Xu Hướng 2/2024 # Bệnh Crohn Và Cách Ngừa Biến Chứng # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bệnh Crohn Và Cách Ngừa Biến Chứng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Sept.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bệnh Crohn viết tắt là IBD (Inflammatory Bowel Disease) gây ra viêm nhiễm, lây lan và đi sâu vào thành của đường tiêu hóa gây loét, chảy máu.

Bệnh Crohn viết tắt là IBD (Inflammatory Bowel Disease) gây ra viêm nhiễm, lây lan và đi sâu vào thành của đường tiêu hóa gây loét, chảy máu. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả là tuổi trẻ. Bệnh gây nhiều phiền toái cho người bệnh, nếu không được phát hiện và điều trị có thể gây ra biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân gây bệnh Crohn

Cho đến nay vẫn chưa xác định được một cách chắc chắn nhưng sự tổn thương hệ thống miễn dịch ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng kháng thể (khả năng tạo kháng thể) chống lại tác nhân gây bệnh và yếu tố di truyền (do đột biến gene) được nhiều nhà khoa học quan tâm hơn cả. Ngoài ra, các tác nhân gây bệnh như vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, virut, ký sinh trùng), chế độ ăn uống không hợp lý cũng là các tác nhân gây bệnh được quan tâm. Bên cạnh đó, một số yếu tố có lợi cho sự xuất hiện hoặc làm cho bệnh Crohn nặng thêm như hút thuốc, di truyền, sống trong môi trường có ảnh hưởng của bụi, hóa chất (công nghiệp, phòng thí nghiệm)… cũng được đề cập tới.

So sánh vị trí đau trong bệnh Crohn (hình trái) và viêm đại tràng.

Biểu hiện của bệnh Crohn như thế nào?

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Crohn từ nhẹ đến nặng và có thể phát triển dần dần hoặc xảy ra đột ngột mà thường không có cảnh báo nào. Một số trường hợp có khoảng thời gian không có dấu hiệu hoặc triệu chứng gì (khoảng lặng) do bệnh đã  thuyên giảm. Bệnh Crohn có loại cấp tính và mạn tính.

Loại cấp tính có biểu hiện đau bụng (do tổn thương thành ruột và do co thắt), nhất là vùng hố chậu phải (dễ nhầm với bệnh ruột thừa, viêm đại tràng mạn tính, sỏi niệu quản, ở nữ giới còn có thể nhầm với u nang buồng trứng xoắn hoặc vỡ, hoặc chửa ngoài tử cung) hoặc nhầm với bệnh lao ruột, một số trường hợp kèm theo có sốt cao (39-400C). Đau bụng thường xảy ra sau khi ăn, kèm theo buồn đi đại tiện, sau khi đại tiện, đau bụng giảm hoặc hết. Có thể đi ngoài phân lỏng hoặc có kèm theo máu. Tiêu chảy là dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị bệnh Crohn, đồng thời có thể buồn nôn hoặc nôn.

Loại mạn tính, bệnh tiến triển từ từ và kéo dài khá lâu (khoảng trên 2 năm), bệnh thể hiện đau bụng âm ỉ, da xanh, mệt mỏi, giảm sự thèm ăn, gầy sút, thiếu máu, thể trạng có thể suy sụp do rối loạn tiêu hóa kéo dài gây mất nước, chất điện giải, chất dinh dưỡng (do không hấp thu được).

Biến chứng do bệnh Crohn là thiếu máu, suy dinh dưỡng (đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi), nguy hiểm nhất của bệnh Crohn là gây thủng ruột hoặc gây rò từ hồi tràng vào đại tràng, rò vào bàng quang… Ngoài viêm và loét ở đường tiêu hóa, bệnh Crohn có thể gây ra tác hại cho các bộ phận khác của cơ thể (viêm khớp, viêm mắt, viêm da, sỏi thận, sỏi mật, có trường hợp bị viêm ống dẫn mật). Bệnh Crohn mạn tính có thể gây loãng xương.

Bệnh Crohn là một bệnh rất dễ nhầm với một số bệnh khác, để chẩn đoán chính xác không thể không dựa vào kết quả của cận lâm sàng. Vì vậy, cần xét nghiệm máu, xét nghiệm phân (tìm hồng cầu trong phân, nuôi cấy xác định vi khuẩn, soi phân tìm ký sinh trùng), nội soi, chụp Xquang có chuẩn bị (thụt tháo và có thuốc cản quang), chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI).

Nguyên tắc điều trị bệnh Crohn

Để điều trị có hiệu quả, tốt nhất là xác định được nguyên nhân và mức độ, vị trí tổn thương, trên cơ sở kết quả xác định, bác sĩ khám bệnh sẽ có hướng điều trị cụ thể cho từng bệnh nhân (dùng thuốc hay phải phẫu thuật). Muốn làm được điều đó, khi thấy có rối loạn tiêu hóa kéo dài (đau bụng, đi lỏng, có máu, buồn nôn, nôn…) kèm theo sốt cần đi khám bệnh, tốt nhất là khám chuyên khoa tiêu hóa. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình và không nên tự mua thuốc để điều trị khi không có chuyên môn về y học, nhất là dựa theo tư vấn của một số người bán thuốc không biết chuyên môn (chỉ vì lợi nhuận của họ) sẽ làm cho bệnh không những không khỏi mà còn nặng thêm và nguy hiểm. 

Để phòng bệnh Crohn cần có chế độ ăn uống hợp lý, nhất là ăn rau, trái cây để có chất xơ làm cho tiêu hóa dễ dàng. Không nên hoặc hạn chế ăn, uống các chất kích thích (rượu, bia, gia vị). Không nên hút thuốc, bởi vì thuốc lá là một trong các nguyên nhân làm gia tăng bệnh Crohn. Cần có tinh thần thoải mái, hạn chế căng thẳng thần kinh, giảm các stress bằng các hoạt động như tham gia câu lạc bộ, đọc sách, báo, xem vô tuyến, đi du lịch, tăng cường giao lưu bạn bè. Nên thường xuyên tập thể dục, vận động cơ thể (bơi, chơi cầu lông, đi xe đạp, đi bộ…).

Nguồn Suckhoedoisong.vn

Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Biến Chứng Và Cách Phòng Ngừa

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BSCKI Lê Hữu Đồng – Trưởng khoa Khám bệnh & Nội khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang. Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính khá phổ biến ở trẻ em. Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị quai bị. Nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng cách, bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi virus quai bị ( Mumps virus), thuộc họ Paramyxoviridae. Virus có thể tồn tại khá lâu ở bên ngoài cơ thể: khoảng từ 30 – 60 ngày ở nhiệt độ 15 – 200C và bị tiêu diệt nhanh chóng ở nhiệt độ trên 560C hoặc dưới tác động của các hóa chất diệt khuẩn.

Bệnh quai bị lây theo đường hô hấp và thường dễ lây nhất vào 2 ngày trước khi xuất hiện triệu chứng hay 6 ngày sau khi các triệu chứng biến mất. Bệnh lây từ người bệnh qua người lành thông qua nước bọt hoặc dịch tiết mũi họng chứa virus khi người bệnh hắt hơi, ho, nói chuyện, khạc nhổ…

Các triệu chứng phổ biến của bệnh quai bị bao gồm:

Sốt cao đột ngột;

Chán ăn;

Đau đầu;

Sau khi sốt 1-3 ngày, tuyến nước bọt đau nhức, sưng to, có thể sưng ở một hoặc cả hai bên, khiến khuôn mặt bệnh nhân bị biến dạng, khó nhai, khó nuốt. Đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh quai bị;

Buồn nôn, nôn;

Đau cơ, nhức mỏi toàn thân;

Mệt mỏi;

Bệnh quai bị nếu không được điều trị đúng cách sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Một số biến chứng của quai bị gồm:

Người lớn mắc bệnh quai bị thường tiến triển nặng và để lại các biến chứng nguy hiểm hơn so với trẻ em. Mặc dù các biến chứng trên xảy ra với tỷ lệ khá thấp nhưng lại rất nguy hiểm, không chỉ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản mà còn có thể đe dọa đến tính mạng của người bệnh.

4.1 Điều trị quai bị

Hiện nay, bệnh quai bị chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu vẫn là điều trị hỗ trợ, chăm sóc người bệnh và phòng ngừa các biến chứng của bệnh:

Khi có dấu hiệu đau ở vùng mang tai, nên đi khám bác sĩ để chẩn đoán chính xác bệnh, vì viêm tuyến nước bọt không nhất thiết do virus quai bị mà có thể do các virus hoặc vi khuẩn khác gây ra

Dùng các thuốc hạ sốt, giảm đau để giảm nhẹ các triệu chứng

Uống nhiều nước để bù nước và chất điện giải, tốt nhất nên uống Oresol

Có thể chườm mát để tuyến nước bọt bớt sưng, đau.

Hạn chế các loại thực phẩm cứng, các thức ăn nhiều gia vị, cay nóng hoặc có tính acid. Chọn các thức ăn mềm, dễ nhai, dễ nuốt như cháo, súp

Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi nghi ngờ bội nhiễm và phải tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ

Người bệnh cần nghỉ ngơi thoải mái và không nên tiếp xúc với các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao như trẻ em, thanh thiếu niên

Nếu bệnh nhân nam có dấu hiệu viêm tinh hoàn hoặc bệnh nhân nữ bị viêm buồng trứng, nên vào bệnh viện ngay để được theo dõi chặt chẽ, tránh để lại những di chứng đáng tiếc.

4.2 Biện pháp dự phòng quai bị

Vệ sinh cá nhân thường xuyên , súc họng bằng nước muối hoặc các dung dịch kháng khuẩn khác

Giữ môi trường sống sạch sẽ, thông thoáng, thường xuyên vệ sinh các đồ chơi, vật dụng của trẻ

Tránh cho trẻ tiếp xúc với người bệnh

Cho trẻ đeo khẩu trang khi đến nơi đông người, có nguy cơ lây bệnh cao như bệnh viện

Biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất tiêm vắc xin sởi quai bị rubella hoặc vắc-xin quai bị. Vắc xin quai bị đang được sử dụng hiện nay là vắc xin vi khuẩn sống, nhưng đã được làm giảm độc lực để không còn khả năng gây bệnh.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhiều cơ quan y khoa ở các nước phát triển đều khuyến cáo đưa vắc xin quai bị vào trong chương trình tiêm chủng để phòng chống bệnh. Hiện nay, vắc xin quai bị thường được phối hợp với vắc xin sởi, rubella trong cùng 1 chế phẩm (MMR) để giảm số lần tiêm và đơn giản hóa quy trình tiêm phòng. Không chỉ trẻ em, mà ngay cả người lớn đặc biệt là phụ nữ có kế hoạch mang thai đều nên tiêm phòng quai bị.

Người lớn: tiêm một liều duy nhất 0.5ml trên bắp tay

Trẻ em: mũi thứ nhất tiêm khi trẻ được 12 -18 tháng tuổi, mũi thứ 2 tiêm khi trẻ khoảng từ 3-5 tuổi hoặc trước khi trẻ đi học, 2 mũi nên được tiêm cách nhau tối thiểu 1 tháng. Có thể tiêm vắc xin quai bị cho trẻ ở bất kỳ độ tuổi nào nên cha mẹ đừng lo lắng nếu đã bỏ lỡ mất các mốc thời điểm trên.

Phụ nữ chuẩn bị mang thai cần xét nghiệm trước khi tiêm phòng vắc xin quai bị. Trong vòng 1 tháng sau khi tiêm vắc xin cần tránh mang thai. Đối với phụ nữ đang mang thai hoặc đang cho con bú cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiêm phòng vắc xin quai bị-sởi-rubella.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec cung cấp dịch vụ tiêm phòng vắc-xin Sởi -quai bị – rubella MMR II & Diluent Inj 0.5ml sản xuất bởi hãng SD – Mỹ. Khách hàng sẽ được theo dõi sức khỏe trước và sau khi tiêm phòng đảm bảo an toàn về thể trạng cũng như hiệu quả của vacxin.

Để đăng ký tiêm phòng tại Vinmec, Quý Khách có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc liên hệ TẠI ĐÂY để được hỗ trợ.

Bài viết tổng hợp từ nguồn: Bộ Y tế XEM THÊM:

Cách Chữa Bệnh Trĩ Nặng Nhanh Khỏi, Ngừa Biến Chứng

Can thiệp ngoại khoa là cách chữa bệnh trĩ nặng tối ưu nhất. Phương pháp này giúp loại bỏ tận gốc búi trĩ, điều trị dứt điểm triệu chứng và phòng ngừa các di chứng nặng nề. Ở giai đoạn nặng, sử dụng thuốc và thực hiện các thủ thuật xâm lấn thường đem lại kết quả hạn chế và không thể điều trị bệnh hoàn toàn.

Dấu hiệu nhận biết bệnh trĩ nặng?

Bệnh trĩ nặng là thuật ngữ mô tả tình trạng búi trĩ phát triển lớn, sa hoàn toàn ra bên ngoài ống hậu môn và không thể thụt trở lại – ngay cả khi sử dụng tay. Giai đoạn này còn được là bệnh trĩ độ 4.

Khác với trĩ độ 1, 2 và 3, điều trị bệnh trĩ nặng không có nhiều lựa chọn do búi trĩ đã phát triển lớn, niêm mạc trực tràng có dấu hiệu sa và cơ thắt hậu môn có xu hướng rối loạn chức năng co thắt. Lựa chọn tối ưu đối với giai đoạn này là phẫu thuật nhằm cắt bỏ búi trĩ và ổn định lại cấu trúc ống hậu môn – trực tràng.

Tuy nhiên đối với những trường hợp mong muốn trì hoãn phẫu thuật, bác sĩ có thể chỉ định thuốc hoặc can thiệp thủ thuật xâm lấn để giảm kích thước búi trĩ và cải thiện các triệu chứng khó chịu.

Dấu hiệu nhận biết bệnh trĩ ở giai đoạn nặng:

Búi trĩ phát triển lớn, sa hẳn ra ống hậu môn, gây vướng víu và bất tiện khi đại tiện, sinh hoạt và lao động

Tăng ma sát giữa phân và búi trĩ trong quá trình đi tiêu khiến búi trĩ chảy máu nhiều, máu chảy thành tia và khó cầm máu

Ống hậu môn xuất hiện mẩu thịt thừa

Bề mặt búi trĩ có xu hướng căng bóng, phù nề, tím đậm/ tái nhợt hoặc có dấu hiệu xơ hóa, sần sùi

Niêm mạc hậu môn viêm đỏ, ẩm ướt, ngứa ngáy và đau rát kéo dài

Búi trĩ có thể bị chảy máu do ma sát với quần áo trong quá trình lao động và sinh hoạt

Trên thực tế, bệnh trĩ ở giai đoạn nặng có các triệu chứng nghiêm trọng và tác động không nhỏ đến chất lượng cuộc sống.

Các biến chứng của bệnh trĩ nặng

Bệnh trĩ là bệnh lý phổ biến ở đường tiêu hóa dưới, thường xảy ra ở người trung niên – đặc biệt là ở nam giới. Bệnh được đánh giá tương đối lành tính, có thể điều trị dứt điểm và hiếm khi đe dọa đến sức khỏe tổng thể. Ảnh hưởng chủ yếu của bệnh lý này là giảm chất lượng cuộc sống và hiệu suất lao động.

Tuy nhiên bệnh trĩ nặng không chỉ tác động tiêu cực đến đời sống sinh hoạt mà còn gây ra nhiều biến chứng nặng nề khác như:

Trĩ ngoại tắc mạch: Búi trĩ sa ra ngoài trong thời gian dài có thể bị va đập dẫn đến vỡ mạch máu và hình thành cục máu đông. Cục máu đông xuất hiện ở tĩnh mạch làm gián đoạn quá trình tuần hoàn máu khiến búi trĩ căng phồng, viêm đỏ, phù nề và đau rát dữ dội.

Trĩ vòng: Trĩ vòng là biến chứng thường gặp ở bệnh trĩ hỗn hợp giai đoạn nặng. Biến chứng này khởi phát khi các búi trĩ ở trên và dưới đường lược kết hợp tạo thành búi trĩ lớn, sa ra ngoài ống hậu môn và kéo niêm mạc trực tràng sa xuống. So với trĩ nội và trĩ ngoại đơn thuần, trĩ vòng có cấu trúc phức tạp nên bắt buộc phải can thiệp ngoại khoa để cắt bỏ.

Búi trĩ sa nghẹt: Búi trĩ sa nghẹt là hệ quả do cơ vòng hậu môn co thắt quá mức khiến quá trình tuần hoàn máu trong búi trĩ bị gián đoạn. Biến chứng này có thể khiến búi trĩ sưng đau dữ dội, phù nề và có nguy cơ vỡ.

Hoại tử búi trĩ: Hoại tử búi trĩ là biến chứng có mức độ nghiêm trọng, xảy ra khi búi trĩ bị viêm nhiễm không được điều trị kịp thời. Biến chứng này có thể khiến búi trĩ sưng đau nghiêm trọng, ứ mủ, bốc mùi hôi, khó chịu,… Nếu không được xử lý kịp thời, hoại tử búi trĩ có thể để lại nhiều di chứng nặng nề.

Bệnh trĩ ở giai đoạn nặng không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng. Vì vậy khi nhận thấy các triệu chứng bất thường, cần tiến hành thăm khám và xử lý sớm. Tình trạng chủ quan có thể khiến bệnh tiến triển theo chiều hướng xấu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sức khỏe tổng thể.

Cách chữa bệnh trĩ giai đoạn nặng

Như đã đề cập, lựa chọn ưu tiên đối với bệnh trĩ ở giai đoạn nặng là phẫu thuật cắt bỏ búi trĩ. Phương pháp này giúp loại bỏ hoàn toàn các tĩnh mạch bị phình giãn, cải thiện tình trạng sa niêm mạc trực tràng và ổn định cấu trúc ống hậu môn.

Tuy nhiên bác sĩ cũng có thể chỉ định dùng thuốc hoặc can thiệp thủ thuật xâm lấn đối với những trường hợp mong muốn trì hoãn phẫu thuật. Các biện pháp này chỉ có tác dụng giảm đau, viêm đỏ, phù nề và hỗ trợ thu nhỏ kích thước búi trĩ.

1. Phẫu thuật – Cách chữa bệnh trĩ nặng tối ưu

Phẫu thuật cắt bỏ búi trĩ là lựa chọn ưu tiên đối với bệnh trĩ nặng – đặc biệt là trường hợp đã phát sinh biến chứng hoại tử, sa nghẹt búi trĩ, sa niêm mạc trực tràng, trĩ vòng,… Phương pháp này giúp loại bỏ hoàn toàn búi trĩ ở ống hậu môn và điều trị dứt điểm các triệu chứng do bệnh trĩ gây ra.

Một số phương pháp phẫu thuật được áp dụng cho bệnh trĩ giai đoạn nặng bao gồm:

Phương pháp Longo:

Phương pháp này được ứng dụng vào năm 1993 và hiện nay được áp dụng tương đối phổ biến do tỷ lệ tái phát tương đối thấp, ít gây đau, tính thẩm mỹ cao và thời gian thực hiện nhanh chóng.

Phương pháp Longo tạo ra các đường khâu vòng trên đường lược có độ dài khoảng 3 – 4 cm bằng máy khâu chuyên dụng. Các đường khâu vòng này có tác dụng giảm lưu lượng máu tuần hoàn nhằm thu nhỏ kích thước búi trĩ và giảm tình trạng chảy máu khi đại tiện.

Phương pháp cắt trĩ PPH:

Phương pháp PPH được đánh giá là phương pháp hiện đại nhất hiện nay và có thể thực hiện cho tất cả các loại trĩ (trĩ ngoại, trĩ nội, trĩ hỗn hợp). Phương pháp này có mức độ xâm lấn thấp, ít gây đau, tỷ lệ tái phát thấp, thời gian hồi phục nhanh, vết mổ có tính thẩm mỹ cao và ít gây tổn hại đến cơ vòng hậu môn.

Phương pháp PPH được thực hiện bằng cách sử dụng dùng máy khâu nối tự động (HYG-34) cắt bỏ tận gốc tĩnh mạch của búi trĩ nằm phía trên đường lược. Sau khi búi trĩ được loại bỏ, bác sĩ sẽ tiến hành khâu ống hậu môn nhằm tạo hình thẩm mỹ cơ quan này. Trên thực tế, phương pháp này có tỷ lệ tái phát rất thấp nhưng chi phí thực hiện khá cao nên nhiều bệnh nhân không có khả năng chi trả.

Phương pháp cắt trĩ bằng laser:

Cắt trĩ bằng laser là thủ thuật ngoại trú, sử dụng các loại tia laser như laser ND và laser CO2 nhằm cắt bỏ hoàn toàn búi trĩ ở bên trong ống hậu môn. Mặc dù có mức độ xâm lấn thấp, thời gian thực hiện nhanh và ít gây đau nhưng phương pháp có khả năng tái phát tương đối cao (khoảng 2 – 5%).

Đối với trĩ ngoại, bác sĩ sẽ sử dụng chùm tia laser để loại bỏ búi trĩ. Ngược lại với trĩ nội, bác sĩ sẽ dùng tia laser có tần số cao để cắt bỏ các búi trĩ có kích thước lớn. Đồng thời sử dụng chế độ tia laser bốc hơi để loại bỏ các búi trĩ nội có kích thước nhỏ.

Phẫu thuật cắt trĩ bằng sóng cao tần HCPT:

Cắt trĩ bằng sóng cao tần HCPT (High-frequency capacitance pile treating) là một trong những kỹ thuật cắt trĩ hiện đại và được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. Phương pháp này chỉ gây đau nhẹ hoặc thậm chí không gây đau trong quá trình thực hiện, đồng thời ít xâm lấn mô, thời gian lành vết thương và hồi phục nhanh.

Phương pháp cắt trĩ bằng sóng cao tần sử dụng sóng điện từ tần số cao ở 70 – 80 độ C nhằm giảm lưu lượng máu trên các búi trĩ bằng cách làm đông mạch máu và kích thích hình thành mô sẹo ở tĩnh mạch. Sau khi cắt đứt nguồn máu nuôi dưỡng, bác sĩ sẽ tiến hành cắt bỏ búi trĩ tận gốc.

Phẫu thuật cắt trĩ bằng phương pháp siêu âm Doppler-THD

Phương pháp siêu âm Doppler-THD phù hợp với người bị trĩ nội, trĩ ngoại và trĩ vòng. Phương pháp này ít gây đau, mức độ xâm lấn thấp và thời gian phục hồi khá nhanh chóng.

Trước khi thực hiện, bác sĩ sẽ tiêm thuốc tê để giảm đau và khó chịu. Sau đó tiến hành khâu niêm mạc trĩ nhằm giảm lượng máu lưu thông, từ đó khiến búi trĩ mất nguồn máu nuôi dưỡng và có xu hướng teo nhỏ, rụng dần.

Cắt trĩ với phương pháp Milligan Morgan:

Phương pháp Milligan Morgan có tỷ lệ tái phát tương đối cao (khoảng 5 – 7%), dễ bị nhiễm trùng, đau nhiều và có thể gây tổn thương niêm mạc nghiêm trọng nên hiện nay ít được áp dụng.

Phương pháp này được thực hiện bằng cách cắt bỏ từng búi trĩ đơn lẻ, sau đó khâu các niêm mạc ở giữa các búi trĩ với nhau. Khi thực hiện phương pháp Milligan Morgan, cần phải chăm sóc nghiêm ngặt để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng.

Phẫu thuật cắt trĩ với phương pháp khoanh niêm mạc cắt trĩ:

Hiện nay, phương pháp khoanh niêm mạc cắt trĩ hầu như không được áp dụng do phạm vi xâm lấn lớn và có nguy cơ tái phát cao (10%). Hơn nữa, phương pháp này còn gây đau đớn nhiều trong thời gian thực hiện và cả giai đoạn hậu phẫu, đồng thời có thể phát sinh các biến chứng nặng nề như hẹp lỗ hậu môn, rò hậu môn và mất tự chủ khi đại tiện.

Phương pháp khoanh niêm mạc cắt trĩ được thực hiện bằng cách cắt toàn niêm mạc chứa búi trĩ. Sau đó kéo phần niêm mạc phía trên xuống và khâu liền lại với vùng da hậu môn.

Phẫu thuật được đánh giá là cách chữa bệnh trĩ nặng tối ưu nhất. Tuy nhiên sau khi phẫu thuật, cần vệ sinh vết mổ đúng cách, nghỉ ngơi và sinh hoạt điều độ để hạn chế nhiễm trùng và một số biến chứng hậu phẫu khác.

2. Biện pháp trì hoãn phẫu thuật

Đối với những trường hợp chưa thể thực hiện phẫu thuật, bác sĩ có thể chỉ định một số biện pháp trì hoãn như:

Sử dụng thuốc mỡ/ thuốc đạn để giảm viêm, bảo vệ niêm mạc ống hậu môn và giảm ma sát khi đại tiện.

Dùng thuốc tăng trương lực tĩnh mạch nhằm làm tăng độ bền của mạch máu, hạn chế tình trạng xuất huyết và biến chứng tắc mạch, vỡ búi trĩ,…

Thuốc điều hòa nhu động ruột được sử dụng nhằm giảm tần suất đi tiêu, làm mềm phân và hạn chế tình trạng đi ngoài ra máu.

Ngoài ra bác sĩ có thể chỉ định một số thủ thuật xâm lấn như áp lạnh búi trĩ, chích xơ hóa búi trĩ, dùng laser,… nhằm giảm kích thước búi trĩ và cải thiện một số triệu chứng do bệnh trĩ nặng gây ra.

Hầu hết các phương pháp này đều cho kết quả rất hạn chế và chỉ được áp dụng cho bệnh trĩ ở giai đoạn 1, 2 và một số trường hợp ở giai đoạn 3. Ở giai đoạn 4, sử dụng thuốc và can thiệp thủ thuật xâm lấn chỉ giúp cải thiện triệu chứng và trì hoãn thời gian phẫu thuật.

Lối sống lành mạnh cho người bị trĩ nặng

Lối sống lành mạnh là yếu tố quan trọng trong quá trình điều trị bệnh trĩ nói chung và bệnh trĩ nặng nói riêng. Chế độ chăm sóc khoa học có thể hỗ trợ hiệu quả của các phương pháp y tế, ngăn ngừa biến chứng hậu phẫu và hạn chế nguy cơ bệnh tái phát.

Lối sống lành mạnh cho người bị bệnh trĩ ở giai đoạn nặng, bao gồm:

Tránh tuyệt đối các hoạt động làm tăng áp lực lên vùng trực tràng – hậu môn như tập thể dục quá mức, ngồi xổm, lao động nặng, mang vác vật cồng kềnh,… Ngoài ra, bạn cũng cần thay đổi một số thói quen xấu khác như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, café, thức ăn chứa nhiều gia vị và dầu mỡ.

Tăng cường chất xơ, nước và vitamin vào chế độ ăn hàng ngày. Các thành phần này giúp làm giảm tình trạng táo bón, điều hòa nhu động ruột và hạn chế ma sát lên búi trĩ khi đi tiêu.

Trong trường hợp trĩ là hệ quả của các bệnh lý như tiểu đường, gút, giãn tĩnh mạch, cần kết hợp đồng thời với điều trị bệnh lý nguyên nhân để hạn chế nguy cơ tái phát.

Nên nghỉ ngơi khoảng vài ngày sau khi phẫu thuật, đồng thời cần vệ sinh vết mổ đúng cách và sử dụng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ.

Sau khi mổ, nên giảm lượng thức ăn, ăn chậm nhai kỹ và ưu tiên các món ăn mềm, lỏng, ít gia vị để tránh gây áp lực lên cơ quan tiêu hóa và giảm ma sát lên vết mổ khi đi tiêu.

Thông báo ngay với bác sĩ nếu có các dấu hiệu bất thường trong giai đoạn hậu phẫu như hậu môn sưng nề, đau nhức, tiết dịch có mùi hôi, chảy máu kéo dài,… Hoặc tái khám theo lịch hẹn nếu không phát sinh biến chứng.

Cách Chữa Bệnh Quai Bị Ở Trẻ Em Ngăn Ngừa Biến Chứng Nguy Hiểm

Căn bệnh có tính lây lan rất nhanh nên rất dễ hình thành ổ dịch bệnh khi người bị bệnh tiếp xúc với nơi đông người.

Mặc dù là căn bệnh phổ biến nhưng ít ai biết rằng quai bị ở trẻ em có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách. Điển hình, bệnh quai bị ở trẻ em có thể gây ra một số hệ quả nghiêm trọng như:

Viêm tinh hoàn

Nhồi phổi máu

Viêm buồng trứng

Tổn thương thần kinh

Sẩy thai hoặc sinh con dị dạng nếu bà bầu mắc bệnh

2. Cách chữa bệnh quai bị ở trẻ em hiệu quả

Cách thực hiện phương pháp này cũng khá đơn giản, các mẹ chỉ cần chuẩn bị 50 – 70 hạt tán vụn đem trộn đều với mật ong nguyên chất thành hỗn hợp sền sệt rồi đắp lên vị trí bị quai bị sưng to và đau. Để mang lại hiệu quả tốt nhất các mẹ nên thay thuốc cho bé mỗi ngày 1 lần vùng sưng tấy sẽ bớt đau và xẹp dần.

Theo y học cổ truyền, hạt gấc có rất nhiều công dụng trị bệnh khác nhau, nhất là trong việc điều trị bệnh quai bị ở trẻ em. Bên cạnh công dụng giảm viêm,. giảm đau giúp trẻ mau khỏi bệnh thì hạt gấc còn có khả năng ngăn ngừa tối đa những biến chứng nguy hiểm mà bệnh quai bị có thể gây ra ở trẻ em.

Đối với phương pháp này các mẹ cần chuẩn bị một mảnh chiếu rách nhỏ cùng 3 hoặc 4 hạt gấc sau đó đem chúng đi đốt cháy thành than và trộn đều lên cùng với dầu vừng thành hỗn hợp sền sệt. Cuối cùng bạn chỉ việc bôi hỗn hợp này lên vùng quai bị sưng đau của bé khoảng hơn 1 tiếng mỗi ngày.

Thực hiện phương pháp này liên tục trong khoảng vài ngày hiện tượng sưng đau sẽ giảm dần.

Cách chữa bệnh quai bị ở trẻ em từ các món ăn hàng ngày

Nhiều người thường quan niệm sai lầm rằng khi bị quai bị cần cho trẻ uống kháng sinh. Tuy nhiên, các chuyên gia về sức khỏe cho biết kháng sinh không hề có tác dụng trong việc tiêu diệt vi rút, chúng ta chỉ cần dùng đến kháng sinh khi có hiện tượng bội nhiễm vi khuẩn .

Đối với những trường hợp trẻ có nguy cơ bị bội nhiễm vi khuẩn chẳng hạn như mắc các bệnh gây suy giảm hệ miễn dịch nên cho bé uống các loại thuốc có tác dụng gây ức chế hệ miễn dịch như Corticoid… thì có thể sử dụng thuốc kháng sinh.

Tuy nhiên, các mẹ cũng không nên cho bé sử dụng thuốc một cách bừa bãi, để đảm bảo an toàn các mẹ nên cho bé đến các cơ sở y tế chuyên nhi khoa để bác sĩ thăm khám tình trạng bệnh cụ thể và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp.

Ngoài ra, khi xuất hiện triệu chứng bệnh quai bị ở trẻ em các mẹ cần cho bé kiêng gió, kiêng nước và không tiếp xúc với nơi đông người cho đến khi bác sĩ kết luận chắc chắn bé có bị mắc quai bị hay không.

Hy vọng rằng những chia sẻ về cách chữa bệnh quai bị ở trẻ em mà evatoday vừa chia sẻ sẽ giúp các bé mau khỏi bệnh và tránh được những biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, trước khi áp dụng các phương pháp này các mẹ nên tham khảo ý kiến của bác sĩ.

Nguồn: Báo EVa

Bệnh Laryngitis: Nguyên Nhân, Biến Chứng Và Cách Điều Trị

Các tên gọi khác của bệnh này:

Thanh quản (còn được gọi là hộp thanh âm) là cơ quan nằm giữa hầu họng và khí quản, chứa các dây thanh âm, các dây chằng và sụn hỗ trợ các dây thanh âm

Triệu chứng

Khàn tiếng, các triệu chứng giống nhiễm trùng đường hô hấp trên như ho, sốt, sưng hạch bạch huyết ở cổ.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử và khám thực thể.

Điều trị

Điều trị bao gồm: nghỉ ngơi, hít thở không khí ẩm, súc miệng với nước muối.

Thanh quản (còn được gọi là hộp thanh âm) là cơ quan nằm giữa hầu họng và khí quản, chứa các dây thanh âm, các dây chằng và sụn hỗ trợ các dây thanh âm. Viêm thanh quản dẫn đến rối loạn chức năng thanh âm tạm thời và khàn giọng. Bệnh thường do virus gây ra và kéo dài nhiều ngày. Nếu khàn tiếng không có dấu hiệu cải thiện trong vòng 2 tuần, cần được khám bệnh và làm các xét nghiệm để loại trừ khả năng Ung thư thanh quản hoặc các rối loạn nghiêm trọng khác.

Triệu chứng

Khàn tiếng, các triệu chứng giống Nhiễm trùng đường hô hấp trên như ho, sốt, Sưng hạch bạch huyết ở cổ.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử và khám thực thể.

Nếu triệu chứng kéo dài, có thể phải soi thanh quản để loại trừ ung thư.

Các xét nghiệm bổ sung có thể được yêu cầu.

Điều trị

Điều trị bao gồm: nghỉ ngơi, hít thở không khí ẩm, súc miệng với nước muối.

Thuốc Steroid được dùng cho các triệu chứng nghiêm trọng.

Kháng sinh thường không có tác dụng vì viêm thanh quản thường do virus gây ra.

Bệnh viêm thanh quản là nguyên nhân phổ biến gây ra tình trạng khản tiếng, mất tiếng. Nếu không được điều trị dứt điểm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, làm thay đổi giọng nói, ảnh hưởng đến công việc, giao tiếp.

Những nguyên nhân như: nói to, nói nhiều, nhiễm lạnh, nhiễm vi khuẩn, virus, thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia, làm việc trong môi trường ô nhiễm,… đều dẫn tới viêm thanh quản.

Uống nhiều nước. Nước giúp giữ cho niêm mạc thanh quản được trơn nhẵn và sạch

Hạn chế rượu và caffein để đề phòng khô họng.

Không để nhiễm lạnh.

Điều trị triệt để các viêm nhiễm vùng hầu họng.

Hạn chế nói nhiều.

Tránh khạc, động tác này khiến dây thanh âm rung bất thường và có thể làm tăng phù nề. Khạc nhổ còn làm cho họng tiết nhiều chất nhày hơn và bị kích ứng hơn, càng làm cho người bệnh muốn khạc nhiều hơn.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Bcare.vn không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Chẩn Đoán Xác Định Và Phân Biệt Bệnh Crohn

Chẩn đoán xác định

Việc chẩn đoán xác định đôi khi phải dựa vào chẩn đoán loại trừ vì nhiều khi không phân định được. Đa số các trường hợp chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh nội soi. Mô bệnh học rất có giá trị nhưng trong hoàn cảnh nước ta hiện nay thì kinh nghiệm chẩn đoán còn gặp nhiều khó khăn.

Chẩn đoán phân biệt

Ung thư đại tràng: loại trừ bằng nội soi đại tràng và xét nghiệm mô bệnh học

Viêm đại tràng do vi khuẩn: biển hiện lâm sảng đột ngột, đi ngoài ra máu, kém theo có hội chứng lỵ cấp, với triệu chứng đau bụng là chủ yếu. Một số trường hợp nặng cũng có thể giống như phình giãn đại tràng nhiễm độc. Chẩn đoán phân biệt bằng cấy phân, soi tìm ký sinh trùng, ELISA tìm amip. Sinh thiết trực tràng trong viêm đại tràng do vi khuẩn thường thấy xâm nhâp nhiều bạch cầu đa nhân trung tính ở niêm mạc, mô đệm và các khe tuyến vẫn giữ được cấu trúc bình thường.

Đối với lỵ trực khuẩn: triệu chứng lâm sàng rầm rộ, cấp tính, sốt, cấy phân có thể mọc Shigella.

Lỵ amip khi soi phân thấy amip thể ăn hồng cầu, ELISA amip dương tính với hiệu giá kháng thể 1/100. Mô bệnh học thấy tinh thể Charcot Leyden với hình ảnh tổn thương viêm cấp tính.

Viêm đại tràng giả màng do độc tố Clostridium dificile: trên hình ảnh nội soi đại tràng thường chỉ có tổn thương ở đại tràng sigma và rất đặc trưng với các mảng màu vàng nhạt, bám rất chặt vào bề mặt niêm mạc đại tràng. Mô bệnh học cho thấy hình ảnh viêm cấp, loét có giả mạc fibrin và chất hoại tử. Bệnh nhân thường có tiền sử dùng thuốc kháng sinh trước đó (trừ metronidazol và quinolon) hoặc nhiễm trùng bệnh viện.

Điều trị kháng sinh đặc hiệu, tổn thương mất đi nhanh chóng

Viêm đại tràng thiếu máu: khởi phát có thể đột ngột

Thường gặp ở người lớn tuổi

Tiền sử hút thuốc lá, đái tháo đường

Có nguy cơ bệnh lý mạch máu kèm theo

Thường đau bụng nhiều ngày.

Hội chứng ruột kích thích: dựa vào tiêu chuẩn đoán Rome II và khi làm nội soi đại tràng không phát hiện thấy tổn thương.

Bệnh lao ruột

Vị trí tổn thương thường ở phần cuối hồi tràng, manh tràng cũng có thể gặp ở khắp đại tràng. Trên hình ảnh nội soi có thể gặp các ổ loét lớn đa dạng về hình thái, có thể gây hẹp đại tràng, cũng có thể gây dò. Viêm u hạt trong lao rất khó phân biệt với Crohn, khi đó cần phối hợp nhiều phương pháp để chẩn đoán như: Cấy phân tìm vi khuẩn lao và nhuộm tìm vi khuẩn kháng cồn toan. PCR lao với mảnh sinh thiết, làm xét nghiệm MGIT.

Điển hình nhất có thể thấy hình ảnh nang lao điển hình với tổn thương: chất hoại tử bã đậu, tế bào bán liên. Với những bệnh nhân nghi ngờ lao có thể tiến hành nội soi và sinh thiết nhiều lần, tìm bằng chứng lao ở các cơ quan khác như phổi. Khi đã làm hết các phương pháp trong điều kiện có thể mà không phân biệt được giữa lao và Crohn thì có thể điều trị như lao sau đó nội soi kiểm tra lại để đánh giá đáp ứng điều trị, thường do lao thì tổn thương nhỏ dần, triệu chứng lâm sàng cải thiện.

Loét dạ dày tá tràng: thường thấy những bệnh nhân này đáp ứng kém với thuốc ức chế bào tiết dịch vị và không tìm thấy bằng chứng của H.pylori và khi sinh thiết thấy tổn thương dạng u hạt. Cần tìm thêm những bằng chứng của tổn thương phối hợp như ở đại tràng và ngoài ống tiêu hóa.

Tổn thương ống tiêu hóa do giun lươn: tổn thương có thể gặp toàn bộ ống tiêu hóa. Các tổn thương là những loét nhỏ được bao phủ lớp giả mạc trắng đục, bơm rửa sẽ lộ ra những tổn thương li ti. Bệnh nhân thường rối loạn tiêu hóa, rối loạn điện giải, nôn, buồn nôn, suy kết, có thể có tổn thương ngoài da dạng ban đỏ. Khi bệnh nhân đến muộn có thể nôn ra dịch màu vàng, mùi thối. Sinh thiết tá tràng thấy hình ảnh ấu trùng giun trong ở lớp dưới niêm mạc.

U ống tiêu hóa: thường gây bệnh cảnh đau bụng, bán tắc ruột. Chụp MSCT ruột non có thể phát hiện ra nhiều khối u ống tiêu hóa. Không có hình ảnh hình ống nước do thành ruột dày lên. Nội soi ruột non sinh thiết có thể giúp chẩn đoán phân biệt.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu: đặc biệt khó phân biệt với thể Crohn đại tràng.

Trong viêm loét đại trực tràng chảy máu tổn thương chủ yếu ở trực tràng và đại tràng sigma, phân thường có máu và thường có hội chứng lỵ kèm theo.

Tổn thương đại tràng trên hình ảnh nội soi thường nông, không tổn thương đến lớp dưới niêm mạc, đặc biệt lớp cơ. Chỉ tổn thương ở đại tràng, tổn thương liên tục không cách đoạn, không có biến chứng dò hay áp xe. Trong viêm loét đại trực tràng chảy máu không bao giờ gây hẹp.

Tổn thương quanh ống hậu môn hiếm gặp trong viêm loét đại trực tràng chảy máu. Phân biệt trên hình ảnh mô bệnh học

chúng tôi

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Crohn Và Cách Ngừa Biến Chứng trên website Sept.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!