Xu Hướng 2/2023 # Các Bệnh Phụ Khoa Thường Gặp # Top 10 View | Sept.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Các Bệnh Phụ Khoa Thường Gặp # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Các Bệnh Phụ Khoa Thường Gặp được cập nhật mới nhất trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Các bệnh phụ khoa thường gặp

MỘT SỐ BỆNH LÝ PHỤ KHOA THƯỜNG GẶP

Bệnh lý phụ khoa có thể gặp ở mọi độ tuổi, từ tuổi chưa dậy thì cho đến sau mãn kinh, bất kể tình trạng hôn nhân, sinh sản. Tuy nhiên, các yếu tố tuổi, tình trạng hôn nhân gia đình, dự định về sinh sản cũng như tình trạng sức khỏe và các bệnh lý nội, ngoại khoa hiện có sẽ giúp ích rất nhiều cho việc chẩn đoán cũng như xử trí bệnh lý. Khám phụ khoa có thể thực hiện cho mọi độ tuổi, chứ không riêng dành cho những người đã lập gia đình.

I. Ở tuổi dậy thì, có thể gặp:  

I.1. Viêm nhiễm sinh dục: nguyên nhân thường gặp do việc vệ sinh không đúng cách, cũng như do dị vật (cọ xát của quần áo, sử dụng đồ lót không phù hợp, thói quen vệ sinh). Ký sinh trùng đường tiêu hóa cũng là nguyên nhân thường gặp. Ngoài ra, nguyên nhân xâm hại tình dục cũng cần được lưu ý, đặc biệt khi thấy có những thay đổi tâm lý ở trẻ. Việc điều trị sẽ tùy theo nguyên nhân, dùng dường uống hay đường vệ sinh ngoài da. 

I.2. Rối loạn kinh nguyệt: thường gặp dạng kinh nguyệt không đều, kinh thưa hay rong kinh. Rối loạn thường gặp trong 1-2 năm đầu sau lần kinh đầu tiên. Hạn chế điều trị bằng các thuốc nội tiết; nếu phải dùng, ưu tiên các thuốc có thành phần gần với tự nhiên và sử dụng ngắn hạn. Cần thông tin giúp bố mẹ và các em hiểu rõ cơ chế bệnh và an tâm tuân thủ điều trị. Thông tin về vệ sinh kinh nguyệt cũng nên được cung cấp cho các em. 

I.3. Rối loạn dậy thì: chưa hành kinh sau 18 tuổi. Tuy nhiên, tuổi hành kinh hiện có khuynh hướng hạ thấp. Cần xem xét sự tăng trưởng của trẻ cùng với các dấu hiệu giới tính thứ phát để xác định trẻ bắt đầu dậy thì chưa. Thông thường quá trình dậy thì bắt đầu tuần tự bằng sự phát triển của tuyến vú, hệ lông, chiều cao, hành kinh và cuối cùng là phát triển hoàn tất tuyến vú và hệ lông. 

Thứ tự các dấu hiệu của quá trình dậy thì:

(Thelarche) Tuyến vú: I – núm vú nhô ra; II – phát triển mầm vú: hơi nhô ra vùng vú và núm vú và quầng vú hơi to; III – vùng vú và quầng vú to hơn nhưng chưa thấy bờ giới hạn với chung quanh

(Pubarche) Xuất hiện lông mu (lông nách sau đó khỏang 2 năm): I – không có, II – dọc theo môi lớn, III – mọc đến vùng mu, tuy còn thưa thớt, bắt đầu đen và xoắn.

Phát triển chiều cao: có thể có những chu kỳ không rụng trứng trong giai đọan này.

(Menarche) hành kinh: thường những chu kỳ đầu là chu kỳ không rụng trứng.

Phát triển lông trưởng thành: IV – lông mu mọc dày hơn, nhưng không quá giới hạn vùng mu; V – lông mu có thể mọc đến đường giữa.

Phát triển vú trưởng thành: IV – quầng vú và núm vú nhô cao trên vùng vú (ngọn núi thứ hai), thấy bờ giới hạn của vú; V – núm vú nhô hẳn ra 

Thông tin về tuổi dậy thì / Mỹ (OB/GYN secret, 2005)

Thelarche                10,8  ± 1,1

Pubarche                 11     ± 1,2

Chiều cao                12,1  ± 0,88

Menarche                12,9  ± 1,2 

I.4. Khối u: thường gặp là u nang buồng trứng, có thể là bướu lành (u quái) hay ác tính. Phẫu thuật là điều trị ưu tiên. Thông thường, chẩn đoán lành hay ác tính chỉ dựa vào giải phẫu bệnh sau mổ; các dấu hiệu lâm sàng như tốc độ phát triển của u, kích thước và độ dính của u, tổng trạng hay một số xét nghiệm đặc biệt có thể hướng tới lành hay ác nhưng không cho phép khẳng định.  

I.5. Xâm hại tình dục: nên nghĩ đến. Xử trí sau đó cần có thủ tục pháp y, điều trị viêm nhiễm và đặt vấn đề ngừa thai khẩn cấp nếu trẻ gần với độ tuổi hành kinh. 

II. Tuổi sinh sản: tình trạng quan hệ tình dục, nhu cầu có thai hay ngừa thai cần được biết đến để có thể điều trị kết hợp.  

II.1. Viêm nhiễm âm đạo: khi chưa có quan hệ tình dục, cũng có thể có viêm nhiễm sinh dục giống như ở độ tuổi dậy thì, điều trị tương tự. Khi đã quan hệ tình dục, cần lưu ý xác định đây là viêm nhiễm thông thường hay là các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Điều trị viêm nhiễm không chỉ là loại trừ tác nhân gây bệnh mà còn loại trừ những yếu tố thuận lợi, những nguồn lây bệnh (điều trị bạn tình). 

Cổ tử cung lộ tuyến có phải là bệnh? Đây là tình trạng sinh lý do thay đổi nội tiết trong cơ thể  tuy nhiên có thể là điều kiện thuận lợi cho viêm nhiễm âm đạo. Chỉ điều trị khi lộ tuyến quá nhiều, thường xuyên viêm nhiễm. 

II.2. Rối loạn kinh nguyệt: cần loại trừ yếu tố thai kỳ.

Rong kinh, rong huyết: đều có thể gặp khi thai giai đoạn sớm, thai dọa sảy, thai lưu. Nội tiết tố được sử dụng sau khi đã loại trừ nguyên nhân thực thể và các thuốc cầm máu thông thường không cải thiện được. Nạo lòng tử cung khi ra máu nhiều và cần lấy mô làm xét nghiệm.

Cường kinh hay thiểu kinh, chủ yếu theo đánh giá của bệnh nhân khi so sánh với các chu kỳ kinh bình thường. Băng kinh khi phải sử dụng 1 băng vệ sinh loại lớn trong 1 giờ, và trong hai giờ liên tiếp. Kinh thưa thường gặp trong hội chứng buồng trứng đa nang . 

Luôn cảnh giác tình trạng có thai khi đã bắt đầu có quan hệ tình dục. Que thử thai có thể cho kết quả dương tính sau khi có thụ thai 7-10 ngày. Các dấu hiệu chức năng như thai hành, thay đổi vú, rối loạn tiêu hóa … sẽ khó nhận biết ở giai đoạn sớm hoặc ở người trẻ, con so chưa có kinh nghiệm.

Thai ngoài tử cung, thai trứng là hai bệnh lý luôn cảnh giác, khi có trễ kinh và rong huyết. Thai ngoài tử cung sẽ kèm theo đau bụng âm ỉ, xuất hiện sớm và kéo dài. Thai trứng thường biểu hiện triệu chứng muộn hơn, với tình trạng thai hành trầm trọng, bụng to nhanh và rong huyết muộn.

II. 4. Khối u 

U nang buồng trứng: thường không triệu chứng, chỉ phát hiện tình cờ qua khám và siêu âm. Có thể phát hiện khi gặp biến chứng như xoắn, hoại tử, vỡ do tình trạng cơn đau bụng kèm nôn ói khá điển hình cho xoắn buồng trứng.

Khối u do lạc nội mạc tử cung: thường kèm theo thống kinh, ngày càng tăng.

U xơ tử cung: là bệnh lý lành tính, có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản (khó đậu thai, dễ sảy thai, dễ sanh non, con nhẹ ký hay suy dinh dưỡng …) hay có thể gây thai bệnh lý (ngôi bất thường, chuyển dạ bất thường, nhau tiền đạo …) Bệnh thường không triệu chứng; có thể thấy bụng to, rong kinh, rối loạn đi tiểu – đi tiêu, thống kinh. Điều trị phẫu thuật sẽ lấy đi khối u, tuy nhiên có khả năng tái phát. Điều trị nội khoa thường mang tính tạm thời.

II.5. Bệnh lý ác tính: ung thư CTC, thân TC, vú, buồng trứng.. Có những yếu tố nguy cơ cho bệnh ác tính như tuổi, tình trạng nội tiết, tình trạng quan hệ tình dục, tình trạng viêm nhiễm, di truyền … Có thể phát hiện sớm với khám phụ khoa định kỳ, và trong giai đoạn này, hoàn toàn có thể chữa khỏi, tuy có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh sản.

Ung thư CTC

Ung thư TC

Ung thư vú

Ung thư BT

Yếu tố nguy cơ

Quan hệ tình dục, HPV

Cường estrogen

Quanh tuổi mãn kinh

Cuờng estrogen

Độc thân

Ít cho con bú

BT làm việc liên tục

Bẩm sinh

Triệu chứng sớm

Huyết trắng

Rong huyết

Rong huyết, rong kinh

Khối u ở vú

Phát hiện sớm

Pap’s smear

HPV định danh

Nạo sinh thiết

Tự khám vú

Nhũ ảnh, siêu âm vú

Marker

Siêu âm

CA125

Điều trị

Khoét chóp

Phẫu thuật

Phẫu + Xạ

Phẫu thuật

Phẫu + Xạ

Cắt khối u

Đoạn nhũ

Đoạn nhũ tận gốc

Phẫu + Hóa + Xạ

Cắt khối u

Cắt TC + BT

Phẫu + Hóa

Ảnh hưởng

Sinh sản

Tình trạng nội tiết nữ

Sinh sản

Tình trạng nội tiết nữ

Thẩm mỹ

Chức năng vận động

Sinh sản

Tình trạng nội tiết nữ

 II. 6. Tật bẩm sinh 

Thường các tật bẩm sinh trên đường sinh dục nữ đã có từ trước, có thể phát hiện ngay sau sinh hay trong thời niên thiếu, nếu các bác sĩ nhi khoa hay phụ huynh có quan tâm. Tuy nhiên, đa số trường hợp sẽ phát hiện trong giai đọan sinh sản do thấy dậy thì quá trễ, không thấy hành kinh dù có phát triển các đặc điểm giới tính thứ phát hay do nhu cầu sinh sản và quan hệ tình dục khi lập gia đình.

Có thể gặp các dạng tiên lượng tốt như vách ngăn âm đạo, tử cung đôi, tử cung hai sừng, bít màng trinh, đến những dị tật tiên lượng xấu cho chức năng sinh sản như không có tử cung, không có âm đạo hay rối loạn nội tiết sinh dục, á nam á nữ …

Để phát hiện sớm và có xử trí tích cực, nên quan tâm phát hiện ngay sau trẻ sinh ra đời và trong giai đoạn niên thiếu bằng cách quan sát bộ phận sinh dục ngoài và quan tâm sự phát triển giới tính thứ phát khi dậy thì. 

III. Tuổi mãn kinh và quanh mãn kinh 

Có thể gặp tất cả các dạng bệnh như giai đoạn sinh sản. Tuy nhiên, trong giai đoạn này còn có yếu tố tuổi già, các bệnh lý tuổi già làm cho việc xử trí có khó khăn hơn. Bệnh lý ung thư có thể là nguyên phát tại cơ quan sinh dục, cũng có khi là thứ phát do di căn từ nơi khác đến.

Các thay đổi tâm lý, tình cảm cũng như thay đổi về môi trường, công việc, hoàn cảnh gia đình trong giai đoạn này cũng có vai trò quan trọng trong xử trí một số trường hợp rối loạn.

III.1. Rối loạn tiền mãn kinh 

Mãn kinh là thời gian tính từ sau khi không còn hành kinh trong 1 năm. Giai đoạn 1-2 năm quanh thời điểm hết kinh được gọi là giai đọan quanh mãn kinh và thường có nhiều rối loạn. Các rối loạn này có thể là cơ năng như hồi hộp, đánh trống ngực, rối loạn vận mạch, cơn bốc hỏa hay thực thể như viêm nhiễm niệu dục do thiểu năng nội tiết sinh dục nữ; cũng như là những thay đổi về tâm lý như cáu gắt, buồn rầu trầm cảm hay dễ nóng giận, trí nhớ sa sút …

Loãng xương, vốn đã bắt đầu với tình trạng mất xương sinh lý từ tuổi trung niên, sẽ tiến triển nhanh sau mãn kinh. 

III.2. Sa sinh dục 

Tổn thương sàn chậu và các cấu trúc nâng đỡ cơ quan sinh dục nữ, do chấn thương lúc sinh hay do lao động, sẽ đưa đến sa sinh dục. Ở thể nhẹ, có thể chỉ là thay đổi thói quen đi tiểu, trằn nặng vùng hạ vị; nặng hơn là sa hẳn bộ phận sinh dục ra khỏi âm đạo, có thể kèm theo sa bàng quang, trực tràng hay ruột non … Điều trị phẫu thuật khi tình trạng sức khỏe cho phép sẽ cải thiện triệt để tình trạng này.

KẾT LUẬN

Bệnh lý phụ khoa rất đa dạng. Tuổi và tình trạng hôn nhân gia đình có thể giúp định hướng sơ bộ trong chẩn đoán. Chẩn đoán và điều trị bệnh với mục đích cuối cùng là đảm bảo sức khỏe trong đó có sức khỏe sinh sản. Nên khám phụ khoa định kỳ để kiểm tra sức khỏe cũng như phát hiện sớm và điều trị có hiệu quả các bệnh lý.

Theo chúng tôi

Bài viết khác

Các Căn Bệnh Ung Thư Thường Gặp Ở Phụ Nữ

Bệnh ung thư là căn bệnh quái ác, là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Một trong những yếu tố gây nên ung thư đó chính là hormone trong cơ thể của từng giới.

Ung thư cổ tử cung

Đây là căn bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở những nước kém phát triển.

Trên thế giới, khảo sát cho thấy cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết vì căn bệnh này. Nói như thế để thấy được sự phổ biến cũng như những nguy hại mà ung thư cổ tử cung mang lại cho nữ giới.

Phụ nữ nên tiêm phòng vắc xin HPV để có thể ngăn ngừa căn bệnh ung thư quái ác này.

Ung thư vú

Ung thư vú là căn bệnh gây nhiều ám ảnh nhất đối với chị em phụ nữ. Hiện nay theo thống kê, căn bệnh này xảy ra nhiều nhất đối với phụ nữ sau tuổi 50.

Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này có thể là do gen di truyền hoặc có thể do tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú trước đó, nhiều người mắc ung thư vú bởi những tác nhân bên ngoài cơ thể như môi trường sống, mang thai muộn,…

Ung thư vú diễn biến phức tạp và khó phát hiện nếu chị em không để ý đến vùng ngực của mình. Vì vậy, cần chú ý quan tâm đến sức khỏe của bản thân nhiều hơn, đặc biệt là thường xuyên dùng tay thăm khám vùng ngực để phát hiện bệnh sớm nhất có thể.

Ung thư đại tràng

Chế độ ăn uống không hợp lí có thể là nguyên nhân gây ra ung thư đại tràng. Đối với phụ nữ, việc ăn uống điều độ, tránh tình trạng nhịn ăn để giảm cân, bổ sung những chất dinh dưỡng cần thiết đầy đủ trong quá trình giảm cân để không ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt chế độ ăn uống sai lầm sẽ là nguyên nhân gây nên ung thư đại tràng ở phụ nữ.

Ung thư buồng trứng

Đối với phụ nữ, đây là là căn bệnh quái ác nhất. Nó không chỉ gây nên những ảnh hưởng về sức khỏe mà còn gây nên những ảnh hưởng về tâm lí đối với người mắc bệnh.

Tuy nhiên, đây là căn bệnh rất khó phát hiện và thường có các biểu hiện khá rõ khi nó đã vào giai đoạn cuối của thời kì khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn. Bệnh thường xuất hiện ở phụ nữ sau tuổi 55. Gây tử vong cao nhất trong tất cả các căn bệnh ung thư ở phụ nữ hiện nay.

Ung thư da

Với phụ nữ, căn bệnh này không chỉ gây ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ của người bị bệnh. Tỉ lệ mắc ung thư da ở những phụ nữ có da trắng nhiều hơn những phụ có da màu, đặc biệt là da đen. Thường xuyên sử dụng kem chống nắng cũng như các biện pháp khác để bảo vệ da của bạn.

Ung thư phổi

Hút thuốc thụ động là nguyên nhân gây nên ung thư phổ ở phụ nữ. Khi đàn ông hút thuốc, khói thuốc sẽ được cơ thể những người xung quanh hấp thu và một trong số đó chính là phụ nữ và trẻ em trog gia đình. Hãy hạn chế việc hút thuốc cũng như tránh xa những nơi có khói thuốc để hạn chế ung thư phổi.

U nội mạc tử cung

Căn bệnh ung thư này thường xảy ra ở phụ nữ độ tuổi trên 55. Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này đó chính là do phụ nữ có kinh sớm, không sinh con, mãn kinh muộn, buồng trứng đa nang….

10 Dấu Hiệu Của Các Bệnh Ung Thư Thường Gặp Ở Phụ Nữ

Chúng ta thường biết rất rõ về những nguy hại mà ung thư gây chúng tôi nhiên, hầu hết trong số chúng ta vẫn rất chủ quan vì nghĩ bệnh ung thư sẽ không xảy đến với mình.

Ngoài những người có gen ung thư thì khả năng mắc bệnh sẽ cao hơn, những người còn lại không phân biệt tuổi tác đều có khả năng mắc ung thư ngang như nhau. Các loại ung thư chỉ ảnh hưởng đến phụ nữ là ung thư buồng trứng, nội mạc tử cung, ung thư âm đạo. Ung thư vú, mặc dù cũng ảnh hưởng đến nam giới, tuy nhiên chủ yếu vẫn ở phụ nữ. Vậy làm thế nào để chị em phụ nữ phát hiện sớm những bệnh ung thư đây? Hãy theo dõi bài viết của chúng tôi về các dấu hiệu của bệnh ung thư thường thấy ở phụ nữ trong bài viết này.

Nếu bạn thường xuyên khám vú thì vẫn có một số dấu hiệu của ung thư vú khó bị phát hiện. Tuy nhiên, việc bỗng xuất hiện khối u dày trên ngực hoặc bên dưới cánh tay của bạn có thể là ung thư và không nên bỏ qua. Nếu một hoặc cả hai vú của bạn phát ra nóng, đỏ, sưng, đau nhức, mẩn ngứa hoặc đậm hơn, thì những dấu hiệu đó cũng có thể là triệu chứng của bệnh ung thư.

2. Chảy máu bất thường

Chảy máu bất thường có thể là triệu chứng của polyp nội mạc tử cung, do vậy có thể là dấu hiệu của ung thư nội mạc tử cung hay cổ tử cung.

Theo một nghiên cứu năm 2003 đăng trên tạp chí Sản phụ khoa Hoa Kỳ thì việc chảy máu ở thời kì mãn kinh sẽ tăng 64 lần nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và phụ nữ chảy máu sau mãn kinh có nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung hơn những phụ nữ không bị xuất huyết.

3. Đầy hơi

Đầy hơi là một vấn đề thường xảy ra khi hành kinh. Đó cũng là một triệu chứng được gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác, chẳng hạn như khó tiêu và ăn quá nhiều. Tuy nhiên,nếu bạn là phụ nữ và bị đầy hơi kéo dài ba tuần hoặc hơn, đây có thể là dấu hiệu của ung thư buồng trứng và bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay lập tức. Một nghiên cứu năm 2004 được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ lưu ý rằng việc đầy hơi là dấu hiệu chính của ung thư buồng trứng và tỷ lệ sống 5 năm với việc phát hiện sớm là 70-90 % so với chỉ 20 đến 30 % trong giai đoạn sau.

4. Đau bụng hoặc đau vùng chậu

Theo một nghiên cứu năm 2006 được công bố trên tạp chí Ung thư thì hầu hết các bệnh nhân mắc ung thư buồng trứng đều nói họ bị đau vùng chậu hoặc bụng.

5. Sưng, ngứa âm đạo

Một số dấu hiệu bất thường ở âm đạo như nổi mụn có thể do vệ sinh kém hoặc mặc quần áo chật gây nên mụn cóc, mụn sinh dục. Trong một số trường hợp, nó có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư. Mặc dù Hiệp hội Ung thư Mỹ ghi nhận rằng chỉ có 4 phần trăm bệnh ung thư ở Mỹ là ung thư âm đạo, một nghiên cứu năm 2000 được công bố trên Tạp chí Y học Sinh sản ghi nhận rằng đã có một sự gia tăng đáng kể số lượng phụ nữ trẻ mắc bệnh ung thư âm đạo giữa năm 1980 và 2000 .

Điều quan trọng là phải biết được các triệu chứng của loại ung thư ít được phụ nữ quan tâm này. Nếu bạn thấy một vết sưng bên ngoài âm đạo thì hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Một vết sưng ung thư thường là màu nâu sẫm hoặc đen, mặc dù nó có thể là màu đỏ, màu hồng hoặc màu trắng. Nó có thể xuất hiện bất cứ nơi nào bên ngoài âm đạo bên ngoài nhưng rất có thể xảy ra ở âm vật. Các vết sưng âm đạo có thể ban đầu như một nốt ruồi nhưng dần dần thay đổi màu sắc hoặc kết cấu.

Ngứa âm đạo mà không được chữa trị cũng có thể là triệu chứng của ung thư âm đạo.

6. Ăn mất ngon

Chán ăn là một triệu chứng có thể là một dấu hiệu tương đối vô hại. Tuy nhiên, nếu nó tiếp tục không có lý do rõ ràng hoặc có kèm theo các triệu chứng khác như trướng bụng thì bạn cần được chẩn đoán ngay lập tức. Một số loại ung thư có thể ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của cơ thể và gây ra mất cảm giác ngon miệng. Một trong số đó là ung thư buồng trứng. Một nghiên cứu năm 2009 được công bố trong báo cáo BMJ rằng chán ăn là triệu chứng cao thứ ba của bệnh ung thư buồng trứng sau đầy hơi và chảy máu sau mãn kinh.

7. Hemoglobin thấp

Mức độ hemoglobin thấp là một trong những triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung cần được điều trị càng sớm càng tốt.

Một nghiên cứu năm 2001 được công bố trên tạp chí quốc tế về ung thư phụ khoa cho thấy lượng hemoglobin thấp trước khi điều trị là một triệu chứng chính ở những bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung và có thể dẫn đến tăng tiểu cầu, gây ra rối loạn đông máu. Theo một nghiên cứu năm 2005 được công bố trên tạp chí Blood thì thiếu máu xảy ra ở hơn 30% bệnh nhân ung thư buồng trứng trước khi họ được điều trị.

8. Béo phì

Béo phì là một triệu chứng và yếu tố nguy cơ chính gây ung thư nội mạc tử cung. Trong thời gian tăng cân, các tế bào chất béo sản xuất estrogen thừa. Tuy nhiên, khi phụ nữ đến thời kỳ mãn kinh, cơ thể của họ ngừng sản xuất progesterone, một hormone cần thiết để điều chỉnh hoạt động estrogen. Việc thiếu progesterone, estrogen khiến các tế bào tử cung nhân với tốc độ bình thường, dẫn đến sự mở rộng của tử cung. Điều này làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư.

9. Đi tiểu thường xuyên

Đi tiểu thường xuyên phải được bác sĩ chẩn đoán ngay lập tức vì đây là dấu hiệu mắc ung thư buồng trứng rất nhiều người bỏ qua.

10. Dịch âm đạo không có máu

Trong khi có ra dịch chứa máu ở thời kỳ mãn kinh và giữa các chu kỳ cho thấy nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung thì âm đạo không có máu cũng đặt ra một nguy cơ nhất định.

Tìm hiểu thêm thông tin:

Những Điều Cần Biết Về Các Bệnh Ung Thư Thường Gặp Ở Phụ Nữ

Ung thư vú là một loại ung thư phát triển từ các tế bào vú, thường bắt đầu ở các tuyến, ống dẫn sữa hoặc các thùy tuyến vú nằm bên trong vú, một khối u ác tính có thể lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

Đối tượng có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn khi tiền sử gia đình có người từng mắc căn bệnh này. Bên cạnh đó, các chị em phụ nữ sinh con muộn hoặc không sinh con; đang bước vào tuổi mãn kinh; béo phì, ít vận động hay ở những người sử dụng rượu bia nhiều cũng là những đối tượng dễ mắc phải bệnh ung thư vú.

Triệu chứng của bệnh ung thư vú là cảm thấy đau tức ngực thường xuyên, ngực có thể sưng to, cứng, hình dạng biến đổi. Ở giai đoạn đầu, ngực bạn có thể xuất hiện những khối u mà khi sờ nắn có thể thể cảm nhận được phần dưới nách hay gần ngực sẽ có hạch; núm vú chảy dịch hoặc máu…khi có những dấu hiệu này cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa.

2. UNG THƯ CỔ TỬ CUNG:

Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư phụ khoa phổ biến thứ hai, sau ung thư vú. Mỗi năm có hơn 5.000 ca mắc mới và hơn 2.500 trường hợp tử vong do căn bệnh này.

Các đối tượng có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao như: sinh đẻ nhiều lần; có nhiều bạn tình; bị nhiễm vi rút đường sinh dục như HPV, chlamydia; nghiện thuốc lá; sử dụng thuốc tránh thai trong một thời gian dài.

Ung thư cổ tử cung có 4 giai đoạn chính và giai đoạn đầu được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư chỉ mới hình thành ở lớp bề mặt, chưa phát triển vào sâu trong các mô, hầu như không có dấu hiệu ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Nhưng có thể chú ý những biểu hiện như: chảy máu âm đạo giữa chu kỳ kinh hay sau khi quan hệ; âm đạo chảy máu sau khi mãn kinh; tiết dịch âm đạo bất thường; đau vùng chậu… Khi thấy một trong những dấu hiệu trên, phụ nữ cần đi khám tầm soát ung thư cổ tử cung.

3. UNG THƯ BUỒNG TRỨNG:

Ung thư buồng trứng là một loại ung thư ảnh hưởng đến một hoặc cả hai buồng trứng của phụ nữ. So với ung thư vú thì số ca mắc mới của bệnh ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng chỉ chiếm khoảng 10% trong những bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư buồng trứng gây ra lại rất cao và thường được phát hiện ở giai đoạn muộn.

Ung thư buồng trứng xảy ra ở mọi lứa tuổi và phổ biến ở phụ nữ trung niên. Các yếu tố tăng nguy cơ mắc bệnh bao gồm: phụ nữ không có con hoặc có con đầu lòng sau tuổi 35, sử dụng Estrogen làm biện pháp thay thế hoóc môn, bản thân hoặc gia đình từng mắc hội chứng Lynch. Tuy nhiên, những người không nằm trong các đối tượng trên vẫn có thể mắc ung thư.

4. UNG THƯ TUYẾN GIÁP:

Năm 2018, theo thống kê của Globocan, bệnh ung thư tuyến giáp là một trong 10 loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới ở cả nam và nữ, tỷ lệ nữ thường cao hơn nam gấp 3 lần, khoảng 6,7 triệu ca mắc mới. Ung thư tuyến giáp thường gặp ở phụ nữ độ tuổi dậy thì và mang thai – độ tuổi phát triển mạnh mẽ của tế bào. Tại Việt Nam số lượng người mắc ung thư tuyến giáp đang có xu hướng tăng cao.

Nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm những dấu hiệu như: có khối u ở trước cổ; khó nuốt và khó thở; giọng nói bị khàn hay ho mãn tính…. Thì ung thư tuyến giáp là một trong những dạng ung thư dễ chữa trị thành công nhất, cơ hội sống trên 5 năm cho các bệnh nhân là gần 100%. Tuy nhiên, để kết quả điều trị tốt, bên cạnh các phương pháp điều trị Tây y, bệnh nhân cần xây dựng một chế độ dinh dưỡng khoa học và tránh các loại thực phẩm có hại cho sức khỏe.

5. UNG THƯ DA:

Ung thư da là loại ung thư xuất phát từ biểu mô da – lớp che phủ mặt ngoài cơ thể gồm có 7 lớp tế bào. Nếu tổn thương xảy ra ở lớp tế bào đáy được gọi ung thư biểu mô tế bào đáy. Tương tự ở lớp tế bào vảy sinh ra ung thư biểu mô tế bào vảy. Các tuyến phụ thuộc da như tuyến mồ hôi, tuyến bã sinh ra ung thư tuyến mồ hôi, tuyến bã. Hầu hết các bệnh ung thư da tế bào đáy và tế bào vảy là do tiếp xúc nhiều và không được bảo vệ trước tia cực tím (UV) tự nhiên từ ánh sáng mặt trời và nhân tạo từ giường tắm nắng. Ung thư da bởi khối u ác tính ít phổ biến hơn một số loại ung thư da khác nhưng lại nguy hiểm hơn vì có khả năng phát triển và lan rộng. Bất cứ ai cũng có thể bị ung thư da nhưng những người có làn da trắng sẽ dễ bị ung thư da hơn những người có làn da tối màu, chính vì thế tỷ lệ nữ thường cao hơn nam.

Triệu chứng thường gặp nhất của ung thư da là sự thay đổi trên da. Đặc biệt là sự xuất hiện một mụn mới hoặc một vết đau không khỏi. Không phải tất cả các loại ung thư da trông đều giống nhau. Thay đổi da cũng có thể được gây ra bởi các nguyên nhân không phải là ung thư. Tuy vậy bạn nên gặp bác sỹ nếu như có bất kỳ thay đổi nào về da mà bạn nghĩ là bất thường.

Những căn bệnh ung thư nói trên đều ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, đặc biệt là khả năng sinh sản cũng như gây nguy hiểm đến tính mạng của chị em phụ nữ khi đã di căn.

Chính vì vậy, chị em phụ nữ cần chú ý đến sức khỏe sinh sản và vệ sinh phụ khoa để bản thân phòng chống các bệnh đáng sợ nêu trên. Cần thường xuyên đi khám phụ khoa định kỳ nhằm phát hiện bệnh sớm có hướng chữa trị kịp thời./.

Tổ Truyền thông GDSK-TTYT huyện Cai Lậy

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Bệnh Phụ Khoa Thường Gặp trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!