to như mang thai nên bà đến Bệnh viện Hùng Vương thăm khám.

Tại bệnh viện, bệnh nhân được siêu âm, bác sĩ phát hiện bà bị u buồng trứng trái, khối u phát triển rất to. Khối u lành tính nên bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi dưới hỗ trợ hình ảnh 3D

Sau khi bóc tách, khối u với kích thước khoảng 10cm đã được lấy ra khỏi người bệnh nhân. Một ngày sau mổ, bệnh nhân hồi phục tốt và được xuất viện.

Ca phẫu thuật bằng phương pháp nội soi 3D cắt u buồng trứng khổng lồ cho một phụ nữ tại BV Hùng Vương . Ảnh: Thiên Chương

Theo Huỳnh Xuân Nghiêm, Phó giám đốc Bệnh viện Hùng Vương, với trường hợp của bệnh nhân trên, nếu không giải quyết khối u sớm có thể sẽ khiến u bị vỡ trong ổ bụng hoặc viêm phúc mạc. 

Bệnh viện Hùng Vương là bệnh viện công lập đầu tiên phía Nam đưa công nghệ mổ nội soi 3D vào phẫu thuật mổ ung thư phụ khoa. Ứng dụng kỹ thuật nội soi 3D trong phẫu thuật ung thư phụ khoa như bóc u nang buồng trứng, cắt phần phụ (tai vòi buồng trứng), cắt tử cung, bóc nhân xơ, ung thư giai đoạn sớm cổ tử cung, ung thư nội mạc tử cung…

Bằng hình ảnh 3D, các phẫu thuật viên có thể nhìn rõ những khu vực lẩn khuất và có thể loại bỏ các khối u dễ dàng nhất. Sắp tới kỹ thuật này sẽ được ứng dụng để tiến hành phẫu thuật trong ngày (sáng phẫu thuật, chiều xuất viện) nhằm giảm tối đa thời gian nằm viện và hạn chế thương tổn cho bệnh nhân.

Các bác sĩ khuyến cáo, chị em tầm 35-45 tuổi nên đi tầm soát bệnh lý phụ khoa mỗi năm để sớm phát hiện các bệnh lý nếu có. Nếu để khối u phát triển quá lớn, vỡ các nang sẽ xử lý rất khó, các nguy cơ nhiễm trùng cao, hệ quả khó lường hơn.

Ngô Đồng

Cắt Buồng Trứng Là Gì? Các Thay Đổi Sau Cắt Buồng Trứng

Thông thường, để phòng ngừa ung thư, bác sĩ thường lựa chọn cắt bỏ cả hai buồng trứng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp u nang, các chuyên gia khuyên người bệnh chỉ nên cắt bỏ buồng trứng có bất thường và giữ lại buồng trứng bình thường.

Có mấy cách thực hiện phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng?

Theo các chuyên gia, có hai cách để thực hiện phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng là cắt buồng trứng theo phương pháp mổ hở hoặc phẫu thuật nội soi xâm lấn tối tiểu. Cụ thể:

Phẫu thuật mở: Trong một số trường hợp, bác sĩ phụ khoa sẽ yêu cầu bệnh nhân tiến hành thực hiện phẫu thuật mở. Đây là biện pháp được thực hiện bằng cách rạch một vết rạch dài và duy nhất dưới bụng để đến buồng trứng. Phẫu thuật mở thường được chỉ định thực hiện trong trường hợp u nang lớn hoặc có khả năng gây ung thư.

Phẫu thuật nội soi: Biện pháp điều trị này được chỉ định nếu u nang đơn giản hoặc nhỏ. Bác sĩ phẫu thuật sẽ rạch hai hoặc ba vết rạch nhỏ có chiều dài từ 5 mm đến 1 cm ở gần rốn hoặc bên dưới rốn. Sau đó, thông qua vết cắt họ sẽ đưa một đầu thiết bị nội soi vào buồng trứng để kiểm tra và giúp loại bỏ u nang, buồng trứng. Các vết cắt trên da sẽ được khâu lại bằng chỉ tự tiêu.

Thông thường, sau khi mổ, phẫu thuật hở sẽ để lại vết sẹo hình chữ C trên bụng. Bên cạnh đó, người bệnh thường phải ở lại bệnh viện lâu hơn phẫu thuật nội soi. Thời gian ở lại bao lâu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

Còn đối với mổ nội soi, người bệnh không cần phải nằm viện quá lâu. Ngoài ra, biện pháp này còn giúp làm giảm các biến chứng có thể xảy ra trong quá trình phẫu thuật như nhiễm trùng hoặc máu đông. Hơn nữa, phẫu thuật nội soi thường vì mục đích thẩm mỹ nên sau khi mổ xong thường không để lại sẹo hoặc sẹo rất nhỏ.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình trạng và mức độ bệnh của mỗi người mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp phẫu thuật phù hợp nhằm giúp giảm thiểu yếu tố rủi ro đến mức thấp nhất có thể.

Điều gì xảy ra sau khi cắt buồng trứng?

+ Suy giảm hormone

Theo các chuyên gia, buồng trứng giúp tạo estrogen. Thế nhưng, khi mổ buồng trứng, cơ thể sẽ ngừng sản xuất estrogen. Lúc này hàm lượng estrogen trong cơ thể sẽ suy giảm, làm tăng nguy cơ mắc bệnh loãng xương, tim mạch, sa sút trí tuệ hoặc tử vong.

Theo một số tài liệu thống kên, phụ nữ khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh nhưng đã phẫu thuật buồng trứng ở tuổi 35 hoặc trẻ hơn thường có nguy cơ mất trí nhớ hoặc giảm nhận thức cao gấp hai lần những đối tượng không mổ buồng trứng. Bên cạnh đó, nguy cơ mắc bệnh tim của những người này cao gấp 7 lần và khả năng lên cơn đau tim cao gấp 8 lần.

Thông thường, để cải thiện tình trạng này, sau khi phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng, bác sĩ thường đề nghị người bệnh sử dụng liệu pháp hormone thay thế liều thấp. Bên cạnh đó, họ cũng yêu cầu người bệnh dùng một số loại thuốc khác và thử thay đổi lối sống để kiểm soát triệu chứng bệnh.

+ Tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Mặc dù các nhà khoa học không xác định chính xác được cơ chế hoạt động như sau khi buồng trứng bị cắt bỏ, phụ nữ thường có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 7 lần. Việc sản xuất hormone của buồng trứng không đủ để đáp ứng các nhu cầu của cơ thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt và làm tăng khả năng mắc bệnh tim mạch.

+ Loãng xương

+ Ảnh hưởng đến tâm lý và tình dục

Cắt bỏ buồng trứng là nguyên nhân làm estrogen sụt giảm nhanh trong cơ thể. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý và cảm xúc của bệnh nhân. Vì vậy, sau khi phẫu thuật, người bệnh thường mất cảm giác ham muốn hoặc khó kích thích tình dục.

Cắt buồng trứng có kinh không?

Cơ thể người phụ nữ có 2 buồng trứng, buồng bên trái và bên phải. Vì hai buồng trứng đều hoạt động độc lập nên nếu người bệnh chỉ cắt một buồng trứng và buồng còn lại vẫn có khả năng hoạt động bình thường, vẫn có thể điều trị được thì người bệnh vẫn có kinh bình thường. Tuy nhiên, trong trường hợp, cả hai buồng trứng và ống dẫn trứng đều bị loại bỏ, chức năng hoạt động của buồng trứng sẽ mất đi. Khi đó, người bệnh không thể có kinh nguyệt như bình thường.

Cắt buồng trứng có thai không?

Buồng trứng chính là cơ quan giúp dẫn đường cho tinh trùng đến tìm trứng nhằm giúp tăng tỷ lệ đậu thai. Cả hai buồng trứng, bao gồm bên trái và bên phải đều có chung nhiệm vụ nhưng hoạt động lại độc lập.

Do đó, nếu người bệnh cắt một bên buồng trứng thì bên buồng trứng khỏe mạnh còn lại vẫn có khả năng duy trì sức khỏe sinh sản. Vì vậy, bệnh nhân vẫn có thể có thai sau khi loại bỏ 1 bên buồng trứng.

Tuy nhiên, nếu người bệnh cắt cả hai buồng trứng, chức năng của buồng trứng sẽ mất đi. Khi đó, bệnh nhân sẽ không có khả năng thụ thai tự nhiên thành công. Nếu muốn có con, phụ nữ có thể thực hiện biện pháp thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách xin trứng.

Cắt buồng trứng hết bao nhiêu?

Hiện nay chi phí cắt bỏ buồng trứng vẫn chưa được xác định cụ thể. Dựa vào phương pháp mổ, diện chính sách,… mà khoản chi phí chi trả cho ca cắt buồng trứng ở mỗi người là không giống nhau. Chẳng hạn, mức phí phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Cơ sở thăm khám và phẫu thuật mà bệnh nhân lựa chọn: Nếu bệnh nhân lựa chọn bệnh viện chẩn đoán và phẫu thuật uy tín, có chất lượng tốt, được trang bị đầy đủ máy móc hiện đại, cơ sở hạ tầng khang trang,… chi phí mổ sẽ cao hơn những nơi khám và chữa bệnh bình dân

Phương pháp cắt buồng trứng: Tùy thuộc vào biện pháp phẫu thuật mà chi phí mổ khác nhau. Thông thường, biện pháp mổ hở thường có chi phí thấp hơn mổ nội soi. Cụ thể, mổ nội soi buồng trứng thường có phí khoảng 8 – 10 triệu đồng, còn mổ hở thấp hơn nằm trong mức 6 – 8 triệu đồng. Nếu người bệnh có bảo hiểm chi trả, mức phí có thể thấp hơn.

Tình hình hồi phục sau khi mổ: Nếu vết mổ lành nhanh và bệnh bình phục sớm, bệnh nhân sẽ giảm thiểu được những khoản phí như viện phí, thuốc bồi dưỡng và thuốc kháng sinh,…

Tìm Hiểu Về Cắt U Nang Buồng Trứng Tại Bệnh Viện Từ Dũ

Gây tê phẫu thuật cắt u nang buồng trứng có thể được thực hiện dưới gây tê tủy sống. Đó là kỹ thuật gây tê vùng được thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện nhằm ức chế tạm thời dẫn truyền thần kinh qua tủy sống nhằm đáp ứng yêu cầu vô cảm để phẫu thuật và giảm đau.

I. ĐẠI CƯƠNG

Gây tê phẫu thuật cắt u nang buồng trứng có thể được thực hiện dưới gây tê tủy sống. Đó là kỹ thuật gây tê vùng được thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện nhằm ức chế tạm thời dẫn truyền thần kinh qua tủy sống nhằm đáp ứng yêu cầu vô cảm để phẫu thuật và giảm đau.

II. CHỈ ĐỊNH

– Vô cảm cho phẩu thuật cắt u nang buồng trứng – Giảm đau sau mỗ

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Người bệnh từ chối – Dị ứng thuốc tê – Viêm nhiễm vùng chọc kim gây tê – Thiếu khối lượng tuần hoàn chưa bù đủ, sốc – Rối loạn đông máu nặng – Dừng các thuốc chống đông chưa đủ thời gian – Hẹp van hai lá khít, van động mạch chủ khít – Tăng áp lực nội sọ

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện ký thuật: bác sĩ, điều dưỡng viên chuyên khoa gây mê hồi sức. 2. Phương tiện: 2.1. Phương tiện cấp cứu và theo dõi – Phương tiện hồi sức: nguồn oxy, bóng Ambu, mask, các phương tiện đặt nội khí quản, máy mê kèm thở, máy sốc điện, máy hút… – Thuốc hồi sức tuần hoàn: dịch truyền, thuốc: ephedrin, adrenalin… – Thuốc chống co giật: họ barbituric, benzodiazepin, giãn cơ, intralipid 10-20%… – Phương tiện theo dõi thường quy: điện tim, huyết áp, bão hòa oxy, nhịp thở… 2.2. Phương tiện, dụng cụ gây tê và thuốc tê – Bơm kim tiêm các cỡ, găng tay, gạc vô trùng, pince, cồn sát trùng, khăn lỗ vô trùng, kim gây tê tủy sống các cở – Thuốc tê: bupivacain, levobupivacain, ropivacain… có thể phối hợp với thuốc họ morphin (morphin từ 100-300 mcg; fentanyl 25-50 mcg, sulfentanil 2,5-5 mcg…). 3. Chuẩn bị người bệnh – Thăm khám trước mổ, giải thích cho người bệnh cùng hợp tác khi gây tê. – Vệ sinh vùng gây tê. 47

– Cho người bệnh an thần tối hôm trước mổ (nếu cần). 4. Kiểm tra hồ sơ bệnh án – Theo qui định của Bộ y tế

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1-. Kiểm tra hồ sơ: Phiếu tư vấn , biên bản hội chẩn , giấy cam đoan 2. Kiểm tra người bệnh: số nhập viện trên vòng đeo tay , thời gian nhịn ăn . 3. Thực hiện kỹ thuật 3.1. Kỹ thuật gây tê tủy sống – Dự phòng hạ huyết áp: đặt đường truyền tĩnh mạch có hiệu quả và bù dịch từ 5-10 ml/kg (đối với người lớn). – Tư thế: Thường có 2 tư thế: + Tư thế ngồi: người bệnh ngồi cong lưng, đầu cúi, cằm tì vào ngực, chân duỗi trên mặt bàn mổ hoặc bàn chân đặt trên ghế. + Tư thế nằm: người bệnh nằm nghiêng cong lưng, hai đầu gối áp sát vào bụng cằm tì vào ngực. – Người thực hiện: đội mũ, đeo khẩu trang, rửa tay, mặc áo, đi găng vô khuẩn. – Sát trùng vùng chọc kim 3 lần bằng dung dịch sát trùng và phủ khăn lỗ vô trùng. – Kỹ thuật gây tê tuỷ sống: đường giữa hoặc đường bên. + Đường giữa: chọc vào khe giữa 2 đốt sống, vị trí chọc sẽ phụ thuộc vào phẫu thuật cao hay thấp, thông thường L2-L3 đến L4-L5. + Đường bên: chọc cách đường giữa 1-2cm, hướng kim vào đường giữa, lên trên, ra trước. + Hướng mặt vát của kim gây tê song song với cột sống người bệnh. + Chọc kim cho đến khi đạt được cảm giác mất sức cản do kim đi qua màng cứng. + Kiểm tra nếu có dịch não tuỷ chảy ra, quay mũi vát của kim về phía đầu người bệnh và bơm thuốc tê. Liều dùng dựa vào trọng lượng, chiều cao và thể trạng của người bệnh: bupivacain liều từ 8-15mg; levobupivacain từ 8–15mg; ropivacain liều từ 15-20mg; Có thể phối hợp với thuốc họ morphin (morphin từ 100-200 mcg; fentanyl 10-25 mcg, sulfentanil 2,5-5 mcg…). Kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng: – Dự phòng hạ huyết áp: đặt đường truyền tĩnh mạch có hiệu quả và bù dịch từ 5-10 ml/kg (đối với người lớn). – Tư thế: Thường có 2 tư thế: + Tư thế ngồi: người bệnh ngồi cong lưng, đầu cúi, cằm tì vào ngực, chân duỗi trên mặt bàn mổ hoặc bàn chân đặt trên ghế. 48

+ Tư thế nằm: người bệnh nằm nghiêng cong lưng, hai đầu gối áp sát vào bụng cằm tì vào ngực. – Người thực hiện: đội mũ, đeo khẩu trang, rửa tay, mặc áo, đi găng vô khuẩn. – Sát trùng vùng chọc kim 3 lần bằng dung dịch sát trùng và phủ khăn lỗ vô trùng. – Gây tê tại chỗ bằng lidocain 1-2% – Kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng: đường giữa hoặc đường bên. + Đường giữa: chọc vào khe giữa 2 đốt sống, vị trí chọc sẽ phụ thuộc vào phẫu thuật cao hay thấp. + Đường bên: chọc cách đường giữa 1-2cm, hướng kim vào đường giữa, lên trên, ra trước. + Xác định khoang ngoài màng cứng bằng các dấu hiệu: mất sức cản, giọt nước treo, siêu âm (nếu có). + Đánh giá kim nằm đúng vị trí bằng mất sức cản và không có sự trào ngược của dịch não tủy và máu. +Xoay mặt vát kim hướng lên đầu, luồn catheter từ từ với độ dài trong khoang ngoài màng cứng 3-6cm. + Rút kim Tuohy + Hút kiểm tra và làm test bằng 2-3ml lidocain 2% trộn adrenalin 1/200.000. + Cố định catheter bằng băng vô khuẩn. + Thuốc sử dụng: lidocain 2% 300-500mg; bupivacain 0,5% 75-125mg; ropivacain 0,5% 75-125mg; levobupivacain 0,5% 75-125mg . Các thuốc phối hợp: morphin 3-4mg; sufentanil 10-20mcg không được vượt quá 30mcg/kg; fentanyl 50-100mcg. Để giảm đau sau mổ + Truyền liên tục: bupivacain 0,125-tốc độ chạy từ 4-6ml/giờ; ropivacain 0,125 4-10ml/giờ; levobupivacain 0,125 4-10ml/giờ . Nồng độ các thuốc phối hợp: morphin 10-20mcg/ml; fentanyl 1-2mcg/ml; sufentanil 0,5mcg/ml.

VI. THEO DÕI

– Các dấu hiệu sinh tồn: tri giác, nhịp tim, điện tim, huyết áp động mạch, độ bão hòa oxy mao mạch. – Mức độ phong bế cảm giác và vận động – Các tác dụng không mong muốn của gây tê tủy sống hoặc gây tê ngoài màng cứng. 49

– Tiêu chuẩn chuyển người bệnh khỏi phòng Hồi tỉnh: không có rối loạn về huyết động và hô hấp; phục hồi hoàn toàn vận động, mức phong bế cảm giác dưới T12 (dưới nếp bẹn).

VII. TAI BIẾN

VÀ XỬ TRÍ 1. Tai biến do thuốc và xử trí 1.1. Dị ứng, sốc phản vệ với thuốc tê: ít gặp với các thuốc tê thế hệ mới. Xử trí: dừng sử dụng thuốc tê; sử dụng phác đồ chống sốc phản vệ theo Bộ y tế 1.2. Ngộ độc thuốc tê: do tiêm nhầm vào mạch máu. Xử trí: dừng sử dụng thuốc tê, chống co giật, cấp cứu hồi sức hô hấp, tuần hoàn, truyền intralipid khi bị ngộ độc thuốc tê nhóm bupivacain và ropivacain. 2. Tai biến do kỹ thuật và xử trí của gây tê tủy sống – Hạ huyết áp, mạch chậm: điều trị bằng thuốc co mạch (ephedrin, adrenalin…) atropin và bù dịch. – Đau đầu: nằm bất động, bù đủ dịch, sử dụng thuốc giảm đau, vá màng cứng bằng máu tự thân (Blood Patch). – Buồn nôn và nôn: kiểm soát huyết áp, sử dụng thuốc chống nôn. – Bí tiểu: chườm ấm, đặt ống thông bàng quang nếu cần. – Gây tê tủy sống toàn bộ: cấp cứu hồi sức hô hấp, tuần hoàn. – Các biến chứng khác: tụ máu quanh tủy, tổn thương tủy, hội chứng đuôi ngựa, viêm màng não tủy. Cần hội chẩn và thăm dò thêm để xác định tổn thương. – Gây tê thất bại phải chuyển phương pháp vô cảm . 3-Tai biến do kỹ thuật và xử trí của gây tê ngoài màng cứng -Thủng màng cứng: rút kim chuyển vị trí chọc khác (trên vị trí cũ) hoặc chuyển phương pháp vô cảm. -Gây tê tủy sống toàn bộ do tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện: cấp cứu hồi sức hô hấp, tuần hoàn. -Hạ huyết áp, mạch chậm: điều trị bằng thuốc co mạch (ephedrin, adrenalin…) atropin và bù dịch. – Đau đầu: nằm bất động, bù đủ dịch, sử dụng thuốc giảm đau, vá màng cứng bằng máu tự thân (Blood Patch). – Buồn nôn và nôn: kiểm soát huyết áp, sử dụng thuốc chống nôn. – Bí tiểu: chườm ấm, đặt ống thông bàng quang nếu cần. – Các biến chứng khác: tụ máu ngoài màng cứng, tổn thương rễ thần kinh, hội chứng đuôi ngựa, viêm màng não tủy, áp xe khoang ngoài màng cứng. Cần hội chẩn và thăm dò thêm để xác định tổn thương. – Gây tê thất bại phải chuyển phương pháp vô cảm. 50

Lưu ý các vấn đề sau : Cuộc mổ có thể kéo dài nên chon kỷ thuật gây tê ngoài màng cứng và để giảm đau sau mổ Có thễ tổn thương các cơ quan tiết niệu hoặc ruột , cân nhắc để chuyể phương pháp vô cãm khác

51

113 GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG PHẨU THUẬT LẤY THAI TRÊN NGƯỜI BỆNH TIỀN SẢN GIẬT NẶNG I. ĐẠI CƯƠNG Gây tê phẩu thuật lấy thai trên người bệnh tiền sản giật nặng là kỹ thuật gây tê vùng bao gồm tê tủy sống hoặc tê ngoài màng cứng được thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện hoặc khoang ngoài màng cứng ức chế tạm thời dẫn truyền thần kinh qua tủy sống nhằm đáp ứng yêu cầu vô cảm để phẫu thuật và giảm đau. II. CHỈ ĐỊNH – Vô cảm cho phẩu thuật lấy thai trên người bệnh tiền sản giật nặng – Giảm đau sau phẩu thuật III. CHỐNG CHỈ ĐỊNH – Người bệnh từ chối – Dị ứng thuốc tê – Viêm nhiễm vùng chọc kim gây tê – Thiếu khối lượng tuần hoàn chưa bù đủ, sốc – Rối loạn đông máu nặng – Dừng các thuốc chống đông chưa đủ thời gian – Hẹp van hai lá khít, van động mạch chủ khít – Tăng áp lực nội sọ IV. CHUẨN BỊ 1. Người thực hiện ký thuật: bác sĩ, điều dưỡng viên chuyên khoa gây mê hồi sức. 2. Phương tiện: 2.1. Phương tiện cấp cứu và theo dõi – Phương tiện hồi sức: nguồn oxy, bóng Ambu, mask, các phương tiện đặt nội khí quản, máy mê kèm thở, máy sốc điện, máy hút… – Thuốc hồi sức tuần hoàn: dịch truyền đẳng trương và dung dịch keo, thuốc: ephedrin, adrenalin… – Thuốc chống co giật: họ barbituric, benzodiazepin, giãn cơ, intralipid 10-20%… – Phương tiện theo dõi thường quy: điện tim, huyết áp, bão hòa oxy, nhịp thở… 2.2. Phương tiện, dụng cụ gây tê và thuốc tê – Bơm kim tiêm các cỡ, găng tay, gạc vô trùng, pince, cồn sát trùng, khăn lỗ vô trùng, kim gây tê tủy sống (27, 29) hoăc bộ tê ngoài màng cứng 52

– Thuốc tê: Lidocain ,bupivacain, levobupivacain, ropivacain… có thể phối hợp với thuốc họ morphin (morphin từ 100-300 mcg; fentanyl 25-50 mcg, sulfentanil 2,5-5 mcg..).. 3. Chuẩn bị người bệnh – Thăm khám trước mổ, giải thích cho người bệnh cùng hợp tác khi gây tê. – Vệ sinh vùng gây tê. – Cho người bệnh an thần tối hôm trước mổ (nếu cần). 4. Kiểm tra hồ sơ bệnh án – Theo qui định của Bộ y tế V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 1-. Kiểm tra hồ sơ: Phiếu tư vấn , biên bản hội chẩn , giấy cam đoan 2. Kiểm tra người bệnh: số nhập viện trên vòng đeo tay , thời gian nhịn ăn . 3. Thực hiện kỹ thuật 3.1. Kỹ thuật gây tê tủy sống – Dự phòng hạ huyết áp: đặt đường truyền tĩnh mạch có hiệu quả và bù dịch từ 5-10 ml/kg (đối với người lớn). – Tư thế: Thường có 2 tư thế: + Tư thế ngồi: người bệnh ngồi cong lưng, đầu cúi, cằm tì vào ngực, chân duỗi trên mặt bàn mổ hoặc bàn chân đặt trên ghế. + Tư thế nằm: người bệnh nằm nghiêng cong lưng, hai đầu gối áp sát vào bụng cằm tì vào ngực. – Người thực hiện: đội mũ, đeo khẩu trang, rửa tay, mặc áo, đi găng vô khuẩn. – Sát trùng vùng chọc kim 3 lần bằng dung dịch sát trùng và phủ khăn lỗ vô trùng. – Kỹ thuật gây tê tuỷ sống: đường giữa hoặc đường bên. + Đường giữa: chọc vào khe giữa 2 đốt sống, vị trí chọc sẽ phụ thuộc vào phẫu thuật cao hay thấp, thông thường L2-L3 đến L4-L5. + Đường bên: chọc cách đường giữa 1-2cm, hướng kim vào đường giữa, lên trên, ra trước. + Hướng mặt vát của kim gây tê song song với cột sống người bệnh. + Chọc kim cho đến khi đạt được cảm giác mất sức cản do kim đi qua màng cứng. + Kiểm tra nếu có dịch não tuỷ chảy ra, quay mũi vát của kim về phía đầu người bệnh và bơm thuốc tê. Liều dùng dựa vào trọng lượng, chiều cao và thể trạng của người bệnh: bupivacain liều từ 8-12mg; levobupivacain từ 8–12mg; ropivacain liều từ 15-20mg; Có thể phối hợp với thuốc họ morphin (morphin từ 100-200 mcg; fentanyl 10-25 mcg, sulfentanil 2,5-5 mcg…). 53

Kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng: – Dự phòng hạ huyết áp: đặt đường truyền tĩnh mạch có hiệu quả và bù dịch từ 5-10 ml/kg (đối với người lớn). – Tư thế: Thường có 2 tư thế: + Tư thế ngồi: người bệnh ngồi cong lưng, đầu cúi, cằm tì vào ngực, chân duỗi trên mặt bàn mổ hoặc bàn chân đặt trên ghế. + Tư thế nằm: người bệnh nằm nghiêng cong lưng, hai đầu gối áp sát vào bụng cằm tì vào ngực. – Người thực hiện: đội mũ, đeo khẩu trang, rửa tay, mặc áo, đi găng vô khuẩn. – Sát trùng vùng chọc kim 3 lần bằng dung dịch sát trùng và phủ khăn lỗ vô trùng. – Gây tê tại chỗ bằng lidocain 1-2% – Kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng: đường giữa hoặc đường bên. + Đường giữa: chọc vào khe giữa 2 gai sau đốt sống, vị trí chọc sẽ phụ thuộc vào phẫu thuật cao hay thấp. + Đường bên: chọc cách đường giữa 1-2cm, hướng kim vào đường giữa, lên trên, ra trước. + Xác định khoang ngoài màng cứng bằng các dấu hiệu: mất sức cản, giọt nước treo, siêu âm (nếu có). + Đánh giá kim nằm đúng vị trí bằng mất sức cản và không có sự trào ngược của dịch não tủy và máu. +Xoay mặt vát kim hướng lên đầu, luồn catheter từ từ với độ dài trong khoang ngoài màng cứng 3-6cm. + Rút kim Tuohy + Hút kiểm tra và làm test bằng 2-3ml lidocain 2% trộn adrenalin 1/200.000. + Cố định catheter bằng băng vô khuẩn. + Thuốc sử dụng: lidocain 2% 300-500mg; bupivacain 0,5% 75-125mg; ropivacain 0,5% 75-125mg; levobupivacain 0,5% 75-125mg . Các thuốc phối hợp: morphin 3-4mg; sufentanil 10-20mcg không được vượt quá 30mcg/kg; fentanyl 50-100mcg. Để giảm đau sau mổ + Truyền liên tục: bupivacain 0,125-tốc độ chạy từ 4-6ml/giờ; ropivacain 0,125 4-10ml/giờ; levobupivacain 0,125 4-10ml/giờ . Nồng độ các thuốc phối hợp: morphin 10-20mcg/ml; fentanyl 1-2mcg/ml; sufentanil 0,5mcg/ml. VI. THEO DÕI 54

– Các dấu hiệu sinh tồn: tri giác, nhịp tim, điện tim, huyết áp động mạch, độ bão hòa oxy mao mạch. – Mức độ phong bế cảm giác và vận động – Các tác dụng không mong muốn của gây tê tủy sống hoặc gây tê ngoài màng cứng. – Tiêu chuẩn chuyển người bệnh khỏi phòng Hồi tỉnh: không có rối loạn về huyết động và hô hấp; phục hồi hoàn toàn vận động, mức phong bế cảm giác dưới T12 (dưới nếp bẹn). VII. TAI BIẾN VÀ XỬ TRÍ 1. Tai biến do thuốc và xử trí 1.1. Dị ứng, sốc phản vệ với thuốc tê: ít gặp với các thuốc tê thế hệ mới. Xử trí: dừng sử dụng thuốc tê; sử dụng phác đồ chống sốc phản vệ theo Bộ y tế 1.2. Ngộ độc thuốc tê: do tiêm nhầm vào mạch máu. Xử trí: dừng sử dụng thuốc tê, chống co giật, cấp cứu hồi sức hô hấp, tuần hoàn, truyền intralipid khi bị ngộ độc thuốc tê nhóm bupivacain và ropivacain. 2. Tai biến do kỹ thuật và xử trí của gây tê tủy sống – Hạ huyết áp, mạch chậm: điều trị bằng thuốc co mạch (ephedrin, adrenalin…) atropin và bù dịch. – Đau đầu: nằm bất động, bù đủ dịch, sử dụng thuốc giảm đau, vá màng cứng bằng máu tự thân (Blood Patch). – Buồn nôn và nôn: kiểm soát huyết áp, sử dụng thuốc chống nôn. – Bí tiểu: chườm ấm, đặt ống thông bàng quang nếu cần. – Gây tê tủy sống toàn bộ: cấp cứu hồi sức hô hấp, tuần hoàn. – Các biến chứng khác: tụ máu quanh tủy, tổn thương tủy, hội chứng đuôi ngựa, viêm màng não tủy. Cần hội chẩn và thăm dò thêm để xác định tổn thương. – Gây tê thất bại phải chuyển phương pháp vô cảm . 3-Tai biến do kỹ thuật và xử trí của gây tê ngoài màng cứng -Thủng màng cứng: rút kim chuyển vị trí chọc khác (trên vị trí cũ) hoặc chuyển phương pháp vô cảm. -Gây tê tủy sống toàn bộ do tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện: cấp cứu hồi sức hô hấp, tuần hoàn. -Hạ huyết áp, mạch chậm: điều trị bằng thuốc co mạch (ephedrin, adrenalin…) atropin và bù dịch. – Đau đầu: nằm bất động, bù đủ dịch, sử dụng thuốc giảm đau, vá màng cứng bằng máu tự thân (Blood Patch). – Buồn nôn và nôn: kiểm soát huyết áp, sử dụng thuốc chống nôn. 55

– Bí tiểu: chườm ấm, đặt ống thông bàng quang nếu cần. – Các biến chứng khác: tụ máu ngoài màng cứng, tổn thương rễ thần kinh, hội chứng đuôi ngựa, viêm màng não tủy, áp xe khoang ngoài màng cứng. Cần hội chẩn và thăm dò thêm để xác định tổn thương. – Gây tê thất bại phải chuyển phương pháp vô cảm. Lưu ý các vấn đề sau : Sản phụ có thể lên cơn co giật trong và sau khi gây tê . Các biến chứng của tiền sản giật nặng bao gồm rối loạn đông máu

56

Bất Hoạt Hay Cắt Bỏ Buồng Trứng ?

Ở phụ nữ tiền mãn kinh, hầu hết estrogen trong cơ thể được tạo ra bởi buồng trứng. Bởi vì estrogen làm loại ung thư vú dương tính với thụ thể hormone phát triển nên việc làm giảm lượng estrogen trong cơ thể hoặc ngăn chặn tác dụng của estrogene có thể giúp thu nhỏ ung thư vú dương tính với thụ thể hormone và làm giảm nguy cơ tái phát loại ung thư vú này.

Trong một số trường hợp, buồng trứng (và thường cả ống dẫn trứng) có thể được phẫu thuật cắt bỏ để điều trị ung thư vú dương tính với thụ thể hormone hoặc như là biện pháp giúp giảm nguy cơ cho những phụ nữ có nguy cơ rất cao mắc ung thư vú. Phương pháp này được gọi là cắt bỏ buồng trứng dự phòng hoặc cắt bỏ buồng trứng bảo vệ. Cắt bỏ hai buồng trứng là một cách để ngăn chặn vĩnh viễn buồng trứng sản xuất estrogen. Thuốc cũng có thể được sử dụng để ngăn chặn tạm thời buồng trứng sản xuất estrogen ( gọi là bất hoạt buồng trứng bằng thuốc). Bất hoạt buồng trứng bằng thuốc hoặc phẫu thuật cắt bỏ chỉ dành cho phụ nữ tiền mãn kinh.

Cắt bỏ buồng trứng dự phòng

Trong khi hầu hết estrogen trong cơ thể phụ nữ được tạo ra bởi buồng trứng, một lượng nhỏ estrogen được tạo ra ở các bộ phận khác của cơ thể; một steroid được sản xuất bởi tuyến thượng thận được chuyển thành estrogen tại mô mỡ. Đây là lý do tại sao bạn vẫn có thể dùng tamoxifen sau khi cắt bỏ buồng trứng dự phòng — để ngăn chặn tác dụng của bất kì estrogen nào trong cơ thể.

Theo Viện Ung thư Quốc gia, cắt bỏ buồng trứng dự phòng sẽ làm giảm 50% các trường hợp ung thư vú mới mắc ở những phụ nữ có nguy cơ cao. Điều này chỉ xảy ra nếu việc cắt bỏ buồng trứng được thực hiện trước khi mãn kinh. Loại bỏ buồng trứng trước khi mãn kinh làm giảm đáng kể nồng độ estrogen trong cơ thể phụ nữ. Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy rằng sự giảm thiểu nguy cơ ung thư vú sau khi cắt bỏ buồng trứng là cao hơn ở những phụ nữ có gen BRCA2 bất thường.

Để biết thêm thông tin, vui lòng truy cập phần Prophylactic Ovary Removal

Bất hoạt buồng trứng bằng thuốc

Zoladex (tên hóa học: goserelin)

Lupron (tên hóa học: leuprolide)

Zoladex và Lupron đều là chất đồng vận với hormone kích thích giải phóng hormone hoàng thể hóa (LHRH). Những loại thuốc này hoạt động bằng cách giao tiếp với não để ngăn chặn buồng trứng sản xuất estrogen. Các loại thuốc này được tiêm mỗi tháng một lần trong vòng vài tháng hoặc vài tháng tiêm một lần. Một khi bạn ngừng dùng thuốc, buồng trứng bắt đầu hoạt động trở lại. Thời gian để buồng trứng phục hồi có thể thay đổi tùy mỗi cá nhân.

Phụ nữ muốn sinh con sau khi điều trị ung thư vú có thể ưu tiên lựa chọn bất hoạt buồng trứng bằng thuốc hơn là phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng.

Đã có nhiều trường hợp phụ nữ mang thai trong khi dùng các loại thuốc này, vì vậy nếu bạn đang ở tuổi tiền mãn kinh và đang có chồng, sử dụng biện pháp tránh thai không chứa hormone như bao cao su, màng ngăn âm đạo hoặc dụng cụ tử cung không chứa hormone là rất quan trọng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cắt U Buồng Trứng To Như Người Mang Bầu 7 Tháng trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!